Mă Hoan

 

 

KHẢO SÁT TỔNG QUÁT

CÁC BỜ ĐẠI DƯƠNG,

VỚI PHẦN CHÚ GIẢI

 

 

Ngô Bắc dịch

 

 

Sơ Lược Về Tác Giả Và Tác Phẩm

 

     Các chi tiết về tác giả Mă Hoan [có nơi dịch là Mă Huân?] và tác phẩm Ying-Yai Sheng-Lan: Doanh Nhai Thắng Lăm (Khảo Chú Tổng Quát Các Bờ Đại Dương) dưới đây đều được trích dịch từ bản dịch sang tiếng Anh của J. V. G. Mills, xuất bản cho Hiệp Hội Hakluyt Society bởi Cambridge University Press, London năm 1970.

 

 

Về Tác Giả  Mă Hoan

 

     Chúng ta chỉ biết rất ít về Mă Hoan, qua ấn bản quyển Ying-yai Sheng-lan: Doanh Nhai Thắng Lăm được ấn hành bởi Feng Ch’eng-chun.  Gia đ́nh họ Mă sống tại huyện Kuei chi, thuộc thành phố Shao hsing, cách Hàng Châu khoảng 24 dậm phía đông nam và cách bờ phía nam của vịnh Hàng Châu khoảng bảy dậm, một trong những trung tâm hàng hải chính yếu trong thời đại của ông.

 

     Ông được ước đoán sinh ra khoảng năm 1380, tự xưng một cách nhún nhường là một tiều phu vùng núi, có lẽ để chỉ nguồn gốc địa vị xă hội khiêm nhường của gia đ́nh ông.  Ông phải được nhận một nền giáo dục tốt, bởi trong sách ông viết có trích dẫn kinh điển, và ông có hay biết về nội dung quyển Tao-I chih-lueh của Wang Ta-yuan, về kinh sách Trung Hoa, và “kinh sách đạo Phật”, và tác giả Pelliot xem ông hoàn toàn có khả năng viết ra Lời Đề Tựa năm 1416 cùng Bài Thơ Dẫn Nhập, mặc dù văn phong của ông th́ đơn giản và không văn hoa.  Ở một nhật kỳ không được biết rơ, ông đi theo đạo Hồi, và có tự danh là Tsung-tao.

 

     Ông chắc hẳn phải là một kẻ thông thạo tiếng Ả Rập hay Ba Tư để được bổ nhiệm làm thông dịch viên chính thức cho Trịnh Ḥa khi vị đại thái giám này nhận được lệnh chỉ huy một đoàn viễn chinh trong năm 1412 là đoàn lần đầu tiên đi măi đến tận Hormuz (Ba Tư).  Đây là chuyến du hành hải ngoại đầu tiên trong ba chuyến mà Mă Hoan đă tháp tùng đại thái giám Trịnh Ḥa.

 

     Mă Hoan và đồng sự của ông, Kuo Ch’ung-li đă thực hiện các cuộc du khảo địa phương tại các lănh thổ mà họ đến thăm viếng, ghi chép lai tất cả những ǵ họ đă thấy.  Các địa điểm quan trọng nhất trong cuộc viễn chinh 1413-1415 là xứ Chàm, Java, Palembang, Malacca, Semudera, Ceylon, Calicut, và Hormuz.

 

     Trở lại Trung Hoa trong năm 1415, Mă Hoan tức thời sắp xếp thành một quyển sách các ghi chú mà ông và đồng sự Kao Ch’ung-li đă biên chép trong cuộc du hành, và ông đă hoàn tất quyển sách, viết Lời Đề Tựa và Bài Thơ Dần Nhập trong năm 1416, và trở thành kẻ đầu tiên trong số các phụ tá của Trịnh Ḥa khởi sự viết các tài liệu về nước ngoài.

 

Bản đồ Nam Á Châu – Lộ tŕnh chuyến viễn thám lần thứ 7 của Trịnh Ḥa,
từ tháng 1 năm 1431 đến tháng 7, 1433.

 

 

     Chúng ta không biết lư do tại sao Mă Hoan không đi theo cuộc viễn chinh năm 1417-19; nhưng ông có tháp tùng chuyến thám hiểm thứ sáu năm 1421-2, thăm viếng, ngoài các nơi khác, Malacca, Semudera, Ceylon, Calicut, và Hormuz, và có thể cả Dhufar và Aden. Đây là cuộc du hành thứ nh́ của Mă Hoan, và sau khi trở về, ông có thể đă bổ túc vào quyển sách của ông các phần mô tả về Dhufar và Aden.  Ở lúc nào đó sau năm 1424, ông đă kiểu chính lại miếu hiệu của vua Thành Tổ sau khi mất, thành Thái Tông Văn Hoàng Đế.  Trong năm 1424, vua Minh Nhân Tông đă bác bỏ mọi cuộc viền chinh, nhưng đến năm 1430, vua Minh Tuyên Đức lại ra lệnh cho Trịnh Ḥa thực hiện cuộc viễn chinh thứ bảy và sau cùng của ông này (1431-3) và Mă Hoan một lần nữa, tháp tùng theo Trịnh Ḥa.

 

     Trong dịp này, Mă Hoan đă du hành trong một đoàn tàu biệt phái dưới quyền chỉ huy của

thái giám Hung Pao, đi thẳng từ Trung Hoa đến Bengal, nơi ông đến thăm viếng trong nửa đầu tiên của năm 1432, đă du hành từ Chittagong đến Sonargaon gần Dacca, và từ đó lên kinh đô, khi đó ở Gaur.  Từ Bengal, họ trương buồm đi tới Calicut, và Mă Hoan có thể là một trong bảy sứ giả Trung Hoa được phái bởi thái giám Hung Pao đi từ Clicut đến Mecca; bởi, như một tín đồ đạo Hồi, Mă Hoan sẽ phải cảm thấy bị thôi thúc để làm một cuộc hành hương về thánh địa; ông mô tả Mecca trong quyển sách của ông, và trong Lời Đề Tựa, là phần ông có thể sửa đổi nếu cần.  Ku P’o trong Lời Đề Bạt tuyên bố rằng Mă Hoan có đến thăm viếng Mecca.  Các chi tiết chính xác trong quyển sách cho thấy Mă Hoan có thực sự đến nơi đó.  Mă Hoan được phỏng đóan là đă rời Calicut vào khoảng tháng Bẩy năm 1432, đên Mecca vào khoảng tháng Mười năm 1432, đă ở đó khoảng ba tháng cho đến khoảng tháng Một năm 1433 và quay về Calicut để kịp nhập với đoàn thuyền của Trịnh Ḥa nhổ neo từ đó vào ngày 9 tháng Tư.  Đây là chuyến đi thứ ba và cuối cùng của Mă Hoan, và có thể trong chuyến này ông đă viếng thăm Dhufar và Aden.  Hai tác giả các quyển du kư cùng thời,  Kung Chen và Fei Hsin, cũng đă cùng phục vụ trong cuộc viễn chinh trong các năm 1431-3 này.

 

     Mă Hoan chưa bao giờ đến vùng Đông Phi Châu, nhưng ông tuyên bố đă thăm viếng hai mươi xứ sở ở Á Châu; mười hai xứ đă được đề cập tới, và Aru, Lambri, Cochin, và quần đảo Maldives có thể đă được thăm viếng hoặc trong cuộc viễn thám năm 1414-15 hay 1421-2.  Nhưng chúng ta không có các thời điểm rơ ràng khi ông đến thăm viếng bốn xứ c̣n lại, tức Thái Lan, Nagur, Lide và Quilon.

 

     Sau khi trở lại Trung Hoa trong năm 1433 Mă Hoan đă ghi thêm vào quyển sách của ông phần tŕnh bày về Mecca, có thể, cả phần về Dhufar và Aden, và đề cập đến các quan hệ với Palembang trong các năm 1424 và 1425.  Bạn của ông, Kuo Ch’ung-li, đă cộng tác với ông trong việc chuẩn bị cho quyển sách, nhưng Mă Hoan luôn luôn là người kư tên trên các văn liệu, nhiều phần là v́ ông chính là kẻ biên soạn lại các ghi chép của chính ông và đồng sự Kuo Ch’ung-li.  Chúng ta có thể giả định rằng quyển Ying-yai sheng-lan: Doanh Nhai Thắng Lăm đă hoàn tất bản thảo cuối cùng của nó vào khoảng năm 1434-6 bởi v́ trong năm 1434 Kung Chen đă viết Lời Đề Tựa cho quyển sách gần như đồng nhất của ông ta nhan đề His-yang fan-kuo chih, và trong năm 1436, Fei Hsin cũng đă viết Lời Đề Tựa cho quyển Hsing-ch’a sheng-lan của ông ta.  Rất có thể là bản thảo của Mă Hoan, cũng như của Fei Hsin, đă được “lưu hành”, và việc này có thể là nguyên do tại sao có sự hiện hữu của các bản sao chép khác nhau.

 

     Chúng ta phỏng định rằng Mă Hoan và Kuo Ch’ung-li đă cố gắng để ấn hành quyển sách trong năm 1444, và v́ thế, đă có Lời Đề Tựa của Ma Ching được viết ra trong năm này.  Sau cùng, Kuo Ch’ung-li, xuyên qua người bạn tên Lu T’ing-yung, cậy nhờ được viên thư kư hoàng triều, Ku P’o, viết cho Lời Đề Bạt, và quyển sách đă được in ra, theo tác giả Pelliot, vào năm 1451.  Tuy nhiên ấn bản này đă bị biến mất từ lâu.  Mă Hoan từ trần, theo sự phỏng đoán, vào khoảng năm 1460, và bất kể các lời tán dương đến lợm giọng của Ma Ching và Ku P’o, quyển sách của ông không hề được t́m đọc rộng răi, và ông chưa bao giờ trở thành kẻ nổi tiếng, và ông đă bị lăng quên cho đến măi năm 1773, khi thư viện hoàng gia của vua Càn Long được thành lập.

 

     Chúng ta không thể thu lượm nhiều thông tin về Mă Hoan như một con người.  Ông khó có thể thoát khỏi, trước tiên, cảm tính vô thức về sự khinh thường mà người Trung Hoa hay dành cho dân “man rợ”; và đầu óc ông quá chật hẹp để tin tưởng các câu chuyện kỳ diệu được thuật lại bởi Wang Ta-yuan.  Nhưng ông đă thẳng thắn thừa nhận rằng ông đă thay đổi các quan điểm của ḿnh; và ông đưa ra nhiều nhận định tán thưởng về dân chúng và các sự việc mà ông đă quan sát.  Ông có vẻ là người có đầu óc đơn giản, ông chán ghét bạo động, và lấy làm kinh hăi về sự phổ biến của án tử h́nh tại Java.

 

     Như độc giả thường hay chờ đợi ở các nhà du kư, ông đă vun xới một tinh thần t́m ṭi “vài điều mới lạ”, và nhờ thế, ngoài các vấn đe6` quan trọng hơn, ông ghi lại cho chúng ta nhiều về phong tục và các chuyện truyền khẩu như chuyện về thánh Moses và chuyện con ḅ vàng tại Calicut, cũng như các sự mô tả về các sản vật khác thường như quả mít, sầu riêng, và xoài trong thực vật, và các con tê giác, ngựa vằn, và hươu cao cổ trong số các động vật.  Ở một vài khía cạnh ông lại quá cả tin, như khi ông tŕnh bày, với tất cả sự nghiêm chỉnh, về ma cà-rồng hút máu người tại xứ Chàm, và về ma hổ tại Malacca.  Ở các khía cạnh khác, một lần nữa, các nhà b́nh luận thấy thật khó khăn để phân biệt giữa sự kiện với truyền thuyết; thí dụ, khi Mă Hoan thuật lại tục lấy mật người tại xứ Chàm, hay lai lịch của “ông già đánh cá” tại Semudera.  Nói chung, Mă Hoan xem ra đă có được sự phán đóan công bằng và không có thành kiến.

 

 

Các Ấn Bản C̣n Lại Đến Nay

 

     Ấn bản chính gốc năm 1451 đă biến mất từ lâu, sự hiểu biết của chúng ta về quyển sách của Mă Hoan giờ đây dựa vào ba sao chép từ ấn bản in thời nhà Minh, được gọi là các ấn bản C, S và K.

 

Ấn bản C

 

     Ấn bản được sử dụng chính yếu nơi đây xuất hiện trong một tuyển tập nhan đề Chi-lu hui-pian (Tuyển Tập Các Tài Liệu Ghi Chép), ấn hành bởi Shen Chieh-fu vào khoảng năm 1617.  Quyển Ying-yai sheng-lan: Doanh Nhai Thắng Lăm gồm 47 tờ nằm trong chương 62, gôm cả Lời Đề Tựa của Mă Hoan viết năm 1416, Bài Thơ Dẫn Nhập, và Lời Đề Bạt của Ku P’o năm 1451.  Bản này có nhiều chỗ sai lầm và thiếu sót.

 

Ấn bản S

 

     Ấn bản thứ nh́ sử dụng nơi đây xuất hiện trong một tuyển tập có nhan đề Sheng-ch’ao i-shih (Các Biến Cố Lịch Sử của Thời Cuối Triều Đại), được ấn hành bởi Wu Mi-kuang trong năm 1824, gồm 48 tờ trong Chương 1.  Bản văn này được tu chỉnh và hoàn tất trong năm 1883 bởi Sung Tse-yuan.  Nó không có Lời Đề Tựa, Bài Thơ Dẫn Nhập, và Lời Đề Bạt và c̣n có nhiều sai lầm hơn cả ấn bản C.

 

Ấn bản K

 

     Ấn bản thứ ba được dùng nơi đây xuất hiện trong một tuyển tập nhan đề Kuo-ch’ao tien-ku (Các nguyên tắc văn học của một triều đại), biên tập bởi Chu tang-mien, có niên kỳ không rơ nằm trong khoảng từ năm 1451 đến 1644.  Ấn bản này không có Lời Đề Tựa, Bài Thơ Dẫn Nhập hay Lời Đề Bạt.  Ấn bản có nhiều sự sai lầm hơn cả ấn bản S, nhưng có một vài nơi dễ đọc hơn cả ấn bản C hay ấn bản S.

 

     Các phần chú thích đều có ghi thuộc ấn bản tương ứng nào, khi cần.

 

     Về phần phân tích nội dung quyển sách va so sánh với các tác phẩm tương tự cùng thời, xin xem ở một bản dịch với nhiều chi tiết hơn, sẽ được công bố sau. Các phần được dịch dưới đây gồm;

    

1.    Lời Đề Tựa của Mă Hoan, viết năm 1416

2.    Lời Đề Tựa của Ma Ching, viết năm 1444

3.    Bài Thơ Dẫn Nhập của Mă Hoan

4.    Tên các nước được tŕnh bày trong quyển sách của Mă Hoan

5.    Phân viết về cuộc thăm viếng Xứ Chàm của Mă Hoan.

6.    Lời Đề Bạt của Ku P’o, viết năm 1451.

         

***

 

 

I. LỜI ĐỀ TỰA CỦA MĂ HOAN NĂM 1416 1

 

 

ĐỀ TỰA 2

 

 

Tôi có lần nh́n thấy quyển [sách gọi là “Tập Tài Liệu Về Các Ḥn Đảo và Cư Dân Mọi Rợ Của Chúng”, 3 có ghi chép các sự biến đổi mùa và khí hậu, và các sự khác biệt trong địa thế và dân chúng.  Tôi lấy làm ngạc nhiên và nói: “Làm sao lại có nhiều sự bất đồng đến thế trong thế giới?”

 

Trong năm thứ mười một [thời] Vĩnh Lạc, 4 [tức] năm Quư Tỵ 5 [năm theo chu kỳ] [cyclic year: năm tính theo 10 Thiên can và 12 Địa Chi trong lục tuần hoa giáp, 60 năm một chu kỳ, chú của người dịch], Thái Tông Văn Hoàng Đế (The Grand Exemplar The Cultured Emperor) 6 ban một sắc dụ hoàng triều rằng vị chính sứ đại thái giám Trịnh Ḥa (Cheng Ho) đảm nhận quyền tổng chỉ huy các thuyền ngân khố 7 và đi đến các nước ngoài khác nhau 8 tại Tây Dương 9 để tuyên đọc các mệnh lệnh của hoàng đế và ban thưởng các tặng phẩm.

    

Tôi cũng được phái đi với tư cách thuộc viên để thông dịch các văn kiện ngoại quốc. 10  Tôi đi theo [sứ bộ] đến bất kỳ nơi nào phái bộ đi đến, 11 băng qua các giải nước bao la của các triều sóng khổng lồ mà tôi không biết chạy dài bao nhiêu triệu hải li; tôi đă đi qua nhiều xứ sở, có các mùa, khi hậu, địa thế và dân cư [khác nhau]; và tôi đă nh́n [các xứ sở này] tận mắt và tôi đă tự thân len lỏi [qua các xứ sở này].  Sau đó tôi hiểu được rằng các sự phát biểu trong“Tập Tài Liệu Về Các Ḥn Đảo và Cư Dân Mọi Rợ Của Chúng” không phải là các sự bịa đặt, và rằng c̣n có nhiều điều kỳ thú hơn thế hiện hữu.

 

H́nh vẽ thuyền của Trịnh Ḥa

 

     V́ thế tôi đă thu thập [các ghi chú về] h́nh dáng 12 của dân chúng tại mỗi xứ sở, [và về] các sự biến đổi 13 của các phong tục địa phương, cũng như [về] các sự khác biệt trong các sản phẩm tự nhiên, và [về] các biên giới.  Tôi đă sắp xếp [các ghi chép của tôi] theo thứ tự sao cho thành một quyển sách, mà tôi đặt nhan đề là “Khảo Sát Tổng Quát Các Bờ Đại Dương (Doanh Nhai Thắng Lăm: Ying-yai sheng-lan chiao-chu: The Overall Survey of the Oceáns Shores).  Nó giúp mang lại cho một độc giả quan tâm một cái nh́n tóm lược để học hỏi mọi sự kiện quan trọng về nhiều nước khác nhau cà đặc biệt người sẽ nh́n thấy làm sao mà ảnh hưởng văn minh của Hoàng Đế lại được tỏa rộng trên một tầm mức chưa từng có trong các triều đại trước đây. 14

 

     Nhưng tôi lấy làm xấu hổ về sự nông nổi của tôi, [bởi tôi] chỉ là một kẻ ngây ngô, được may mắn tháp tùng sứ giả nhà vua, và [đi] cùng với với vị sứ giả, đă tạo ra quyển “Khảo Sát Tổng Quát” này.  Thực là kỳ diệu [như chuyện chỉ xảy ra một lần] trong một ngh́n năm.  Về quyển sách này, trong việc h́nh thành các ư tưởng và tự diễn đạt bằng ngôn ngữ, tôi không có khả năng dùng các lời lẽ văn hoa, nhưng tôi chỉ viết ra bằng ng̣i bút chân thực và không có ǵ khác nữa. [Tôi hy vọng rằng] độc giả sẽ không chê cười về sự thô thiển trong văn phong của nó.

 

     Bản [văn] này sẽ được dùng làm Lời Tưa.

 

     Ngày may mắn của tháng trăng vàng h́nh chén (yellow cup moon), năm thứ mười bốn (năm Bính Thân của ṿng lục tuần hoa giáp) thời vua Vĩnh Lạc, [triều đại] Đại Minh. 15

 

     Viết bởi Mă Hoan, tiều phu miền núi, huyện Kuei-chi. 16

 

 

----

 

CHÚ THÍCH:

 

1.      Tựa đề này không xuất hiện trong quyển sách của tác giả họ Feng.

2.      Dịch sát nghĩa, “Cáo Tri, Thông Báo: Notice”.  Một phiên bản của Lời Đề Tựa này được ấn hành trong quyển của Rockhill, Part II, trang 72.  Lời Đề Tựa này không thấy có trong bản in S tại Paris và trong bản in K tại Thư Viện Quốc Gia Bắc Kinh; Tác giả Feng có giới thiệu một số bài đọc trong ấn bản S của ông và từ MS [?] vô danh nhan đề “San pao cheng-I chi” [Tuyển tập [các bài viết] về Các Cuộc Chinh Phục Dân Man Rợ của Sun pao”, ǵ đây chỉ c̣n được biết đến qua một lời đề tựa; xem Pelliot, “Encore”, trang 211.

3.      Tao-I chih; có nghĩa Tao-I chih-lueh, “Một Sự Tường Tŕnh Khái Quát Về Các Ḥn Đảo và Các Dân Mọi Rợ Của Chúng: A Synoptical Account of the Islands and their Barbarians” (1350) của Wang Ta-yuan; nhiều trích đoạn của quyển sách này đă được ấn hành bởi tác giả Rockhill, Part II, trang 61.

4.      Đế hiệu trị v́ hay niên hiệu của vị hoàng đế có “tên thế miếu” là Thái Tông Văn Hoàng Đế: T’ai-tsung” đă được sửa thành Thành Tổ (Ch’eng-tsu) năm 1538 [?].

5.      Năm 1413.

6.      Thái Tông Văn Hoàng Đế (T’ai-tsung Wen Huang-ti), tước hiêu sau khi mất của vua Vĩnh Lạc, phong vào ngày 2 tháng Mười năm 1424; Mă Hoan hẳn đă phải sửa lại Lời Đề Tựa này, do ông đă viết khởi thủy trong năm 1416 (Pelliot, “Voyages”, trang 217).

7.      Một từ ngữ kỹ thuật cho các chiếc tàu thuộc các hạm đội hoàng gia được phái đi bởi vua Vĩnh Lạc và Tuyên Đức (Hsuan-te) [nhằm t́m gom] các đá quư từ biển phía tây” (Pelliot, “Voyages”, trang 235, n. 1; Duyvendak, “Dates”, trang 388.

8.      Mă Hoan dùng từ “ngoại quốc” theo ba ư nghĩa: (a) như ở đây, không phải là Trung Hoa, (b) liên quan đến xứ sở mà ông đang tŕnh bày, (c) liên quan đến xứ sở khác hơn nước mà ông ta đang mô tả; nhưng khung cảnh cho phép ư nghĩa được thông hiểu không mấy khó khăn.

9.      Nơi đây là một sự mô tả mơ hồ về vùng mà người Trung Hoa khi đó nh́n như “Tây Phương” nói chung, có nghĩa, phần của thế giới nằm phía tây của Biển Nam Hải (Pao Tsen-peng, các trang 32-3).

10.  Giả định là Mă Hoan có sự hiểu biết về văn tự Ả Râp.

11.  Do đó chuyến du hành đầu tiên của Mă Hoan được thực hiện với cuộc viễn chinh lần thứ tư của Trịnh Ḥa trong các năm 1413-15.

12.  Dịch sát nghĩa “sự xấu xa hay nét đẹp”.

13.  Dịch sát nghĩa, “điểm dị biệt hay tương đồng”.

14.  Trong mắt nh́n của người Trung Hoa, các sứ giả dân man rợ, bị lôi cuốn một cách không kháng cự được bởi nền văn minh Trung Hoa, “đă đến để được chuyển hóa” và các xứ sở của họ được xếp vào các nước triều cống; trong thế kỷ thứ mười hai, các triết gia tân Khổng học đă khai triển một tín điều liên quan đến các quan hệ nước ngoài, sự triều cống và mậu dịch; nhưng lư thuyết này đă bị sụp đổ khi các hạm đội mậu dịch Trung Hoa đi đến các nước ngoài.  Xem Fairbanks và Teng, các trang 138, 140, 204, 205.  Trong thế kỷ thứ mười lăm, như thể hiện từ các tài liệu được phiên dịch nơi cuộc nghiên cứu này, Mă Hoan, Ma Ching và Ku P’o tán dương hành động của vị hoàng đế trong việc chấp thuận đề xuất và mở rộng ảnh hưởng “uy đức” của nhà vua đến các dân tộc mọi rợ.

15.  Là ngày 19 tháng Mười Một năm 1416.  Bởi thế, Mă Hoan đă khởi sự viết bản thảo đầu tiên cho quyển sách của ông mười bốn tháng sau khi có sự trở về của cuộc viễn chinh lần thứ tư của Trịnh Ḥa.  “Ngày lành: lucky day”, chi tan (Từ Điển Giles, các số 909; 10,633), theo như quyển Tz’u-hai (phần về chữ chi), giống như các chữ shao jih (Từ Điển Giles, các số 10,176; 5642), có nghĩa, ngày đầu tiên của mặt trăng.  “Mặt trăng vàng h́nh cái chén (yellow cup moon: huang chung yueh: hoàng chung nguyệt) (Từ Điển Giles, các số 5124; 2891; 13,768), theo từ điển Tz’u-hai (tra phần chữ huang), có cùng nghia như chữ “mặt trăng vàng h́nh quả chuông, có nghĩa, tháng Mười Một; tra chữ chung (Từ Điển Giles, số 2893).

16.  Kwei chi (Hwui-ki) là một huyện: hsien (district) cùng với huyện Shan-yin hisen thành thủ phủ của thành phố Shao-hsing (Shau-hing) [Thiệu Hưng?], cách Hàng Châu khoảng hai mươi sáu dậm phía đông nam, thuộc tỉnh Triết Giang (Playfair, các số 3469; 5462). Các ấn bản C và K sử dụng từ chi (Từ Điển Giles, số 877) một cách không đúng cách cho chữ chi (Từ Điển Giles, số 884)./-

 

***

 

II. LỜI ĐỀ TỰA CỦA MA CHING NĂM 1444 1

 

 

ĐỀ TỰA 2

 

 

     Trong thời xa xưa, khi Hsiao Ho (Tiêu Hà?] tiến vào ải biên giới, ông chỉ thu nhận các bản đồ và các sổ sách tài liệu; 3 [và] khi Hsuan-ling chinh phục thành phố, ông chỉ cho tập họp các nhân sự. 4  Các sử gia đă viết về họ -- và với đầy đủ sự minh chứng.

 

     Thật là huy hoàng để suy tưởng về phương thức mà cả Thái Tông Văn Hoàng Đế 5 và Tuyên Tông Ḥang Đế 6 của chính triều đại chúng ta đều đă ra lệnh cho đại thái giám Trịnh Ḥa chỉ huy các anh hùng và vượt qua các đại dương 7 … và trao đổi mậu dịch với nhiều dân tộc ngoại quốc khác nhau.  Những con người tuyệt vời [như thế], các chiếc tàu và tay chèo vững mạnh [như thế], sự tinh thông khả năng kỹ thuật [như thế] – không có điều nào [như thế] lại đă hiện hữu trong các thời đại trước đây.

 

     Nhưng [chắc chắn] trong thâm tâm của ḿnh, hai vị Hoàng Đế oai nghiêm thực sự không muốn khoa trương để khiêu khích các cuộc tranh chấp sâu rộng tại các vùng đất xa xôi?  Bởi v́ uy danh của họ [đă sẵn] vươn tới các sắc dân mọi rợ ở phương nam và phương bắc, 8 khiến cho mọi người có tâm hồn khắp nơi trên thế giới, bất luận là ngu đần hay tỉnh táo, sẽ được thuấn nhuần đức độ và ảnh hưởng khai hóa của họ, sao cho mọi người sẽ đều biết đến vị Hoàng Đế của họ và tôn kính cha mẹ họ .

 

     Trong số các người nhận được lệnh và đă ra đi, tôi không rơ đă có bao nhiêu triệu người; nhưng các người đă thi hành bổn phận của họ và tuyên đọc các mệnh lệnh của hoàng đế – họ là những ai ngoài ngài Mă Tsung-tao của huyện Shan-yin? 9 Vị quân tử với khả năng vượt bực này, sau khi nhận được sự bổ nhiệm đầu tiên, đă vượt đại dương ba lần; 10 ông đă du hành xuyên qua mọi nước ngoài; [và] ông đă cầm giữ vàng, lụa, và các đồ vật quư báu mà không hề có một phần tư lợi nào cho chính ḿnh.

 

     Vào khi trở về, ông đă biên soạn một bộ sách duy nhất [nhan đề] là Doanh Nhai Thắng Lăm Khảo Chú: Ying-yai sheng-lan chiao-chu.  Nó ghi chép các khoảng cách đến lănh địa của các sắc dân man rợ vùng hải đảo, 11 các vật trao đổi tại các quốc gia, các địa điểm giáp ranh với các biên giới, và sự sắp xếp các thành phố và các ngoại ô, với các sự khác biệt về y phục, nhiều món thức ăn, các sự trừng phạt và ngăn cấm, luật pháp và quy lệ, thuế quan và các sản phẩm. 12  Không có điều ǵ bị bỏ sót, không được ghi chép; 13 bởi v́ đó là chủ đích của bực quân tử này, [và] toàn thể ước nguyện của ông, nhằm giúp cho các người trong tương lai, cho cả ngàn năm sau này, nhận thức ra được đường lối của đất nước chúng ta là ḥa hợp với thiên nhiên và rằng chúng ta đă đạt được tới mức độ thành công này trong việc khai hóa các sắc dân mọi rợ ở phương nam và phương đông.

 

     Các quyển sách vĩ đại [được viết] bởi các sử gia của các thời đại khác, khi biểu lộ các ước vọng của bực quân tử [này], sẽ nêu tên tuổi ông cùng với cùng với tên tuổi của các nhân vật như ông Hsiao [Ho] và Fang, như là bất diệt. 14 Trong thực tế, ông không phải là nhân vật đáng ghi nhớ hay sao?

     Ngày trước (tháng) trăng mùa hoa cúc, năm [theo lục tuần hoa giáp] Giáp Tí (chia-tzu), thời trị v́  Chính Thống (Cheng-t’ung). 15

    

Viết bởi Ma Ching 16 người huyện Ch’ien tang [Tiền Đường?]. 17

 

-----

 

CHÚ THÍCH

 

1.      Tựa đề này không có trong quyển sách của Feng.

2.      Dịch sát nghĩa, “Cáo Tri, Bố Cáo”.  Lời Đề Tựa này không có trong ấn bản C, của S, hay trong ấn bản Thư Viện Quốc Gia tại Bắc Kinh của K; nhưng nó được t́m thấy trong bản sao thuộc Thư Viện Đại Học Columbia của K và trong bản sao được sử dụng bởi Feng.  Rơ ràng là Lời Đề Tựa này chưa từng được phiên dịch sang Anh ngữ trước đây.

3.      Hsiao Ho [Tiêu Hà?] là một bạn thân và cố vấn của Liu Bang (Lưu Bang) (sau này trở thành Hán Cao Tổ , vị hoàng đế đầu tiên của nhà Hán), một vị chỉ huy hàng đầu các lực lượng của nước Ch’u (Chu); khi các lực lượng này trong năm 207 trước Công Nguyên, chiếm đóng Hsien yang, kinh đô của nước Ch’in (Tần), Hsiao Ho bị tràn ngập bởi các đồ dâng hiến bằng tiền, bạc, và các vật quư giá khác, nhưng ông không chấp nhận ǵ ngoài “các bản đồ, sổ đăng bạ, các tài liệu, và các sách viết” (K. S. Latourette, The Chinese (ấn bản lần thứ 3, có tu sửa, New York, 1957), trang 100; Tsui Chi, trang 78; Needham, vol. III, trang 535; H. A. Giles, A Chinese Biographical Dictionary (London and Shanghai, 1898); H. H. Dubs, The History of the Former Han Dynasty, vol. I, (Baltimore, 1938), trang 58).

4.      Fang Hsuan-ling đă phụ tá Li Shih-min (Lư Thế Dân) (sau này trở thành vị hoàng đế thứ nh́ của nhà Đường, tức Đường Thái Tông) để củng cố đế quốc vừa mới thâu đoạt được của Li Yuan (sau trở thành vị vua đầu tiên của nhà Đường, Đường Cao Tổ) trong năm 618 và những năm sau đó (Giles, Biography, các trang 221, 461; Latourette, Chinese, các trang 180-1).  Tham khảo sách Đường thư (T’ang shu: Sử nhà Đường), chúng ta hay biết rằng các sự ám chỉ này nói đến các chiến dịch b́nh định vùng phía bắc con sông Wei [Ngụy giang?]; trong khi các kẻ khác giành giật nhau v́ “ngọc trai và các đồ trang sức” tại các thành phố chiếm giữ được, Fang tức thời tụ tập nhân lực và đặt họ vào các chức vụ có thẩm quyền nơi họ có thể trợ lực cho chính nghĩa (Erh-shih-wu shih, vol. IV, T’ang shu, trang 3311).

5.      “Miếu hiệu” (temple-name: tên để thờ cúng) của hoàng đế Thành Tổ (Cheng-tsu).

6.      “Miếu hiệu” của hoàng đế Tuyên Tông (Hsuan-tsung), trị v́ với niên hiệu Tuyên Đức (Hsuan-te).

7.      Tác giả Feng nghĩ rằng có sót mất một vài chữ nơi đây.

8.      Dịch sát nghĩa, “Man Mai” (Từ Điển Giles, các số 7644; 7611), các bộ lạc man rợ lần lượt ở phương nam và phương bắc.

9.      “Tsung-tao” cấu thành một “phương danh” (tzu: tự danh?) của Mă Hoan; Shan yin là một huyện (hsien) cùng với huyện Kueichi tạo thành thủ phủ của thành phố Shao hsing, tỉnh Triết Giang (Playfair, số 5462).

10.  Trong các chuyến viễn chinh lần thứ tư, thứ sáu và thứ bẩy của Trịnh Ḥa.

11.  Dịch sát nghĩa, “Di: I” (Từ Điển Giles, số 5397), các bộ lạc dân man di, đặc biệt các người ở về phía đông [đông di].

12.  Bảng liệt kê này cho thấy các chủ điểm được kỳ vọng sẽ được gồm trong các sự tường thuật đương thời về các cuộc du hành đến nước ngoài.

13.  Đây là lời nói quá đáng; có một số đề mục bị bỏ sót; thí dụ, Mă Hoan không đề cập tới hệ thống cân đo trọng lượng và kích thước được dùng tại Aden, Bengal, Hormuz hay Mecca.

14.  Lịch sử đă không hoàn thành sự tiên đóan của Ma Ching, bởi quyển sách của Mă Hoan chưa bao giờ được hay biết đến một cách rộng răi.

15.  “Tháng mùa hoa cúc” là tháng chín, khi hoa này (cúc: chu) nở rộ (Từ Điển Giles, số 2964); trong năm Giáp Tư (chia tzu) tháng chín bắt đầu từ ngày 11 tháng Mười năm 1444 [dương lịch, chú của người dịch].  Do đó nhật kỳ viết Lời Đề Tựa này là ngày 10 tháng Mười năm 1444.

16.  Không được hay biết ǵ hơn; Pelliot nghĩ rằng ông ta quen biết với Mă Hoan và có thể là một kẻ theo Hồi giáo (Pelliot, “Encore”, trang 213).

17.  Một huyện (hsien) hợp cùng với huyện Jen ho (Jin-ho) tạo thành sở thủ phủ thành phố Hàng Châu, tỉnh Triết Giang (Playfair, số 936)./-

 

 

 

Bản đồ khu Ngũ Hổ và vịnh Mân, nơi khởi hành của Ma Huan

-----       

 

 

III. BÀI THƠ GHI NHỚ CUỘC HÀNH TR̀NH 1

 

của Mă Hoan

 

Vị sứ giả vinh quang của Hoàng Đế 2 đă nhận được các thánh chỉ,

“tuyên đọc ở hải ngoại các âm thanh lụa là, 3 và đi đến các vùng đất man rợ”.

Chíếc thuyền vĩ đại của ông, trên các triều sóng dâng cao của đại dương vô tận, đă lướt đi;

đến tận các nơi xa xôi, trên các cuộn sóng bao la và không dứt, nó đă cỡi qua.

Các lớp sóng của đại dương bao la trong các cơn vỗ bờ đáng yêu lướt lên;

các cụm cù lao, các lớp vỏ xanh bồng bềnh, 4 trong thoáng chốc ẩn hiện huyền bi.

Ngừng lại ít lâu tại hải cảng của Chiêm Thành 5, ông lấy giờ để nghỉ ngơi;

Trương buồm lên, họ lướt gió; không lâu ông đă tới She-p’o 6.

Từ Quốc Gia Trung Tâm Vinh Quang 7, She-p’o không quá,

một làn hơi nồng nặc của khí trời, và dân tộc đó lạ lùng biết bao. 

Với đầu trần và chân đất, họ nói một thứ tiếng man rợ;

họ cũng không quen mang y phục và đội nón, cũng chẳng mong t́m lễ nghĩa 8 hay đức hạnh. 

Nơi đây khi các chỉ dụ của thiên triều 9 truyền đến, một cuộc họp mặt vui mừng náo nhiệt [diễn ra],

Các thủ lĩnh và các tù trưởng của các bộ lạc man rợ đều tranh nhau chào đón thánh chỉ.

Các phẩm vật triều cống bằng vàng phương nam, đá quư hiếm, từ các nơi xa xôi đều xuất hiện;

Cảm ơn, ngưỡng mộ đức độ của chúng ta, họ tự bày tỏ ḷng trung thành, chân thật.

Từ She-p’o một lần nữa, [vị sứ giả] quay sang hướng Tây Dương;

Băng ngang qua San Fo-ch’i, 10 ông đă tiến tới năm ḥn đảo. 11

Các đỉnh cao của Su-men-ta-la 12 [nhô lên] giữa đại dương;

Các thuyền buồm đi biển của các thương nhân ngoại quốc đi ngang qua và tụ tập tại vùng đất này. 

Một phần của hạm đội 13 đến His-lan 14 đă xuất phát từ nơi đây,

và đến Ko-chih 15 và đến Ku-li 16 và mọi [nơi] xa lạ khác gần đó,

[là nơi tọa lạc của] xứ sở có đỉnh núi Liu 17 bên cạnh các gịng nước Yếu 18 của bờ biển phia nam;

Một thủy lộ vô định mà họ đă lưu hành, và hiểm nguy và nhức nhối,

Họ đă mong ước đi đến vùng Đất Phương Tây, nơi họ gắn chặt tầm mắt đến nơi xa vời vợi;

Nhưng họ [chỉ] nh́n thấy đường lấp lánh của các làn sóng khi chúng tiếp giáp với màu xanh của bàu trời.

Các thủy thủ ngẩng đầu lên cao; phương tây và phương đông ḥa nhập với nhau;

Chỉ ngắm lên sao ch’en 19 theo đó phương bắc và nam được xác đinh.

Hu-lu-mo-ssu! 20 nằm gần phía đại dương;

Đến Ta-yuan 21 và Mi-his 22 nơi mà các thường nhân du hành đi qua. 

Về sứ đoàn của Hầu Tước Po wang 23 đến các vùng đất xa xôi mà chúng ta có nghe đến;

Thời trị v́ hiện nay đă ban cấp một ân huệ vinh dự c̣n lớn lao hơn nữa!

[cho] một học tṛ, kẻ tháp tùng, một công bộc, kẻ thấp hèn biết bao, [là] tôi!

Được hân hạnh đi cùng vị sứ giả, tôi thăm viếng mọi nơi và nhận thấy,

Các núi cao và các làn sóng dữ dội mà trước đó tôi chỉ trông thấy ít lần;

Các đá quư khác lạ và các đồ trang sức hiếm có giờ đây tôi bắt đầu được nh́n thấy.

Trời trên cao và đất dưới thấp, tôi nh́n – không thấy ranh giới nơi đâu;

Từ chân trời và các đầu cực của trái đất mỗi chúng ta đều là dân của vị chúa tể, 24

Hợp nhất dưới triều Minh đất nước bao la và vĩ đại của chúng ta giữ phần;

từ thủa hồng hoang cho đến giờ, không [nước nào khác] sánh kịp.

Vị sứ giả của Hoàng Đế, thật cần mẫn, lo âu việc chần chừ và đ́nh hoăn,

Ngay khi gặp được gió nam, chỉ hướng cho đường ông hồi hương.

Trên các làn sóng chiếc thuyền khổng lồ [của vị sứ giả] cỡi đi như các con rồng;

Ngoảnh đầu nh́n lại, sa mạc xa xăm bị nhận ch́m trong sương khói.

Trở về kinh đô, ông đă dự yến tiệc vua ban nơi Hoàng Cung 25

Tại Sân Rồng, cống phẩm của ông, mọi vật quư giá được bày ra,

Một thoáng nh́n của đôi mắt toàn trí, 26 và dung nhan Ông Trời 27 tràn đầy nỗi vui mừng,

Mọi khách mời, đều được ban thưởng các tặng phẩm, các ân sủng mới của Thiên Tử.

 

[Viết bởi] Mă Hoan, tiều phu miền núi của huyện Kuei chi./-

 

 

-----

 

 

CHÚ THÍCH:

 

1.      Bài thơ chỉ xuất hiện trong ấn bản C và trong bản sao ấn bản K.  Nó cũng có thể được t́m thấy trong tiểu thuyết của Lo Mou-teng nhan đề Hsi-yang chi, “Ghi Chép về Đại Dương phía Tây: Tây Dương chí?”, được viết trong năm 1597; quyển sách này mang lại một sự tường thuật hoang đường về các chuyến du hành của Trịnh Ḥa (Pelliot, “Voyages”, trang 342, n. 3; A. Wylie, Notes on Chinese Literature (Shanghai, 1867, tái bản, Peking, 1939), trang 163).  Tiểu thuyết này chứa đựng nhiều bài thơ như thế; bài thơ đặc biệt này xuất hiện nơi Chương 20, f. 52; nó có một vài sự biến đổi trong cách đọc, Feng không chấp nhận sự thay đổi nào.  Tác giả Pelliot nghĩ rằng Mă Hoan đă viết bài thơ này trong năm 1416, và rằng nó tương thuật lại các sự nhận xét đă có trong cuộc viễn chinh của các năm 1413-15 (Pelliot, “Voyages”, các trang 261-2, 294, và 303, n. 2.  Rơ ràng là bài thơ này chưa từng được dịch sang Anh ngữ trước đây.

2.      Trịnh Ḥa.

3.      Chỉ dụ, lời vua ban.

4.      Một h́nh ảnh ngoạn mục.

5.      Chàm, lănh thổ ngày nay thuộc miền Trung Việt Nam.  Khi nói Miền Trung Việt Nam (Central Vietnam), có nghĩa phần của Việt Nam nằm giữa 170 59’ Bắc vĩ độ (Hoành Sơn) tại phía bắc và 100 30’ Bắc vĩ độ (Mũi Ba Ké) ở phía nam.  Hải cảng là Qui Nhơn, được gọi là Tân Châu, Hsin chou, “New Department: Châu mới” bởi người Trung Hoa.

6.      Tên Trung Hoa thời cổ chỉ Java.

7.      Trung Quốc.

8.      Lễ: Li (Từ Điển Giles, số 6949; được định nghĩa như “Các Quy Tắc, một phần đă được xác định và một phần chưa được xác định, của sự ứng xử đúng đắn và các tác phong hay đẹp” (Cheng T’ien-his, China Moulded by Confucius, (London, 1946), trang 37); được mô tả như “ cơ cấu gồm phong tục, tập quán, và nghi lễ cổ xưa … mà từ không biết bao thế hệ người dân Trung Hoa đă cảm nhận bằng trực giác là đúng”, “chúng ta có thể xem nó tương đương như luật thiên nhiên” (Needham, vol. II, trang 544).

9.      Các mệnh lệnh của hoàng đế.

10.  Ở đây địa danh của một vùng xác định; nhưng các ranh giới chính xác th́ không chắc chắn; Feng (Poem, trang 1) coi như Mă Hoan khi nói Tây Dương trải dài về phía đông là kéo măi đến tận bờ phía tây của Java.

11.  Palembang, phía nam đảo Sumatra.

12.  Wu hsu; Quân Đảo Nước (Water Islands) vào khoảng sáu dặm đông nam Malacca.

13.  Semudera, quận Lho Seumawe, nằm trên bờ biển phía bắc của Sumatra.

14.  Tiếng Hoa không có ở trong các từ điển; nó phải được phát âm là tsung, và có nghĩa “hạm đội:fleet”; nó được dùng bảy lần bởi Mă Hoan và hai lần bởi Huang Sheng-tseng; xem, Pelliot, “Voyages”, các trang 445-7, và Pao Tsen-peng, các trang 17-18.

15.  Ceylon: Tích Lan.

16.  Calicut.

17.  Nhóm quần đảo Maldive-Laccadivẹ

18.  “Các Gịng Nước Yếu” ở đây tọa lạc phía bắc quần đảo Laccadive.

19.  Polaris, sao Bắc Đẩu (pole star).

20.  Ferghana, vùng Khokand ngày nay, khỏang giữa đường từ Samarkand đến Kashgar.

21.  Misr, Ai Câp.

22.  Po wang (Từ Điển Giles, các số 9372; 12,509), tức, Chang Ch’ien, vị tướng Trung Hoa nổi tiếng được phái lên vùng tây bắc chống lại quân Hung No (Hsiung-nu) hay quấy rối vào năm 139 trước Công Nguyên; là người Trung Hoa đầu tiên xâm nhập vào vùng Bactria (miền xuyên biển Caspian), ông đă tới các tiền đồn của các ảnh hưởng văn hóa của thế giới Địa Trung Hải; ông trở về Trung Hoa trong năm 126 trước Công Nguyên.  Trong năm 123 trước Công Nguên, hoàng đế phong tặng Chang Ch’ien làm “Hầu Tước của Po wang”.  Trong năm 122 trước Công Nguyên, ông được phái đi để điều đ́nh các hiệp ước với các vương quốc ở phương tây, và tính đến năm 115 trước Công Nguyên, một sự giao tiếp thường lệ với ba mười sáu quốc gia của miền này đă trở nên xác định nhờ ở các nỗ lực của ông (Latourette, Chinese, trang 105; Giles, Biography, trang 12; Reischauer và Fairbank, trang 99; F. Hirth, “The Story of Chang K’ien”, Journal of the American Oriental Society, vol. XXXVII (1917), trang 99).

23.  Sự nhấn mạnh đên “sự khác biệt giữa nhà cầm quyền và thần dân” đă là một đặc điểm trong tư tưởng chính trị Trung Hoa.

24.  Dịch sát nghĩa, “pḥng màu tía”.

25.  Dịch sát nghĩa, “hai con ngươi: ch’ung t’ung” (Từ điển Giles, các số 2880; 12,308), một dấu hiệu của sự khôn ngoan được gán cho một số nhà thông thái nào đó.

26.  Khuôn mặt hoàng đế.

27.  Dịch sát nghĩa: “mưa móc: yu lu” (vũ lộ) (Từ Điển Giles, các số 13,623; 7369), có nghĩa các ân sủng từ nhà vua./-

 

Một trong các bản đồ đi biển của
đoàn thám hiểm Trịnh Ḥa, căn cứ trên các chùm sao trên trời.

 

***

 

 

IV. TÊN CÁC NƯỚC NGOÀI 1

 

 

Xứ có Thành của người Chiêm (Chan city: Chiêm Thành) [Chàm, Trung Phần Việt Nam] [1.1]

Xứ Chao-va 2 [Java] [2.2]

Xứ có Hải Cảng Cũ (Old Haven) [Palembang] [3.4]

Xứ Xiêm La (Hsien Lo) [Siam, Thailand] [4.3]

Xứ Man-la-chia 3 [Malacca] [5.5]

Xứ Ya-lu [Aru, Deli] [6.6]

Xứ Su-men-ta-la 4 [Semudera, Lho Seumawe] [7.7]

Xứ Na-ku-erh 5 [Nagur, Peudada] [8.8]

Xứ Li-tai [Lide, Meureudu] [9.9]

Xứ Nan-p’o-li [Lambri, Atjeh] [10.10]

Xứ His-lan [Ceylon] [11.13]

Xứ Little Ko-lan 6 [Quilon] [12.14]

Xứ Ko-chih [Cochin] [13.15]

Xứ Ku-li [Calicut] [14.16]

Xứ có rặng núi Liu [Maldive and Laccadive islands] [15.11]

Xứ Tsu-fa-erh 7 [Dhufar] [16.17]

Xứ A-tan [Aden] [17.19]

Xứ Pang-ko-la 8 [Bengal] [18.12]

Xứ Hu-lu-mo-ssu 9 [Hormuz] [19.18]

Xứ Thánh Địa (Heavenly Square) [Mecca] [20.20]

 

1.      Danh sách này chỉ xuất hiện trong ấn bản C.  Biên tập viên phiên dịch danh sách như được đưa ra bỏi tác giả Feng, người đă sửa đổi thứ tự và một vài chữ.  Ngoặc vuông thứ nhất bao gồm các tên thời trung cổ, khi nó khác với tên ngày nay, và địa phương ngày nay khi nó không được nhận ra một cách tức thời.  Trong dấu ngoặc vuông thứ nh́, con số đầu tiên để chỉ thứ tự trong danh sách cu/a tác giả Feng, và số thứ nh́ để chỉ thứ tự trong ấn bản C.

2.      Feng viết chao [Tự Điển Giles, số 484); C in là kua [Từ Điển Giles, số 6281), một sự nhầm lẫn hay xảy ra trong các tác phẩm Trung Hoa.

3.      Đối với chữ thứ nh́ và thứ ba, ấn bản C in sai là ko tz’u (Từ Điển Giles, các số 6069; 12,412).

4.      Đối với chữ cuối cùng, ấn bản C in sai là tz’u.

5.      Trong phần nội dung của quyển sách, xứ này không có đề mục riêng và được xem như đoạn bổ túc vào phần mô tả xứ Semudera.

6.      Ấn bản C in là ko lan {Từ Điển Giles, các số 6069; 6710); để phù hợp với nội dung của tác phẩm, Feng đưa ra từ Hsiao: tiểu, “nhỏ” (Từ Điển Giles, số 4294) và viết một chữ khác (Từ Điển Giles, số 6721) cho chữ lan.

7.      Cho chữ cuối cùng, ấn bản C in sai là kuei [Từ Điển Giles, số 6430).

8.      Cho chữ cuối cùng, ấn bản C in sai là tz’u.

9.      Đối với chữ lu (Từ Điển Giles, số 7388), ấn bản C in sai là erh (Từ Điển Giles, số 3335); để phù hợp với nội dung của tác phẩm, Feng viết mo (Từ Điển Giles, số 7994) cho chữ mo (Từ Điển Giles, số 8016) và ssu (Từ Đi̓