Lệ Hà, Mùa Thu (tranh cành khô gắn trên bố 1mx1m)

 

 

 

NGÔ VĂN TAO

Heraclite và Hiện Đại sự

 

tản mạn

 

 

Các nước Đông Á, Đại Hàn, Nhật Bản, Trung Hoa, Việt Nam, hiện thành trong hệ thống tư tưởng "Hoa Hạ" phát triển từ 500 năm trước CN (công nguyên): Đạo Khổng, Đạo Lăo, Đạo Phật. Đạo có nghĩa là con người chỉ là vật thể hiện sinh có lư tính nằm trong mệnh của trời (thiên ư), sự hiện hành tự nhiên của tạo hóa, ngh́n trùng thâm sâu, bất tận huyền bí. Con người làm sao thấu triệt được mệnh trời, nên mọi sự việc, vật thể hay "tâm thức" (spiritual), đều như là vô thường hay bất tất. Tuy nhiên, Đạo cũng là với bản năng của lư tính, con người phải biết t́m sống sao hết ḷng thuận được mệnh trời. Như người "động" th́ có thể dấy lên dục vọng ham muốn, và như thế chỉ là mang tới cho chính ḿnh khổ năo tục lụy; đấy chính là ư của chữ thiền, chữ tĩnh của Đạo Phật. C̣n như cành trúc kia nhẹ nhàng lả lướt trong giông băo, chứ như cây cao đứng giữa trời chỉ càng bị lật đổ và bứt rễ,  Đạo Lăo khuyến cáo vậy với thuyết "vô vi". C̣n Đạo Khổng trọng nhất là nhân sinh quan, con người với gia đ́nh và xă hội, chữ "trung, lễ, nghĩa" chỉ định con người phải biết sống sao gia đ́nh an vui, xă hội ḥa hợp, có trên có dưới, thêm "chính danh" cũng là giúp con người tránh sự dối trá mang tới thù hằn và tội lỗi.

 

Nhưng hiện đại sự (the modernity)  -toàn thế giới ngày nay khoa học và kỹ thuật-  là hệ thống tư tưởng Tây Phương, nhân sinh quan và vũ trụ quan " tư tưởng triết lư tư biện" (the speculative philosophy) bắt nguồn từ Hy Lạp thượng cổ (500 năm trước CN). W.Hegel (1770-1831) cùng những triết gia thế giới hiện đại xác nhận tư tưởng nhân loại khoa học và kỹ thuật, triết luận bản ngă con người, nghệ thuật cá nhân chủ thể, hiện thành từ thuyết Heraclite, tư tưởng gia Hy lạp.

 

Heraclite (520-460 trước CN) hiện sinh vào thời hưng thịnh của văn học và nghệ thuật cổ Hy Lạp, nhưng thoát ly tín ngưỡng đa thần Homeric, với một số ngạn ngữ và châm ngôn đặt ngay vấn đề tạo hóa là sự hiện hành vật thể hay tâm linh (apparent or non-apparent)

 

Theo như khảo cổ, Heraclite chỉ để lại một số phiến bản (fragments), nhưng lại có rất nhiều văn học gia hậu bối lưu truyền đa dạng ngạn ngữ và châm ngôn, cùng thông diễn giải (doxography) ( cf. I*). Đặc biệt như Platon (427-348 trước CN) nhắc nhở và tán đồng một số ngạn ngữ của Heraclite, c̣n Aristote  (384-322 trước CN) th́ nhắc nhở và phản bác. Nhưng cốt yếu là những tư tưởng gia của trường phái Kiên Định Phận (stoicist, như hoàng đế La Mă Marc Aurele,121-180 CN) đă nhận ra Heraclite như hiền giả đề xướng ra Kiên Định Phận. Hơn nữa, những triết gia thiên chúa giáo hội cũng đă nhắc nhở những ngạn ngữ và châm ngôn được lưu truyền từ Heraclite để tư biện dẫn tới "Lời" (the Verb), mở công tŕnh thông diễn giải Cựu Ước và Tân Ước của Công Giáo. Chính nhờ tất cả vậy mà chúng ta có một lư thuyết Heraclite hoàn tất, cơ sở tư tưởng ngày nay trong Hiện Đại Sự.

 

Mặc dù thiên chúa giáo hội học gia chỉ dẫn nhiều đến Heraclite, thuyết Heraclite cốt yếu là thế tục (secular, trong cái nghĩa của Spinoza hay của Rousseau), không nói tới thần tiên, "thượng đế" mà chỉ đặt vấn đề "tạo hóa", hiện hành vật thể và tâm linh.

 

Mở đầu hết là tư tưởng tư biện khoa học, mà Heraclite nói ra với ngạn ngữ:

 

"Không ai tắm hai lần một con sông"

 

hay rơ hơn:

 

"Những ai đi t́m tắm lại một con sông, họ đă không c̣n là người xưa và nước xưa cũng đă trôi qua"

 

Tất cả phải thông hiểu rằng tạo hóa là muôn sự đều hiện thành biển chuyển và di động (the mobilism). Như tiên đoán thuyết "tương đối" của Einstein, mọi sự vật đều có đường sống của chính nó. Và hơn nữa như tiên đoán khoa học t́m ra năng lượng của hạt nhân cơ bản tràn đầy vũ trụ, chúng ta c̣n có ngạn ngữ như sấm (oracle) Heraclite:

 

"Tạo hóa là sự hiện thành biến chuyển và di động của mọi sự vật với lửa".

 

Mọi vật hiện thành biến chuyển và di động, nhưng không phải là hỗn độn (the chaos). Hiện thành như cùng trong một ḥa nhịp hoàn vũ (an universal harmony). Trong một bản thể tuần hoàn (a self ontological cycle), khi trắng khi đen (in a succession of contrarities), như đêm và ngày qua năm tháng, như cây kia mới chết trở về đất đen nhưng từ một nhánh rễ, một hạt mầm rụng rơi một thân cây cùng loại lại lên chồi. Tạo hóa hiện hành với một logos (thiên lư tuệ), trên một nguyên lư, nguyên lư năng lượng của lửa.

 

Từ những nhận định tư biện khoa học đó, những triết gia kiên định phận thông diễn giải nhận ra Heraclite đă có một nhân sinh quan, mà bây giờ chính là nền tảng triết lư nhân sinh ở ngay Hiện đại sự (the primary humanism in Modernity).

 

Tạo hóa với thiên lư tuệ (logos), mọi sinh vật hầu như tiềm ẩn một phần thiên lư tuệ. Như những con chim kia cùng nhau đua hót đón nắng đầu xuân. Như bầy cá hồi từ ngh́n trùng biển cả sau cùng hết vẫn biết trở về ngọn suối của sinh thời, để bầy cá cái để lại muôn ngh́n hạt trứng, bầy cá đực tiết dương tinh khí cho hạt trứng thụ tinh, nẩy nở ngàn ngàn cá linh tinh cùng trôi theo gịng suối để vẫy vùng trong biển cả, duy tŕ ṇi giống. Mà con người tuyệt đối nhất, với thiên lư tuệ là hiện sinh vật có lư tính, nhận thức, đam mê, thông cảm, có khoa học, có triết lư và có nghệ thuật. Thế giới hiện sinh của mỗi người là tạo hóa thu gọn qua cảm thức  lư tính thành một vũ trụ bản ngă chủ thể (the world is the world of his opinion, the living world of his ego, cf. I*).

 

Con ngươi với lư tính, sống như chủ thể một kiếp sống, không thể là một bộ máy rập khuôn, chỉ biết cảm nhận theo định mệnh (fatalism); thế giới hiện sinh của mỗi người có chiều sâu chiều rộng, có phút thăng hoa, có chân trời khát vọng, đam mê, khắc khoải và yêu thương tùy theo lư chí và suy tư. Nói một cách khác, mỗi người đều tiềm ẩn một lư chí, một suy tư xa hay gần với con người đầy nghị lực của Nietzsche hướng tới chân trời bản ngă siêu nhân, và với hiện sinh bản thể của Heidegger, có tâm tư và cảm thức để thu nhận và ḥa nhịp sự thăng trầm tạo hóa hiện hành muôn sự vật.

 

Mọi vật đều di động biến chuyển, nhưng đều nằm trong một nguyên sự, để thay biến trong một lẽ tuần hoàn vượt không gian và thời gian. Nước sông không bao giờ đứng lại, nhưng vẫn là gịng nước của một con sông đă có từ ngàn năm. Hiện đại sự là con người đă cải cách toàn diện đời sống của ḿnh, những tập quán hôm qua đều trở nên lac hậu, nhưng con người, hiện sinh với lư tính, dưới con mắt của những triết gia hiện đại như Nietzsche, như Heidegger, bản chất vẫn là con người của lư thuyết Heraclite.

 

Đó là con người tự do, suy tư, tích cực sống ích cho ḿnh và cho xă hội. Ḥa đồng với tha nhân nhưng không ngại đối nghịch, kiên quyết với lập trường bản ngă nhưng tự trọng và hiểu biết. Tự trọng tức là không tự dối ḿnh, hiểu biết để luôn luôn sẵn sàng nhận ra lẽ phải của tha nhân và cả những lỗi lầm của chính ḿnh.

 

Muốn vậy, con người sẽ luôn luôn tự thông giải chính ḿnh. Tự biết những hạn chế của bản thân. Trước những thiên tai, những bất tất (như bệnh tật, chiến tranh loạn lạc) ngoài tầm lư chí của ḿnh, con người cũng sẽ biết tự khép lại, kiên định phận và kiêu hùng t́m ra nguồn vui và lẽ sống.

 

Sau cùng hết, như trong hiện đại sự, xă hội rộn ràng huy động, truyền h́nh b́nh dân túy, chi phối bởi kỹ thuật tiện nghi và máy móc vật chất, con người của thuyết Heraclite, con người tiềm ẩn ở trong lư tính của mọi người, chính là cái khả năng bản ngă biết tự tại an nhiên, suy tư nh́n lại chính ḿnh và trời đât, t́m hiểu sâu xa hơn nữa, khát khao ra khỏi những đường rầy, những hệ lụy và những ư thức bóng bẩy mụ đời..

 

tháng 12/2015

Ngô Van Tao

I*) Heraclite, fragments (citations et témoignages)

Jean -François Pradeau, édition GF Flammarion-France

 

http://www.gio-o.com/NgoVanTao.html

 

© gio-o.com 2015