A. Cotterell Tupp, I.C.S., LL.D.

 

 

 

ĐÔNG DƯƠNG THUỘC PHÁP

 

Bài Thuyết Tŕnh ngày 23 Tháng Năm, 1906

 

Tại Hội Trung Á Học, Luân Đôn

 

 

 

Ngô Bắc dịch

 

 

*******

 

 

NỘI DUNG

 

PHẦN I

 

GIỚI THIỆU VÀ ĐỊA DƯ

 

                  Trang

 

 

1.  Sự Liên Hệ Với Vùng Trung Á Châu: -- (1) Địa Dư.       (2) Chủng Tộc                                          05

 

2.  Tên và Các Địa Phương Cấu Thành: - Ultrindia: (1) Barma – Thượng, Hạ Miên Điện. - 

(2) Xiêm La – Thượng, Hạ Xiêm La.  (3) Đông Dương – Bắc Kỳ, Lào, An Nam, Căm Bốt, Nam Kỳ.

 (4) Bán Đảo Mă Lai – Nam Xiêm La, Các Bang Quốc Mă Lai, Singapur                                            06

 

3.  Quản Trị Chính Trị                                                                                                                        09          

 

4.  Địa H́nh                                                                                                                                        12

 

5.  Các Đường Hỏa Xa và Các Sự Truyền Thông                                                                                16

 

 

PHẦN II

 

SỰ KHÁM PHÁ VÀ LỊCH SỬ

 

6.  Lịch Sử Ban Sơ và Sự Thám Hiểm Trước Khi Có Sự Chính Phục Của Pháp                                     20

 

7.  Sụ Thám Hiểm Và Chinh Phục Của Pháp: -- Henri Mouhot, Franҫois Garnier,

Auguste Pavie, và Hoàng Thân Prince Henri d’Orleans                                                                         27

 

8.  Nền Văn Minh Khmer và Các Đền Đài Của Nó: -- Khu Angkor Wat và Angkor Thom                       34

 

 

PHẦN III *

 

CHÍNH TRỊ VÀ TƯƠNG LAI

 

9.  Pháp và Xiêm La: -- Cuộc Tranh Chấp Kéo Dài Và Các Hậu Quả

 

10.  Pháp và Anh tại vùng Ultrindia: -- Vị Thế Hiện Tại và Tương Lai Của Chúng

 

*Phần này bị hoăn lại v́ thiếu th́ giờ.

 

 

*****

 

ĐÔNG DƯƠNG THUỘC PHÁP

 

PHẦN I

 

GIỚI THIỆU VÀ ĐỊA DƯ

 

1. Mối Liên Hệ Với Vùng Trung Á

 

 

Ngài Sir THOMAS HOLDICH, trong khi giới thiệu diễn giả, đă nói: Tiến Sĩ Cotterell Tupp nổi tiếng đối với các hội viên của Hội này về sự quan tâm rất tử tế và hữu ích mà ông đă có về mặt tài chính của hội.  Tôi thực sự không biết đích xác là làm thế nào mà chúng ta có thể hoạt động được nếu không có ông ấy.  Buổi trưa nay ông sẽ diễn giảng cho chúng ta một bài viết về một đề tài mà chúng ta sau này nghe tới rất ít, ở nơi đây hay ở những nơi khác – vị thế của Pháp tại Phương Đông.  Ông đă thu thập tin tức của ông từ nhiều nguồn khác nhau và cực kỳ bao quát đến nỗi tôi hoàn toàn tin chắc rằng sự biên soạn mà ông đă thực hiện như kết quả của các sự nghiên cứu của ông sẽ là những điều hay ho nhất đối với chúng ta.  Chúng ta sẽ được biệt đăi khi được nghe tŕnh bày cho chúng ta một khối lượng lớn lao các tin tức hẳn đă đ̣i hỏi Tiến Sĩ Tupp phài bỏ ra nhiều tháng để thu thập.

 

***

 

       Thưa Ông Chủ Tịch, Thưa Quư Bà và Quư Ông, -- Điều có thể xẩy ra với một số trong quư vị rằng mối liên hệ giữa vùng Trung Á Châu và Bán Đảo Đông Dương đâu có ǵ hiển nhiên hay rất mật thiết; và có thể tự hỏi tại sao Đông Dương lại có thể là đề tài cho một buổi diễn thuyết tại Hội Trung Á.  Câu trả lời rằng mối liên hệ giữa hai phần đất này của Á Châu hiện diện vừa cả về mặt địa lư lẫn chủng tộc.  Tất cả mọi con sông vĩ đại của bán đảo Ultrindia [có nghĩa Ngoại Ấn Độ hay Ngoài Ấn Độ, chú của người dịch], (danh xưng mà tôi bạo gan đề xuất để chỉ khối lănh thổ to rộng nhô xuống phía nam từ phần đông nam của Á Châu) đều có nguồn gốc của chúng tại các miền cực đông của rặng Hy Mă Lạp Sơn (Himalaya).

 

       Liệt kê chúng từ tây sang đông, sông Irawaddi, sông Salwin, và sông Mekong, tất cả đều phát nguyên tại vùng cao nguyên phía đông của Tây Tạng, gần biên giới của Trung Hoa.  Sông Menam, con sông vĩ đại của Xiêm La, không khởi đầu ḍng chẩy cho đến khi các rặng núi này đổ dốc thấp xuống thành các dẫy núi của các Bang Quốc Dân Tộc Shan và của Vương Quốc Lào; nhưng con sông này, sông Menam, là con sông duy nhất của bốn con sông vĩ đại của bán đảo Ultrindia, đă không phát nguyên trực tiếp tại các rặng núi của vùng Trung Á.  Tôi sẽ tŕnh bày về mối liên hệ chủng tộc của vùng Trung Á và vùng Ultrindia sâu xa hơn về sau; giờ đây chỉ cần nói rằng ít có sự ngờ vực rằng một bộ phận đông đảo của dân chúng thuộc miền bắc bán đảo có nguồn gốc Trung Á, giống như đa số dân chúng thuộc miền nam có nguồn gốc Mă Lai.

 

2. DANH XƯNG VÀ CÁC ĐỊA PHƯƠNG CẤU THÀNH

 

       Và giờ đây về danh xưng.  Bán đảo vĩ đại này bao gồm Miến Điện [Barma trong nguyên bản, chú của người dịch] ở phía tây, Xiêm La nằm ở giữa, và Đông Dương thuộc Pháp ở phía đông, với các Bang Quốc Mă Lai và Singapur nằm ở cực nam.  Hiển nhiên rằng danh xưng Indo-China th́ không thích hợp cho một xứ sở nằm giữa Ấn Độ và Trung Hoa, và không tùy thuộc vào bên nào.  Chryse the Golden [Bán Đảo Vàng, tên cổ thời để gọi bán đảo nằm phia Đông Ấn Độ, chú của người dịch] hay The Golden Chersonese [Bán Đảo Vàng, tên cổ thời được đặt cho Bán Đảo Mă Lai bởi nhà địa lư học Claudius Ptolemy, thế kỷ thứ 2 sau Công Nguyên, chú của người dịch] là các h́nh dung từ tưởng tượng và không phải là danh xưng; trong khi từ ngữ “Further India: Vùng Xa Hơn Ấn Độ” sẽ rơ ràng để chỉ rằng đó là vùng nằm xa hơn về phía đông của nước Ấn Độ thực sự, nhưng nó không phải là Ấn Độ hay vùng dất của người gốc Ấn Độ (Hindusthán) trong bất kỳ ư nghĩa nào, và cư dân không phải là người Ấn Độ; v́ thế tôi đánh bạo đề nghị với quư vị danh xưng Ultrindia, có nghĩa các xứ sở nằm ngoài Ấn Độ, như một danh từ hữu dụng để chỉ bán đảo to lớn này như một tổng thể.  Nó bao gồm ba quốc gia vĩ đại – Barma (Miến Điện), Siam (Xiêm La) và Indo-China (Đông Dương).  Trong bài thuyết tŕnh này, tôi không đề cập ǵ đến Barma và Siam, ngoại trừ khi nó chúng giáp ranh, và có các quan hệ chính trị với Đông Dương; và trong trường hợp của Xiêm La, bởi v́ phần lớn, hay gần như toàn thể, Đông Dương thuộc Pháp ngày nay, đă từng có thời nằm dưới sự cai trị của người Xiêm La, và đă bị sáp nhập, đôi lúc, vào vương quốc đó.

 

       Sau đây tôi sẽ đưa ra một sự tŕnh bày ngắn gọn về cách thức và bởi những ai mà các cuộc chinh phục và sáp nhập của người Pháp đă được thực hiện; nhưng trong phần địa dư này của bài thuyết tŕnh của tôi, có lẽ chỉ cần nói rằng Đông Dương, như nó hiện diện giờ đây về mặt chính trị, được hợp thành bởi năm miền:

 

       1.  Tongkinh [Đông Kinh, tức Bắc Kỳ] ở phía bắc, giáp ranh với Trung Hoa, có sông Hồng chảy qua.

 

       2.  An Nam (Trung Kỳ) dọc theo bờ biển phía đông, từ bắc xuống nam, và hoàn toàn nằm quá hay ở phía đông của con sông vĩ đại Mekong, chảy xuyên Đông Dương từ bắc xuống nam.

 

       3.Kế cận miền này về phía tây là miền đất bao la của Lào, trải dài từ biên giới Trung Hoa từ bắc vĩ độ 230 xuống 120 sát biên giới với Căm Bốt.  Ranh giới phía tây của nó là con sông Mekong vĩ đại chạy xuyên suốt.

 

       4.  Miền thứ tư là nước Cam Bốt cổ xua, trải dài từ bắc vĩ độ 140 đến 100, và có tỉnh hạt Battambang của Xiêm La ở phía tây.  Ḍng sông Mekong chảy theo hướng tây cho đến giữa miền này và phần c̣n lại của miền thứ năm –

 

       5. Cochin China (Nam Kỳ), và đổ nước ra biển phía nam Sàig̣n ở vĩ độ 100.  Nam Kỳ là miền cực nam chiếm cứ mỏm cực nam của bán đảo vĩ đại từ Bắc vĩ độ 120 đến Bắc vĩ độ 80, và bao gồm tất cả các cửa sông Mekong.   

 

       Cùng với năm miền này giờ đây phải được bổ túc, từ năm 1896, một giải đất rộng lớn của Xiêm La, trải dài từ sông Mekong chảy theo hướng tây đến đến tận các chi lưu của nó chạy về hướng tây.  Trước tiên người Pháp đă thỏa măn với miền Trung Kỳ dọc theo bờ biển phía đông; sau đó họ dần dà sáp nhập toàn thể Nam Kỳ và các phần đất của Căm Bôt\; và sau cùng họ sáp nhập tất cả các tỉnh hạt của Lào – tức vùng đất nằm giữa An Nam và con sông vĩ đại Mekong; kế đó, họ đă dành một khu vực rộng 25 kilomét ở phía tây của con sông, đầu tiên biến nó thành khu trung lập, và về sau sáp nhập cả nó; nhưng trong sự thu xếp sau cùng, đă được phê chuẩn bởi Anh Quốc (trong năm 1896), toàn thể vùng đất phía tây sông Mekong và bao trùm bởi các phụ lưu của nó được đặt dưới sự bảo hộ của nước Pháp (Doumer, trang 44); và ranh giới giờ đây chạy xuống gần đông kinh tuyến 100, từ chỗ uốn khúc rộng lớn của sông Mekong ở Nong Khai, tại vĩ độ 180 đến gần Battambang tại vĩ độ 130.  Chính v́ thế, người Pháp giờ đă chiếm hữu toàn thể bán đảo phía đông kinh độ thứ 100 – khoảng 270,000 dặm vuông – (“Ireland”, trang 146)[ về phần liên hệ đến Đông Dương của tác giả Ireland này, xem bản dịch đă được đăng tải trên Gió O, chú của người dịch]; và các ranh giới lănh thổ của họ như sau: ở phía bắc, Trung Hoa; ở phía đông, Biển Trung Hoa [Chinese Sea, sic]; ở phía tây, phần nhô ra nhỏ bé của Barme và phần c̣n lại với Xiêm La; và ở phía nam, Vịnh Xiêm La và Biển Trung Hoa [sic].  Người Pháp đă chiếm đóng Battambang và Chentában (hải cảng trên Vịnh Xiêm La), và giữ        chúng cho đến hồi gần đây; nhưng một bài báo của Bác Sĩ Morrison (thông tín viên của tờ Times tại Bắc Kinh) trên tờ Times hôm 19 Tháng Năm [1906] cho hay rằng Chantában giờ đây được Pháp giao trả cho người Xiêm La.  Battambang giờ đây nằm trong phạm vi của đường phân cách của sông Mekong, và v́ thế, không nằm trong thỏa ước năm 1896 của Anh Quốc.

 

 

3.  SỰ QUẢN TRỊ CHÍNH TRỊ

 

       Đông Dương thuộc Pháp được quản trị, dưới sự kiểm soát của Bộ Thuộc Địa Pháp, bởi một Toàn Quyền hay Phó Vương [Viceroy, viên chức cai trị một thuộc địa, dưới danh nghĩa Nhà Vua hay Nữ Hoàng mẫu quốc, với thẩm quyền của Hoàng Gia, kiểu như Khâm Sứ với toàn quyền Kinh Lược, hay Kinh Lược Sứ của Việt Nam dưới thời quân chủ, chú của người dịch], là người thường được bổ nhiệm từ các dân biểu hay nghị sĩ đă có kinh nghiệm thuộc địa, hay nổi bật lên trong sự tranh luận về các đề tài thuộc địa.  Toàn quyền vừa qua không ai khác hơn là ông Paul Doumer, hiện là Chủ Tịch Viện Dân Biểu, và là người đă ra tranh cử chức vụ Tổng Thóng khi ông Loubet từ chức.  Ông Doumer đă viết một quyển sách rất đồ sộ về chính quyền của ông tại Đông Dương trong 5 năm, từ 1897 đến 1902, và tôi khuyến cáo những ai muốn theo đuổi đề tài xa hơn hăy t́m đọc quyển sách của ông ta, bởi mặc dù rườm rà và có thể tŕnh bày một cách có hệ thống hơn, song đó là một nhà kho các dữ kiện; và nó là quyển sách đầu tiên, và đến mức độ mà tôi hay biết, quyển sách thẩm quyền duy nhất về Đông Dương có kích thước vừa phải, bởi công tŕnh vĩ đại của ông Pavie, “La Mission Pavie Indo-Chine”, đă sẵn lên tới năm tập giấy gấp tư (quarto), và vẫn chưa hoàn tất, và tôi e rằng một công tŕnh với tầm kích như thế sẽ làm nhụt bớt sự can đảm của phần lớn chúng ta.

 

       Thủ đô của Đông Dương thuộc Pháp là Sàig̣n, nằm bên phía đông của Nam Kỳ, và gần mũi đông nam của bán đảo.  Viên Toàn Quyền thường sống tại Sàig̣n, và các bộ chỉ huy và Dinh Thự Chính Phủ ở đó; nhưng ông cũng cư trú tại Hà Nội, thuộc Bắc Kỳ, nơi bờ sông Hồng thuộc miền cực bắc.  Dưới Toàn Quyền là các Thống Đốc mỗi miền sinh sống tại thủ phủ của miền đó: Hà Nội cho Bắc Kỳ, Huế trên bờ biển phía đông của Trung Kỳ; Luang Prabang bên ḍng sông Mekong cho Lào; Pnom Penh tại giao điểm sông Mekong với hồ vĩ đại cho Căm Bốt; và Sàig̣n cho Nam Kỳ.

 

       Dưới các Thống Đốc này, một lần nữa, là các Préfets [tiếng Pháp trong nguyên bản, chỉ cấp Tỉnh hay Phủ, chú của người dịch] là đơn vị mà chúng ta gọi là các “phân hạt: divisions” tại Ấn Độ -- tức các nhóm gồm bốn hay năm quận một; và sau cùng, các Subpréfets [tiếng Pháp trong nguyên bản, chỉ cấp Quận hay Huyện, chú của người dịch].  Tôi có thể lưu ư ở đây rằng không có ǵ khó hơn trong sự nghiên cứu xứ sở to lớn này cho bằng việc chứng thực một cách chính xác các danh từ riêng chỉ các địa điểm và chỉ con người.  Trong mọi trường hợp, chúng thuộc các ngôn ngữ mà người dân Anh b́nh thường nhiều phần không mấy quen biết, chẳng hạn như tiếng Lào, tiếng Khmer hay Căm Bốt, tiếng Hán, và tiếng Xiêm La.  Khi đó chúng ta thụ nhận kiến thức của ḿnh về các danh xưng này chính yếu từ các nguồn tài liệu của Pháp, và quư vị sẽ nhận thức rất rơ sức mạnh của khuynh hướng tại Pháp làm hư hỏng và chặt bớt tay chân tất cả các danh từ riêng chỉ địa điểm và con người mạnh mẽ ra sao.  Chỉ cho đến khi McCarthy được tuyển dụng bởi Chính Phủ Xiêm La để khảo sát địa chính phần đất rất lớn rộng của bán đảo từ năm 1883 đến 1900 khiến cho nhiều danh xưng đă thụ đắc được một h́nh thức cố định và một cách đánh vần khả dĩ rành mạch.  Ủy Hội Biên Giới Miến Anh (Anglo-Burmese Boundary Commission) các năm 1889-1890; Ủy Hội Sông Mekong Pháp-Anh (Anglo-French Mekong Commission) các năm 1894-1896; và Ủy Hội Biên Giới Trung Hoa-Miến Điện (Barma-China Boundary Commission) các năm 1898-1900, tất cả đều đă bổ túc một cách lớn lao cho sự hiểu biết của chúng ta về các nơi chốn và biên giới của Đông Dương; nhưng ngay giờ này, bản đồ Pháp chính thức của ông Pavie c̣n khác biệt nghiêm trọng với các bản đồ được đưa ra trong quyển “Indo-China” của ông Doumer và trong quyển “Further India” của ông Hugh Clifford; và trong quyển sách kể tên sau, cách đánh vần trong văn bản thường xuyên khác biệt với cách viết của bản đồ.

 

       Dân số của Đông Dương vào khoảng 20,000,000 người, chia ra thành:

 

       Nam Kỳ                                               3,000,000*

 

       Căm Bốt                                              1,000,000

 

       Lào                                                      1,000,000

 

       Trung Kỳ                                             7,000,000

 

       Bắc Kỳ                                                8,000,000+

 

 

       * Norman nói là 2,000,000.                 + Xem, Doumer, trang 32.

 

 

       Theo ông Doumer, các dân số này được chứng thực khá vững  chắc; nhưng ngoài việc cho phép khoản miễn giảm v́ tính không chính xác của Phương Đông, xem ra không thể nào mà Lào và Căm Bốt, vớii diện tích cộng lại lớn gấp đôi kích thước của An Nam, lại chỉ có 2,000,000 so với 7,000,000 của An Nam, đặc biệt khi An Nam rất nhiều núi non, trong khi Lào nằm trong một thung lũng ph́ nhiêu của con sông Mekong vĩ đại.

 

       Đông Dương hiện tại gần như giống với Đế Quốc An Nam khi trước, vào lúc ở đỉnh cao của sự thịnh vượng của nó.  Đế quốc này đă bao gồm Đông Kinh (Tongking: Bắc Kỳ), Trung Kỳ (An Nam) và Nam Kỳ (Cochin China); và Căm Bốt là nước chu hầu của nó, nhưng Lào xem ra chưa bao giờ hoàn toàn bị chinh phục bởi nó.  Phần lớn các tác giả đều đồng ư rằng các cư dân của các miền này đa số có nguồn gốc Mă Lai, đặc biệt tại miền nam; nhưng tại Lào lại hiện xuất một chủng tộc khác, và tại Bắc Kỳ dĩ nhiên có nhiều người Trung Hoa.  Tôi có thể khám phá ra rất ít trong quyển sách về Đông Dương của ông Doumer liên quan đến các công chức bản xứ làm việc dưới quyền các viên chức Pháp, nhưng ở một nơi (trang 59), ông nói rằng Pháp đă giữ lại các chức vị của các quan chức An Nam cũ, và rằng chúng như sau –

 

       Huyện = Sous-Préfet;

 

       Phủ = Préfet;

 

       Đốc-phủ-sứ [doc-fu-su trong nguyên bản, chú của người dịch] = Phó Tông Đốc (Deputy-Governor; và

 

       Tổng Đốc = Governor;

 

Nhưng ông bổ túc rằng thực sự không có các Tộng Đốc An Nam, hay Governors, hiện nay, bởi người Pháp đă gồm thu tất cả các chức vụ này cho chính họ, và chức vị chỉ có tính cách hàm danh dự.

 

       Trước khi rới khỏi chủ đề về hành chính, tôi xin được nói thêm một lời về quan điểm của Pháp trên sự bành trướng về phía đông dai dẳng của họ, gây thiệt hại cho Xiêm La.  Họ nói rằng họ thừa tiếp Đế Quốc An Nam cũ mà, như chúng ta nh́n thấy, bao chùm tất cả các miền phía đông, gồm cả Căm Bốt và, đến một phần nào, nước Lào, như thế chừng nào mà người Pháp c̣n giới hạn các sự tuyên xác đến vùng đất ở phía đông sông Mekong, họ vẫn c̣n có được một số sự biện minh cho hành động của họ; nhưng khi họ nới rộng chúng đến khu vực 25 cây số (kilomét) phía tây sông Mekong, và sau đó toàn thể thung lũng phía tây sông Mekong, cho đến tận đường phân cách của nó với sông Menam, thật khó để nh́n thấy bất kỳ thẩm quyền tinh thần nào của vấn đề;  và họ giờ đây, tôi tin như thế, đă chiếm đóng các quận huyện hoàn toàn thuộc Xiêm La ở Battambang và Chentában, mà không có lư do, như họ đă hứa sẽ trưng ra rằng thung lũng sông Mekong đă được nhường cho họ, nhưng tờ Times hôm 19 Tháng Năm cho biết Chantában đă được nhượng lại một lần nữa.  Dĩ nhiên, chúng ta không có quyền kết án, bởi chúng ta đă chiếm đoạt toàn thể xứ Miến Điện mà không có thẩm quyền ǵ chính đáng hơn, và chúng ta c̣n xâm phạm cả lănh thổ của Xiêm La trên bán đảo Mă Lai, nhưng tôi tin rằng chúng ta chưa bao giờ sáp nhập bất kỳ phần đất nào của Xiêm La chính danh.  Các biên giới Miến Điện của chúng ta chạy dài 900 dặm cùng với Xiêm La, và với Lào 100 dặm, hay cộng chung là 1,000 dặm; nhưng chúng ta vẫn chưa có các sự tranh chấp nghiêm trọng với Pháp hay với Xiêm La về ranh giới của chúng ta ở những vùng này; trong thực tế chúng ta đă nhường cho Pháp các phần của Bang Quốc người Shan (Shan States) tại biên giới Lào mà chúng ta có thể rất nên giữ lại cho chính ḿnh, và tôi không chắc rằng chúng ta một ngày nào đó lại sẽ không hối tiếc về việc đă làm như thế.

 

 

4. ĐỊA LƯ H̀NH THỂ

 

       Từ mặt phía nam của Lục Địa Á Châu, có tḥ ra ba bán đảo tiểu lục địa to lớn; kể từ phía tây, chúng gồm, trước tiên, Ả Rập, kế đó là Ấn Độ, và sau cùng là Ultrindia.  Các bán đảo Ấn Độ và Ultrindia nối liền nhau ở cực bắc, nơi mà Bengal và Assam gặp nhau ở miền Thượng Miến.  (Upper Barma)  Về phía bắc của Assam và vùng Thượng Miến, các cánh trương ra phía đông của rặng núi vĩ đại Hy Mă Lạp Sơn tạo thành các hàng rào núi non phi thường giữa chúng với Tây Tạng và Trung Hoa; và xa hơn nữa về phía đông, tại tỉnh Vân Nam của Trung Hoa, các nhánh vĩ đại của rặng Hy Mă Lạp Sơn kéo dài xuống phía nam cho đến khi chúng chia cắt miền Thượng Miến với các Bang Quốc của Lào, và, được tiếp nối bằng các rặng núi nhỏ hơn, đâm sâu nữa về hướng nam, chúng phân cách Miến Điện với Xiêm La, và kéo dài xuống suốt cả chiều dài của Bán Đảo Mă Lai.  Tại phía đông của Vân Nam, chúng ké dài xuống Bắc Kỳ, và từ đó, tạo thành bờ phía đông của bán đảo, cấu thành rặng núi xuyên suốt từ bắc chí nam của Trung Kỳ và tạo thành xương sống của Đông Dương.  Nằm giữa rặng núi ở phía tây, chạy xuống đến các Bang Quốc Mă Lai, và rặng núi bên phía đông, chạy xuyên qua Trung Kỳ, tọa lạc các thung lũng ph́ nhiêu của sông Mekong và Menam, tạo thành các nước Lào, Xiêm La và Căm Bốt.

 

       Chính các rặng vĩ đại và các nhánh phía nam của Hy Mă lạp Sơn đă xác định ḍng chảy của tất cả các con sông hùng vĩ của bán đảo này, bởi tất cả chúng, trừ sông Menam, đều phát sinh từ Các Vùng Núi của Vân Nam, vốn là các sự nối dài của rặng Hy Mă Lạp Sơn.  Kiểm điểm chúng từ tây sang đông, sông Irawádi, sông Salwin, và sông Mekong, tất cả đều phát sinh tại miền bắc của Vân Nam, không quá cách xa nhau.  Sông Irawádi chảy xuống xuyên qua Thượng Miến và Hạ Miến đến Rangoon, và đổ ra tại Vịnh Martaban; sông Salwin chảy ngang qua Vân Nam, Thượng và Hạ Miến, đến Maulmain, và cũng tự đổ vào Vịnh Martaban không mấy xa phía đông của sông Irawádi.  Sông Mekong vĩ đại, con sông mănh liệt nhất trong chúng, phát sinh thật xa ở miền bắc của Vân Nam, xuyên qua toàn thể chiều ngang của tỉnh đó, và rồi phân chia Thượng Miến khỏi Lào, và Xiêm La khỏi Lào, và An Nam khỏi Căm Bốt, và đi ngang qua miền trung của Căm Bốt và Nam Kỳ, nó đổ nước ra bằng nhiều cửa vào Biển Nam Hải (South China Sea).  Nó dài khoảng 1,800 dặm từ Vân Nam đến Nam Kỳ.  Nó tạo thành thủy lộ lớn lao xuyên qua Đông Dương, chia cách Lào khỏi Căm Bốt và Xiêm La.  Nó chỉ có thể thực sự hải hành được trên 300 cây số, cho đến Stung-treng, tại Căm Bốt, nơi có các luồng nước chảy xiết đáng sợ; nhưng các tàu vũ trang của Pháp đă cố vươt qua các ḍng nước xiết gần tới chỗ uốn khúc rộng lớn ở vĩ tuyến 180, chỗ mà con sông Mekong quặt xuống nam sau một ḍng chảy dài theo hướng đông.

 

       Tôi không cần thảo luận chi tiết về bất con sông vĩ đại nào khác, bởi chúng chảy qua Miến Điện và Xiêm La, và không ảnh hưởng đến Đông Dương; nhưng một con sông khác chảy suốt chiều ngang của Bắc Kỳ phải được nói đến – tức, sông Hồng, vốn đă trở nên nổi tiếng như là cảnh trí của nhiều cuộc giao tranh giữa người Pháp, với Trung Hoa và Việt Nam.  Con sông này phát nguyên từ vùng núi Vân Nam, phía tây thành phố Vân Nam, và chảy xuống biên giới Bắc Kỳ theo hướng đông nam tại Lào Kai; từ đó nó chảy theo hướng đông nam cắt ngang Bắc Kỳ, và, ngang qua thủ đô, Hà Nội, nó đổ vào Vịnh Bắc Việt.

 

       Tôi không làm quư vị chán nản với nhiều chi tiết khác nữa về địa lư h́nh thể của xứ sở to lớn và ít được biết đến này; nhưng, trước khi kết thúc phần này trong đề tài của tôi, có lẽ tôi có thể lôi cuốn sự chú ư của quư vị đến cấu trúc tổng quát của toàn thể xứ sở, và đến con đường tuyệt diệu tại đó nó vươn ra toàn thể khu vực.  Nó bắt đầu ở điểm cao nhất tại biên giới với Vân Nam, Trung Hoa, và đổ dốc thấp xuống dần dần, như được chỉ bởi ḍng chảy xuyên quá nó của con sông vĩ đại Mekong, cho đến Biển Nam Hải và Vịnh Xiêm La, và tại phía bắc nó đổ dốc theo hướng đông đến Vịnh Bắc Việt.  Hậu quả là con sông Mekong, với vô số các chi lưu của nó, sông Menam tại Xiêm La, và Sông Hồng tại Bắc Kỳ, tất cả đều trút xuống biển khối luợng đất sét vô biên, vốn phát sinh từ vùng đất cao hơn, và thường xuyên đổ xuống biển, gần các cửa của ba con sông này.  Đất v́ thế sẽ măi măi lấn ra biển, và gần như toàn thể Căm Bốt và Nam Kỳ hẳn đă phải được h́nh thành trong thời hiện đại, về mặt địa dư, trong khi một phần lớn các biên giới phía nam của chúng đă được tạo lập trong khuôn khổ các thời đại có con người (nhân văn), chứ không phải trong các thời đại lịch sử.   

 

Tại Căm Bốt có một hồ nước vĩ đại, Biển Hồ (Tonle-Sap, hiện tại cách xa biển 120 dặm, và thông thương với sông Mekong nơi gần cửa của nó.  Hồ nước vĩ đại này trong các mùa mưa tràn ngập hàng trăm ngh́n dặm vuông, và bao trùm một phần đáng kể đất Căm Bốt, và có mọi lư do để tin rằng, từ địa lư h́nh thể của miền và từ các phế tích hùng vĩ của khu đền Angkor Wat, tọa lạc gần hồ nước, và tôi sẽ tŕnh bày sau này, rằng hồ nước này đă từng có thời hoàn toàn sát biển, và rằng, ở một thời điểm xưa hơn nữa, biển vươn tới các vùng núi non cách xa đó cả 100 dặm.  [Các bằng chứng khảo cổ mới đây khám phá ra rằng xứ Phù Nam như được mô tả bởi sứ giả Trung Hoa thực sự nằm gần Siem Reap và khu đền Angkor, tức sâu trong nội địa Căm Bốt, chứ không phải ở các vùng ven biển hiên nay của miền nam Việtt Nam hay Căm Bốt, chú của người dịch]

 

 

 

       Sự trầm lắng đất bùn vô biên và sự lấn chiếm tiệm tiến của mặt đât c̣n được chứng minh nhiều hơn bởi sự trầm tích đất bùn thường trực và bền bỉ của Vịnh Xiêm La; mọi nơi đều nông cạn, và phần phía bắc c̣n thấp hơn nữa trong các thời đại lịch sử.  V́ thế, có thể hướng đến một lúc, chắc chắn c̣n xa xôi về mặt lịch sử, song về mặt địa dư lại không quá vời vợi, khi Vịnh Xiêm La sẽ hoàn toàn được đất bồi đắp – ít nhất tại phần phía bắc của nó – và khi Bán Đảo Mă Lai sẽ được nối liền với bờ biển phía tây của Căm Bốt bởi đất khô của cảnh quan châu thổ, cảnh trí mà chúng ta trông thấy hiện giờ tại Nam Kỳ và miền nam Xiêm La.

 

 

5. CÁC ĐƯỜNG HỎA XA VÀ CÁC TUYẾN GIAO THÔNG

 

       Như quư vị sẽ tưởng tượng dễ dàng, tất cả đường hỏa xa tại Đông Dương có niên đại từ một thời kỳ tiếp theo sau sự chinh phục của người Pháp, và chúng không có nhiều hay trải rộng khắp nơi.  Chúng đều khởi hành từ một trong ba thủ phủ, Hà Nội tại Bắc Kỳ, Huế tại Trung Kỳ, và Sàig̣n tại Nam Kỳ.  Chưa có đường xe lửa tại các xứ Căm Bốt và Lào.  Có một đường xe hỏa dự phóng từ Bangkok, thủ đô của Xiêm La, đến Huế, thủ đô của Trung Kỳ, băng ngang bán đảo ở khoảng vĩ độ thứ 15.  Đoạn đầu tiên của tuyến đường, cho đến Korat, sẽ thuộc về Xiêm La; và tôi tin răng nó đang được xây dựng; nhưng đoạn từ biên giới Xiêm La đến Huế vẫn chưa được thực hiện, và sẽ là công tác kéo dài nhiều năm; bởi nó vượt qua phần đất thuộc về Xiêm La, và toàn thể chiều ngang của Lào và Trung Kỳ, ngoài ra c̣n băng qua sông Mekong vĩ đại, nơi đó là một con sông mănh liệt.

 

Khởi đầu tại miền nam, các đường xe hỏa tại Nam Kỳ là một tuyến đường ngắn từ Sàig̣n theo hướng tây nam đến Maitho [? Mỹ Tho], tại một trong các cửa của sông Mekong – tuyến đường này dài khoảng 50 dặm.  Tuyến đường rày khác chạy theo hướng đông bắc từ Saig̣n, và đă được xây dựng với một vài khoảng đứt đoạn cho tới Huế, thủ phủ của Trung Kỳ.  Từ nơi đó có một khúc bị đứt đoạn nữa dài 200 dặm, và sau đó nó chạy suốt tới Hà Nội, thủ phủ của Bắc Kỳ.  Từ Hà Nội có một đường rày dài gần 200 dặm lên tới biên giới Trung Hoa tại Lào Kay; tuyền đường này được chủ định sẽ được nối dài cho đến thành phố Vân Nam, thủ phủ của tỉnh Vân Nam; và nếu khả thi, tới sông Dương Tử, con sông vĩ đại của Trung Hoa.  Người Pháp đă khám phá ra sông Hồng, chảy song song với đường hỏa xa này, hoàn toàn không thích hợp cho việc hải hành, và v́ thế họ đă đổ dồn mọi nỗ lực để kiến tạo sự giao thông đường xe hỏa với Vân Nam, và như thế cuốn hút mậu dịch của vùng Tây Nam Trung Hoa về Bắc Kỳ thay v́ vào Miến Điện; nhưng từ điều mà ông Colquhonn nói về sự ph́ nhiêu lớn lao của Miền Tây Vân Nam, có vẻ như là phần lớn hơn trong mậu dịch Trung Hoa sẽ luôn luôn đi theo hướng tây, hoặc là xuyên qua Bhamo và Momein, hay bởi con đường của ông Colquhonn xuyên qua các Bang Quốc người Shan xuông sâu hơn về phía nam.  Tại điểm cuối cùng này, Trung Hoa ở gần biển hơn bất kỳ nơi nào khác trong vùng tây-nam, và điều hoàn toàn khả dĩ rằng con đường song song với sông Salwin, và phát sinh từ Martaban hay Maulmain, sẽ là con đường mậu dịch của tương lai, và có thể ước định rằng hoạt động mậu dịch sẽ đi đến Akyab; nhưng tại xứ sở núi non này các đường mậu dịch bắt buộc phải chạy theo hướng bắc và nam song song với các con sông, và không theo hướng đông và tây băng ngang qua thung lũng và thẳng góc với các con sông, bởi sự giao tiếp thương mại là điều bất khả trong thực tế trong chiều hướng này.  Từ một bức điện tín được gửi đi hồi gần đây của ông Beau, đương kim Toàn Quyền Đông Dương, rơ ràng rằng ông kỳ vọng là con đường hỏa xa từ biên giới phía bắc tại Lào Kay đến thành phố Vân Nam sẽ chấm dứt tại Mengtse (Mông Tự), khoảng nửa đường đến Vân Nam, trong thời hạn ba năm; như thế chúng ta vẫn c̣n thời giờ để khởi sự tuyến xe hỏa của chúng ta từ phương nam, và xâm nhập vào Vân Nam xuyên qua các Bang Quốc người Shan.

 

Ngoài đường hỏa xa, các tuyến giao thông duy nhất khác tại Đông Dương là hai con sông rộng lớn, sông Mekong và sông Hồng, có ḍng chảy mà tôi đă tŕnh bày, cả hai đều đầy các luồng nước chảy xiết và chướng ngại vật, và thực sự chỉ mang lại sự hải hành cho các tàu và thuyền nhỏ, ngoại trừ một vài đoạn nào đó từ các cửa sông của chúng.  Các tàu lớn ngược ḍng Mekong lên tới Stung-treng, và ngược sông Hồng lên tới Hà Nội; nhưng đi quá các địa điểm này, sự hải hành trong thực tế chỉ dành cho các con thuyền, mặc dù tôi được thông tin bởi Phó Thống  Đốc Miến Điện rằng người Pháp hiện có các thuyền vũ trang tại thượng lưu sông Mekong, gần Luang Prabang.

 

Có một con đường thương mại khác phải được đề cập tới – tức, hồ nước vĩ đại Tonle Sap, và sông Mesap, nối liên nó với sông Mekong.  Bản thân hồ nước dài khoảng 120 dặm vào mùa khô và có chiều ngang từ 5 đến 20 dặm, và vào mùa ướt nó mở rộng thành một biển thực sự, kéo dài từ Sisophon tại Xiêm La đến Pnom-Penh, thủ đô của Căm Bốt, hay 250 dặm chiều dài và 70 dặm chiều ngang từ Angkor Thom đến Pursat.  Con sông và hồ này mang lại sự giao thông giữa tất cả các địa điểm ven bờ của chúng và tất cả các địa điểm trên sông Mekong và cung cấp một con đường mậu dịch giữa Xiêm La ở phía tây và Căm Bốt cùng Nam Kỳ ở phía đông.  Về mậu dịch của Đông Dương, tôi sẽ không làm quư vị buồn nản v́ các số thông kê, nhưng một ít sự kiện cho thấy sự tốn kém bao la của thuộc địa đối với dân tộc Pháp.  Người Pháp chi tiêu 600,000 Bảng Anh (Livres) để xây dựng đường xe lửa từ Sàig̣n đến Mỹ Tho trên sông Mekong, chưa đến 50 dặm, hay 12,000 Bảng Anh (Candler, trang 161), song nó chưa bao giờ có một sự sử dụng cụ thể cho việc mậu dịch.  Điều được phỏng chừng rằng người Pháp đă chi tiêu 19,000,000 Bảng Anh để thanh lư các sản phẩm trị giá 2,500,000 Bảng Anh; và ông H. Norman, M.P. [? Member Parliament: Thành Viên Nghị Viện] (‘Far East’, trang 133), đă ước lượng rằng Bắc Kỳ đă gây tốn phí cho người thọ thuế Pháp 4,881 Bảng Anh một ngày, cho mọi ngày mà họ chiếm giữ nó.  Mọi thứ đều được trợ cấp – các thị trấn chính yếu, các tàu chạy bằng hơi nước, các tờ báo, rạp hát, các khách sạn, các thương gia, và mọi người; và phí tổn của việc này có thể tưởng tượng được.  Dĩ nhiên, sự bảo vệ là quy luật mọi nơi tại một thuộc địa của Pháp, và các sắc thuế nặng nề được đánh trên mọi sản phẩm nhập cảng, làm hạn chế mậu dịch, và đă ngăn cản ngay chính người Pháp dành được bất kỳ điều ǵ ngoài một phần chia nhỏ -- khoảng một phần tư – trong tổng số nhập cảng (Ireland, trang 150) [bản dịch phần liên quan đến Đông Dương của tác giả Ireland này đă được đăng tải trên Gió O, chú của người dịch].

 

Tổng số diện tích của Đông Dương là 200,000 dặm vuông, hay đúng hơn là diện tích trước khi có sự sáp nhập phía đông của Xiêm La.  Bây giờ ít nhất phải là 250,000 dặm vuông, nếu phần đất kể sau được nh́n nhận là sau rốt đă bị sáp nhập vào nước Pháp.  Tác giả Ireland nói rằng nó có diện tích là 270,000 dặm vuông (trang 155).  Cho đến năm 1896, Đông Dương làm Pháp tốn kém khoảng 33,000,000 Bảng Anh; trong năm 1897 ông Paul Doumer khởi sự các sự cải cách tài chính của ḿnh, và vào năm 1902, ông đă cân đối được số thu và các kinh phí, và từ 1902 đến 1906 Đông Dương đă hoàn trả cho Pháp khoảng 2,000,000 Bảng Anh như các chi phí về quân sự.  Làm sao mà ông Doumer đă t́m cách thực hiện được sự thay đổi kỳ diệu này, tôi không thể nói ǵ được; bởi ông có vẻ đă chi tiêu thoải mái cho các công tŕnh công chánh, v.v… trong mọi lúc; và, đă có một số kinh nghiệm về các sự kế toán Đông Phương, tôi phải thú nhận rằng một số sự ngờ vực về tính chính xác của các ngân sách Đông Dương gần đây đă băng ngang trong đầu óc tôi.  Các sự nghi ngờ này được xác nhận bởi ư kiến của một trong những người Pháp có thẩm quyền nhất, ông Leroy Beaulieu, kẻ phát biểu: “Các tài liệu thống kê chính thức về thuộc địa chúng ta không ngừng mâu thuẫn với nhau” (trích dẫn bởi H. Norman, trang 127).

 

 

PHẦN II

 

KHÁM PHÁ VÀ LỊCH SỬ

 

6. SỰ THÁM HIỂM TRƯỚC KHI CÓ SỰ CHINH PHỤC CỦA PHÁP

 

VÀ LỊCH SỬ BAN SƠ

 

       Từ các thời đại đen tối và xa xăm, từ lúc chạng vạng lờ mờ và u tối của các thời sơ khai, một tia sáng chập chờn yếu ớt đâu đó tới được chúng ta trong đó chúng ta nh́n thấy người dân của vùng ngày nay chúng ta gọi là Á Châu và Âu Châu sinh sống như các bộ lạc du mục, rải rác trên các ốc đảo thưa dân và ít có ở t́nh trạng bán canh tác (semi-cultivation), xen kẽ từng chặng hiếm hoi giữa những sa mạc, đầm lầy, và các cánh rừng lâu đời, khi con người vẫn không hơn ǵ một loại động vật đi lang thang trên mặt địa cầu.  Các khoảng cách giờ này có thể vượt qua bằng một số ngày khi đó không thể đo lường được về mặt thời gian và sự khó khăn, và phơi bày ra các trở ngại đáng sợ nhất cho việc giao tiếp giữa các bộ lạc chỉ cách nhau vài trăm dặm.  Trong tất cả tầm khoảng bao la của không gian từ các miền Bắc Cực (Arctic) đến Hắc Hải (Black Sea) có thể chỉ có ít sự giao tiếp giữa Á Châu và Âu Châu.  Bất kỳ sự giao tiếp nào đă hiện diện đều bị giới hạn vào vùng Caucasia, các bờ biển phía nam của Hắc Hải, Tiểu Á (Minor Asia), và Syria.  Đối với các xứ sở này, trong nhiều thời đại không thể biết rơ được, mọi hoạt động thương mại đă diễn ra giữa đông và tây đều bị hạn chế.  Các đế quốc sớm nhất mà chúng ta hay biết được bất cứ điều ǵ đă tăng trưởng tại góc tây nam của Á Châu mà giờ đây chúng ta gọi là Persia (Ba Tư), Mesopotamia [vùng Lưỡng Hà, nằm giừ hai con sông Tigris và Euphrates, bao gồm ngày nay nước Iraq, một số phần thuộc miền đông bắc Syria, đông Nam Thổ Nhĩ Kỳ, và tây nam Iran, chú của người dịch], Tiểu Á (Minor Asia) và xứ Syria, và phải đợi măi đến ít thế kỷ trước Thiên Chúa, các sắc dân Hy Lạp mới thành lập các Quốc Gia có thao tác bất kỳ ảnh hưởng nào tại Á Châu.

       Ảnh hưởng đầu tiên của Âu Châu trên Á Châu mà chúng ta có được bất kỳ tài liệu chi tiết nào là của Alexander xứ Macedon (*a); ảnh hưởng đầu tiên của Á Châu trên Âu Châu là ảnh hưởng được thấm nhập qua Tiểu Á đến bờ biển phía tây, và đă mang lại cho Ionia (*b) và các đảo ở vùng Levant (*c) sắc màu Đông Phương vốn đặc trưng cho chúng trong nhiều thế kỷ.

       Trong số các dân tộc và xứ sở của Á Châu, không vùng nào lại phải chờ quá lâu để được biết đến bởi các sắc dân Âu Châu, và là vùng bị bỏ quên không được tŕnh bày đến cho bằng vùng Ultrindia.  Đúng là cho đến giữa thế kỷ thứ mười chín, chỉ có các bờ biển của bán đảo Ultrindia là được hay biết, và phải chờ cho măi đến khi Henri Mouhot, Franҫois Garnier, và Auguste Pavie thực hiện các hành tŕnh mạo hiểm của họ ngược ḍng sông vĩ đại Mekong, chúng ta mới thực sự hiểu biết được bất kỳ điều ǵ đó về vùng nội địa của Đông Dương.  Từ xa xưa, có đến nhiều thế kỷ trước Thiên Chúa, các tin đồn mơ hồ về một vùng đất xa hơn Ấn Độ mà chưa phải là Trung Hoa đă tăng trưởng và mở rộng, nhưng không có kiến thức chắc chắn nào đă thu nhận được; và măi cho đến khi có mặt Pompinius Mela (*d), trong năm 43 sau Công Nguyên, sự đề cập cụ thể sớm nhất là về hai mỏm nằm quá các cửa con sông Ganges; nhưng ông dường như đă nghĩ rằng lục địa Á Châu chấm dứt ở đó, và rằng không c̣n ǵ khác bên ngoài hai mỏm đất này. 

       Vào khoảng năm 70 sau Công Nguyên, tác giả của tập “Periplus of the Red Sea” (*e) (một trong những sự đóng góp đầu tiên vào địa dư học) không thăm viếng nơi nào xa hơn về phía đông ngoài bờ biển Malabar tại Ấn Độ, và nghĩ rằng Chryse (*f) là một ḥn đảo.  

       Sự đề cập riêng biệt kế tiếp là bởi Ptolemy (*g), vào khoảng 130 sau Công Nguyên.  Ptolemy mô tả, và vẽ trong bản đồ của ông, một bán đảo to lớn, tḥ ra ở phía nam từ lục địa Á Châu, và tọa lạc tại phía đông các cửa sông Ganges; và v́ thế, ông là người đầu tiên xác định miền Ultrindia trong bất kỳ trường hợp nào, và ngay chính ông cũng hoàn toàn sai lầm về h́nh dạng của nó.  Trong suốt các thế kỷ đầu tiên sau Thiên Chúa này, nó được gọi là Chersonesos Aurea (*h), và được tin là vùng đất mà từ đó Solomon (*i) đă thu góp được vàng của ông.  Ông Pavie vẫn c̣n ủng hộ cho quan điểm này, nhưng điều đó cực kỳ bấp bênh.  Sau Ptolemy, có một khoảng giữa kéo dài cho đến khi Cosmas (*j), một tu sĩ, vào khoảng năm 550 sau Công Nguyên, mô tả đường biển sang Trung Hoa, và nhất thiết phải giữ theo hướng bắc sau khi đi ṿng quanh miền Ultrindia.  Ông đă là người đầu tiên gạt bỏ ư tưởng về một lục địa phía nam vĩ đại nằm hướng đông nam của Ultrindia.

       Sau sự việc này, các nhà mậu dịch theo Hồi Giáo (Muhammadan) (*k) và các kẻ phiêu lưu xuất hiện trên diễn trường, và trong năm 850 và 920 sau Công Nguyên, có các quyển sách mô tả đường biển đến Trung Hoa từ Sumatra, Bán Đảo Mă Lai, Căm Bốt, và Quảng Châu, nhưng chúng chỉ có sự tŕnh bày sơ sài nhất, và không có chi tiết nào về vùng Ultrindia (Clifford, trang 20).  Ibn Batuta (*l) trở về từ các cuộc du hành của ông khoảng năm 1347, nhưng ông đă không nói điều ǵ cho chúng ta về miền Ultrindia.

       Vào khoảng 1300 sau Công Nguyên, Marco Polo (*m) quay trở về, có lẽ từ Amoy, đến Vịnh Ba Tư qua ngả Eo Biển Malacca, nhưng ông không tŕnh bày về Ultrindia hay dường như không hay biết bất kỳ điều ǵ về nó, mặc dù ông chứng tỏ rằng đường biển đến Trung Hoa th́ nổi tiếng và được du hành nhiều vào thời điểm đó.  Friar Odoric (*n), người đă sống từ năm 1286 đến 1331, đă du hành qua Sumatra, Java, và Borneo, nhưng chỉ bổ túc ít cho kiến thức của chúng ta.  Trong hơn hai thế kỷ sau nhân vật này chúng ta không có thêm các cuộc du hành nào khác tại Đông Nam Á; và phải chờ măi cho đến năm 1500, sau khi Vasco da Gama (*o) đă đi quanh Mũi Cape và mang người Bồ Đào Nha đến vùng Đông Á Châu, chúng ta một lần nữa mới bắt đầu nghe thấy các vùng đất phía đông của Ấn Độ. 

      Người Ấn Độ và người Muhammadans, những kẻ lần lưột đă cải đạo cho nhiều, nếu không phải là hầu hết, dân bản xứ của vùng đông nam Ấn Độ, không bao giờ toan tính các cuộc chinh phục; nhưng người Bồ Đào Nha một lần nữa khởi sự thụ đắc đất đai, và cuộc viễn chinh đầu tiên là đến Malacca vào năm 1508, dưới sự chỉ huy của Lopez de Siqueira (*p).  Trong năm 1511 nhân vật vĩ đại Dalboquerque (*q) tự ḿnh lái thuyền đi đánh Malacca, và sau một cuộc bao vây, đă chiếm nó; và mặc dù nó đă được chuyển qua cho người Ḥa Lan và sau đó sang người Anh, nó không bao giờ được trả lại cho quyền lực bản xứ sau đó, và chính v́ thế, là khu định cư người Âu Châu thường trực (permanent) đầu tiên tại bán đảo Ultrindia.  Dalboquerque đă phái một ông Fernandez nào đó sang làm đại sứ tại Xiêm La, và đó là sự giao tiếp Âu Châu đầu tiên với vương quốc đó.  Trước khi rời đi sang Ấn Độ trong năm 1512, ông đă phái Dabren sang Borneo, Celebes, và nhiều đảo khác, và việc này đă là bước khởi đầu cho sự đô hộ của Bồ Đào Nha xa hơn về phía đông Eo Biển Malacca.  Dalboquerque mất vào năm 1515, và vào thời điểm đó, người Bồ Đào Nha đă làm công việc tốt để nắm giữ Mă Lai và các ḥn đảo.

       Trong năm 1526 người Bồ Đào Nha sáp nhập quần đảo Moluccas (Geram, Amboyna, v.v…, trên đường xích đạo ngay phía tây của New Guinea), và người Tây Ban Nha bắt đầu xuất hiện tại phương đông, mặc dù họ bị ngăn trở bởi chỉ dụ của Giáo Hoàng giao phương đông cho Bồ Đào Nha và phương tây cho Tây Ban Nha; nhưng sự thất trận của Armada (*r) đă mở đường vào năm 1588 cho người Anh và người Ḥa Lan, và giờ đây họ đă xuất hiện trên diễn trường từ khoảng năm 1600 (Clifford, trang 81).

       Song, người Bồ Đào Nha vẫn duy tŕ ưu thế của họ trong một số năm, và phải chờ gần đến năm 1630, quyền lực của họ mới suy giảm; và trước tiên người Ḥa Lan và sau đó người Anh đă đạt được quyền bá chủ.  Người Anh đầu tiên đến Miến Điện là Robert Fitch, trong năm 1586, nhưng trước nhân vật này, trong năm 1548,  người Bồ Đào Nha đă trợ giúp Nhà Vua của Pegu (nay thuộc Phân Hạt Hành Chính Bago, của Miến Điên, nằm cách Yangon khoảng 80 cây số.  Pegu vốn từng là kinh đô của Triều Đại người Mon trước đây, chú của người dịch) chống lại Xiêm La, và nhà vua đă hưng thịnh cho đến năm 1600, khi vương quốc của ông bị chinh phục bởi dân vùng Arakan (tên cũ, để chỉ Bang Quốc Rakhine State thuộc Miến Điên ngày nay, tọa lạc tại bờ biển phía tây.  Sắc dân Arakanese hay Rakhine chiếm hơn đa số một chút trên tổng số dân cư của bang quốc này, chú của người dịch) và Tunghú [có lẽ là cách viết xưa chỉ một sắc dân của Miến Điện, không thấy có tên trong danh sách 135 sắc dân được chính thức thừa nhận bởi chính phủ Miến Điện hiện nay. Nhiều phần để chỉ Triều Đại Taungoo hay Toungoo đă cai trị Miến Điện từ năm 1531 đến 1752, chú của người dịch].  Trong năm 1613 Nhà Vua xứ Ava [nay là một thành phố thuộc Phân Hạt Hành Chính Mandalay thuộc Miến Điên.  Ava là kinh đô của Miến Điện từ năm 1364 đến 1841, được thành lập bởi Nhà Vua Thadominbya trên một ḥn đảo nhân tạo ở giao điểm của hai con sông Ayeyarwady (Irrawaddy, sông lớn) và  sông nhỏ Myitnge bằng cách đào một con kinh nối liền hai con sông, chú của người dịch] dành được uy quyền trên toàn thể Miến Điện, và sự kiện này kéo dài cho đến khi có các cuộc chính phục của chính chúng ta trong các năm 1852 và 1885.

       Đă có một thuộc địa của người Bồ Đào Nha tại Xiêm La từ năm 1540 đến 1636, và cuộc thám hiểm đầu tiên các bờ biển của Đông Dương được thực hiện bởi họ trong các năm 1540-1541, dưới sự chỉ huy của F. Mendez Pinto (*s).  Ông đă đến đảo Pulo Kondor (Côn Đảo), một đảo ngoài Mũi Căm Bốt, mỏm đông nam của Đông Dương, và sau đó tại một trong các cửa khẩu của sông Mekong; từ đó, ông đă lái thuyền ngược lên dọc theo bờ biển Trung Kỳ, và băng qua đảo Hải Nam, và sau đó thăm viếng Bắc Kỳ.  Đây là cuộc thám hiểm Âu Châu đầu tiên tại Đông Dương, và được thực hiện khi người Bồ Đào Nha hăy c̣n là quyền uy chủ tể tại Phương Đông.  Người Bồ Đào Nha sau đó định cư tại Căm Bốt như họ đă làm tại Xiêm La, và họ đă khám phá ra hồ vĩ đại Tonle-Sap và các phế tích của khu đền Angkor Wat vào năm 1570.  Vào khoảng năm 1580, người Pháp tên Louvet (*t) đă thăm viếng châu thổ sông Mekong, và đă là người đầu tiên trong chủng tộc của ông đặt chân lên đất Đông Dương.

       Người Anh đầu tiên đến vùng Ultrindia, và tranh luận về quyền chủ tể của người Bồ Đào Nha là James Lancaster, * kẻ sau này đă chỉ huy hạm đội đầu tiên của Công Ty Đông Ấn Độ của Anh Quốc.  Ông đă tới Sumatra và Penang trong năm 1591, và đă bắt giữ ở đó nhiều thuyền của Bồ Đào Nha.  Ông bị buộc phải trở về Tích Lan và từ đó về lại Anh Quốc v́ bệnh tật trong thủy thủ đoàn.  Trong năm 1596 hạm đội đầu tiên của Công Ty Đông Ấn của Ḥa Lan tới Sumatra và Java, và đă hoạt động mậu dịch tại Batavia [tức Jakarta, thủ đô Nam Dương ngày nay, chú của người dịch].  Vào ngày 31 Tháng Mười Hai, 1599, điều lệ của Công Ty Đông Ấn của Anh được phê chuẩn và đoàn thuyền đầu tiên của Anh Quốc đă trương buồm tiến về Viễn Đông vào ngày 16 Tháng Hai năm 1600.  Lancaster, được cử làm chi huy trưởng, đă đến Sumatra vào Tháng Sáu, 1600, và đă buôn bán ở đó với Achin, và chiếm giữ một số chiến lợi phẩm Bồ Đào Nha đáng giá.  Ông đă để lại một văn pḥng môi giới và tám nhân viên tại Bantam, và đây chính là sự mở màn cho hoạt động mậu dịch tại phương Đông của Công Ty Đông Ấn của Anh Quốc.

       Trong năm 1605, người Ḥa Lan chiếm giữ quân đảo Molucca của Amboyna và Todor từ người Bồ Đào Nha, và trong năm 1641 họ chiếm giữ Malacca và trở thành nước Âu Châu hàng đầu tại Mă Lai và các ḥn đảo.  Trong năm 1682 người Ḥa Lan đánh đuổi người Anh ra khỏi Java, nhưng họ vẫn ở lại Sumatra, và trong năm 1795 người Anh chiếm cứ Malacca và giữ lại nó sau Hiệp Ước Vienna năm 1824, trao đổi nó với vùng Bencoolen, tại Sumatra.  Chính từ đó họ trở nên ổn định tại bán đảo Ultrindia.  Trong năm 1786 người Anh đă sang mượn Penang, và trong năm 1798 họ đă mua tỉnh hạt Wellesley.  Trong năm 1819 Ngài Sir Stamford Raftles (*u) đă thụ nhận được nhượng địa Singapur từ vị Lănh Chúa vùng Johor.  Trong năm 1871 chúng ta đă nhượng lại các quyền của chúng ta tại Sumatra cho người Ḥa Lan để đánh đổi cho sự từ bỏ của họ mọi quyền lợi tại Mă Lai, và trong năm 1874 chúng ta đă nới rộng sự bảo hộ của chúng ta lên tất cả các Bang Quốc bản xứ của Bán Đảo Mă Lai, phía nam biên giới Xiêm la, và chính từ đó, chiếm hữu toàn thể phía nam của vùng Ultrindia.

       Tôi xin nói ít lời về Xiêm La, bởi nhiều phần của nó giờ đây là Đông Dương.  Trong năm 1634 một trạm của Ḥa Lan được thiết lập tại Xiêm La, và hoạt động mậu dịch tiếp diễn trong nhiều năm cho đến năm 1740 khi người Ḥa Lan sau cùng đă rút lui.  Vào khoảng 1650, một người Hy Lạp, tên Falcon, đă tự ư định cư tại Bangkok, xin làm việc với Chính Phủ Xiêm La, và trong năm 1665 đă trở thành Thủ Tướng (Prime Minister); nhưng sau khi đưa phái Truyền Đạo Ḍng Tên (Jesuits) vào, ông đă bị hạ sát cùng với họ vài năm sau đó.

       Trong năm 1821, John Crawford (*v) được phái bởi nước Anh trong sứ bộ đến Bangkok và Huế, tại Trung Kỳ, và sứ đoàn này được xem là sự giao tiếp đầu tiên của chúng ta với Đông Dương.  Ngay khi đó ông đă t́m thấy một người Pháp đă định cư tại Sàig̣n, một ông Diard nào đó, và ảnh hưởng của Pháp đă sẵn nổi bật tại Triều Đ́nh An Nam ở Huế, mặc dù người Pháp đă không toan tính thụ tạo đất đai cho đến năm 1858.  Cả người Ḥa Lan lẫn các Công Ty Đông Ấn đều đă thiết lập các cơ xưởng tại Đông Dương không lâu sau năm 1600, và trong năm 1616 người Anh đă thiết lập một cơ xưởng tại đảo Pulo Kondor (Côn Sơn), nhưng đă sớm từ bỏ nó sau đó.  Trong năm 1635 Công Ty Đông Ấn của Ḥa Lan đă thành lập một cơ xưởng tại Nam Kỳ và bắt đầu cuộc thám hiểm đầu tiên con sông Mekong.  Trong năm 1641, các Quản Trị Viên [Công Ty] đă cử một đại diện ngược ḍng Mekong lên đến Vien Chan, nhưng người Ḥa Lan đă mau chóng từ bỏ các khu định cư của họ tại Nam Kỳ.  Sau khi người Ḥa Lan rời đi, người Bồ Đào Nha vẫn ở lại Nam Kỳ, và hành xử một tầm ảnh hưởng lớn lao cho đến khoảng năm 1700, tất cả họ đều bị hạ sát, và người Bồ Đào Nha không bao giờ quay trở lại.  Ảnh hưởng của Pháp gia tăng, và vào khoảng năm 1770 Giám Mục Pigneau de Béhaine đă xây dựng một nhà thờ tại Sàig̣n, và trong năm 1787 đă mang người con trai của Chúa Nguyễn sang Paris, và một hiệp ước với Pháp đă được kư kết.  Chính trên hiệp ước này mà người Pháp sau này dùng làm căn bản cho các quyền lợi của họ tại Đông Dương, mặc dù họ chẳng làm ǵ vào lúc đó, và vùng đất đă không được nhường lại cho họ.  Nhiều người Pháp quay lại Đông Dương cùng với Giam Mục Béhaine, và họ đă giúp Chúa Nguyễn chinh phục Trung Kỳ và Bắc Kỳ.  Giám Mục Béhaine mất năm 1789, nhưng Chúa Nguyễn đă nắm giữ cả ba vương quốc [sic] trong hai mươi năm, và đă khuyến khích sự định cư của người Pháp cho đến có sự băng hà của ông năm 1820.  Trong năm 1824, vị vua kế ngôi đă ngược đăi và trục xuất người Pháp, và trong năm 1851 một cuộc tàn sát thứ nh́ các nhà truyền đạo đă xẩy ra.  Trong năm 1857, Giám Mục Diaz bị giết chết, và Nam Kỳ bị xâm lăng, và sau hết, trong năm 1860, nó được nhường lại cho nước Pháp, và lịch sử hiện đại của Đông Dương đă khởi đầu.

       Trong năm 1859, một chế độ bảo hộ của Pháp đă được thiết lập trên Căm Bốt, và ít năm sau đó một cuộc nổi loạn đă bùng nổ, và Nhà Vua Norodom đă được lập lại trên ngai vàng nhờ vũ khí của Pháp, là thời điểm mà từ đó Căm Bốt thực sự trở nên một địa phương của Pháp.

       Trở lại Bắc Kỳ, phần đất cuối cùng trong các miền của Pháp hiện nay, một cơ xưởng Ḥa Lan hiện diện tại đó từ năm 1637 đến 1700, nhưng sau đó đă bị bỏ phế.  Đông Kinh (Bắc Kỳ) đă bị chinh phục bởi Đế Quốc An Nam trong năm 1788, và vẫn c̣n là một phần của Đế Quốc đó cho đến sau khi có cuộc thám hiểm của Dupuis về Sông Hồng, dẫn đến sự can thiệp của người Pháp, và nó đă được sáp nhập sau một cuộc đấu tranh dai dẳng kéo dài từ 1874 đến 1888.

       Chúng ta hiện giờ đă truy t́m, một cách ngắn gọn, lịch sử ban sơ của tất cả các Quốc Gia thuộc bán đảo Ultrindia, và giờ đây tôi muốn mang lại cho quư vị một vài sự tường thuật về các cuộc thám hiểm của ba người Pháp vĩ đại, Mouhot, Garnier và Pavie, đă thực sự dẫn đến sự sáp nhập bởi Pháp toàn thể vùng Đông Dương và phần phía đông của Xiêm La, vốn chưa từng bao giờ thuộc vào Đế Quốc An Nam.

7. SỰ THÁM HIỂM VÀ CHINH PHỤC CỦA PHÁP –

MOUHOT – GARNIER – PAVIE

       Câu chuyện về Henri Mouhot là câu chuyện cảm động nhất trong ba người, bởi Garnier đă chết khi đang giao tranh một cách can đảm tại Bắc Kỳ, và Pavie đă sống sót để viết pho sách vĩ đại của ông và biên soạn bản đồ mà quư vị trông thấy trước mặt quư vị, trong khi Mouhot đă chết v́ cơn sốt trong cô độc tại Luang Prabang, thủ đô của Lào, không bè bạn gần ông ngoại trừ các đầy tớ trung thành, các kẻ đă bảo tồn tất cả tài sản và đă gửi các nhật kư và mẫu thử nghiệm của ông sang Bangkpok, từ đó Tiến Sĩ Campbell đă chuyển chúng đến Jersey cho gia đ́nh của ông.

       Mouhot sinh tại Pháp năm 1826, và trước tiên, là một thầy giáo tại Nga Sô và Pháp, sau đó đă lấy nhiếp ảnh như một sinh kế và khoa học thiên nhiên làm sở thích (Mouhot, trang 20).  Khi có sự bùng nổ Cuộc Chiến Tranh Crimean War năm 1854 ông đă quay về Pháp, và du hành cùng người anh [hay em] của ông tại Đức Quốc, Ư Đại Lợi, và Ḥa Lan, lúc nào cũng làm việc chụp h́nh.  Trong năm 1856, kết hôn với một người đàn bà Anh Quốc, ông đă định cư tại Jersey và làm giáo sư; nhưng một quyển sách về Xiêm La đă khích động ước muốn thám hiểm của ông, và ông đă rời Anh Quốc vào ngày 27 Tháng Tư, năm 1858, và đă đến Bangkok ngày ngày 12 Tháng Chín.  Trước tiên ông đi lên Ayuthia, cố đô của Xiêm La, và vào các núi non quá nơi đó, nhưng ông đă phải quay trở lại, và sau đó khởi sự thám hiểm Căm Bốt và Nam Kỳ.  Ông đă đi xuống vùng bờ biển ở Chentában và xuyên qua tất cả các ḥn đảo đến Kampot; từ điểm đó ông du hành ngực lên lănh thổ phía trên đến Pnom-Penh, thủ đô của Căm Bốt.  Ông đi thuyền qua toàn thể chiều dài của hồ vĩ đại Tonle-Sap, và đă thăm viếng các ngôi đền vĩ đại tại Angkor Wat và Angkor Thom, sẽ được tŕnh bày sau này; kế đó ông đă tiến theo hướng bắc của Battambang và xuyên qua các ngọn núi đến Bangkok.  Từ Pnom-Penh ông đă thăm viếng các bộ lạc người Stien man rợ ở phía đông, và đă sống với họ trong một thời gian ở vùng biên giới với An Nam.


Henri Mouhot

       Sau khi nghỉ ngơi một thời gian tại Bangkok, ông đă khởi sự đi Lào và phần bắc trung bộ của Đông Dương.  Ông đă di ngang qua Ngọn Phrabat và Korat (nơi mà giờ đây là mút cuối của đường rầy xe lửa) và theo hướng chính bắc ông băng ngang qua vùng đất hoàn toàn chưa hề được biết tới và chưa bị khám phá, đúng là xuyên qua trái tim của Lào, lên tới Paklai, trên bờ sông Mekong.  Từ đó ông đi ngược ḍng sông lên tới Luang Prabang, thủ đô, và ông đă chết ở đó v́ bệnh sốt, mặc dù ông không hề gặp phải bệnh đó tại tất cả các vùng đầm lầy ở miền nam.  Ông mất vào ngày 10 Tháng Mười M0ột, năm 1861, và trong ba năm ngắn ngủi, ông đă thám hiểm toàn thể Căm Bốt và Lào và một phần lớn của Nam Kỳ và Xiêm La.  Ông đă là một nhà khoa học tự nhiên nhiệt thành, và đă thực hiện các sưu tập vĩ đại về các loài chim, côn trùng, và loại có vỏ như ṣ, ốc.  Ông mất đi ngay lúc ông có thể hy vọng thành công trong việc đi xuyên qua Bắc Kỳ, và như thế hoàn tất chu kỳ thám hiểm của ḿnh (Mouhot, trang 25).

       Ba bút kư sau cùng trong quyển nhật kư của ông là: “Ngày 18, Tháng Mười, -- Dừng lại tại H_____”; “Ngày 19 Tháng Mười, __ Bị tấn công bởi cơn sốt;” “Ngày 29 Tháng Mười, Chúa ơi, xin hăy thương tôi …” và từ đó là sự im lặng.  Các đầy tờ của ông đă chôn cất ông theo lối Âu Châu, và mang tất cả tài sản của ông sang Bangkok.  Các nhật kư của ông được bảo tồn và ấn hành trong năm 1864.

       Franҫoise [? Francis] Garnier là một loại người rất khác biệt.  Mouhot là một học giả, giáo sư, và nhà tự nhiên học, thám hiểm chỉ để thu thập các mẫu thí nghiệm đáng yêu quư của ông; nhưng Garnier là một kẻ thám hiểm, nhà hành chính, và một chiến sĩ nhiệt t́nh và nhiều tham vọng, kẻ thám hiểm đi t́m kiếm các vùng đất mới để nước Pháp yêu dấu của ông sáp nhập, và để thăng tiến chính ḿnh trong việc phục vụ nước Pháp.  Ông khởi sự với một sự thù ghét dữ dội nhất nước Anh, và hồi c̣n trẻ đă đặt các kế hoạch cho sự hủy diệt hoàn toàn nước Anh xuyên qua một liên đoàn thanh niên mà, dĩ nhiên, đă không đi đến đâu.  Sau này trong cuộc sống, khi anh ta thăm viếng Ấn Độ, anh ta đă thay đổi các quan điểm của ḿnh hoàn toàn, và ca ngợi sự quản trị của chúng ta một cách nhiệt thành.  Anh ta đă chứng minh sự chân thật của sự cải đổi quan điểm bằng việc kết hôn với một người vợ gốc Anh.

       Garnier đă đi sang Trung Hoa trong năm 1860.  Ságon đă bị chiếm giữ trong năm 1859, và khi chiến tranh với Trung Hoa kết thúc, Garnier đă đến Sàig̣n cùng với Đô Đốc Charnier trong Tháng Hai năm 1861.  Charnier giải vây cho Sàig̣n, và chiếm giữ Mỹ Tho [Maitho trong nguyên bản, chú của người dịch], và khoảng Tháng Mười, toàn thể vùng Nam Kỳ đă bị khuất phục.

       Garnier quay về Pháp, nhưng trong Tháng Sáu năm 1863, anh ta trở lại Đông Dương, và được bổ nhiệm làm một Thanh Tra Các Sự Vụ Bản Xứ (Inspector of Native Affaris) và được phong làm Viên Chức Quận Hạt Sàig̣n.  Tại nơi đây anh ta đă trù hoạch một cách quả quyết các sự thám hiểm của ḿnh, và trở nên thôi thúc bởi các khả tính của con sông Mekong vĩ đại.  Anh ta đă thúc đẩy các kế hoạch một cách mănh liệt, và sau cùng, trong Tháng Sáu năm 1866, một cuộc viễn thám được chấp thuận, nhưng anh ta, ở tuổi hai mươi bẩy, bị nghĩ là quá trẻ để chỉ huy cuộc viễn thám, và Đại Úy Doudart de la Grée, một thuyền trưởng đă được đăng danh, được chỉ định làm người lănh đạo.  Garnier đứng thứ nh́ trong hệ thống chỉ huy, và là người vẽ địa đồ và trắc địa.  Bốn viên chức Pháp khác đi theo đoàn viễn thám, và họ đă khởi sự trong Tháng Sáu, năm 1866.  Họ đă ngược ḍng Mekong từ Pnom-penh, và đi lên tới hồ nước vĩ đại Tonle-Sap.  Họ đă lên bờ và đi thăm viếng các phế tích nổi tiếng của khu Angkor Wat, và đi đến Siem-Rep.


Francis Garnier

       Trong Tháng Bẩy đoàn viễn thám của De la Grée bắt đầu cuộc tiến bước ngược ḍng Mekong.  Vào ngày 9 họ đă phải từ bỏ các chiếc thuyền vũ trang của ḿnh.  Họ sớm đến vùng nước chảy xiết của Sombor, và Garnier nh́n thấy các niềm hy vọng của anh ta về sông Mekong như có thể hải hành măi đến tận Trung Hoa là hoàn toàn không thể chống đỡ được.  Vào ngày 21 Tháng Bẩy họ tới Stung-treng, và từ đó tiến bước trên ḍng Mekong theo độ cao, khảo sát ḍng nước đă đổ vào nó.  Vào ngày 11 Tháng Chín họ tới Bassak, bên biên giới với Xiêm La, và họ đă ở lại đây cho đến Giáng Sinh; nhưng Garnier đă làm một cuộc du ngoạn trở lại vùng Stung-treng, và nhận thấy toàn vùng phía nam địa điểm đó đang trong cuộc nổi loạn.  Hoạt động mậu dịch từ sông Mekong chỉ diễn ra xuôi hướng nam đến vùng châu thổ, và từ Sàig̣n ngược măi lên đến tận Bassak.  Phía bắc địa địa điểm đó đi theo hướng tây xuyên qua Korat đến Bangkok.

       Trong khi đoàn thám hiểm chính dừng lại tại Ubon, Garnier đă thực hiện cuộc khảo sát nổi tiếng của anh ta về phía nam qua ngả Sankea đến khu đền Angkor Wat, và anh ta đă đến Siem-Reap hôm 29 Tháng Một năm 1867, và đên Pnom-penh một tuần sau đó.  Anh ta đă nhận được các thư tín và dụng cụ của ḿnh, và đă quay lại Ubon vào ngày 26 Tháng Hai, và đến Uten vào ngày 10 Tháng Ba, đi theo huớng mà đoàn viễn thám đă tiến bước từ Ubon.  Anh ta đă khảo sát 1,000 dặm, hai lần đi qua các ranh giới phe nổi dậy, ấn định nhiều thắng tích, và chứng tỏ ḿnh là một nhà thám hiểm thượng thặng.

       Vào ngày 24 Tháng Ba họ đến được Nong-kai.  Cố đố của Lào, Vien-chan, nằm gần nơi đây; nó bị chiếm giữ và hủy diệt bởi người Xiêm trong năm 1820.

       Đoàn viễn thám đi theo ṿng uốn khúc rộng lớn của sông Mekong quay qua hướng tây, và đến Paklai vào Tháng Tư năm 1867, ch́nh từ đó, vượt qua đường đi của Mouhot.  Vào ngày 29 Tháng Tư họ đă đến Luang Prabang, thủ đô của Lào.  Ở đó họ đă t́m ra ngôi mộ của Henri Mouhot, và đă dựng một đài tưởng niệm trên đó.  Trong năm 1836, Tướng McLeod đă xâm nhập đến sông Mekong qua ngả Zimme và Kiang-tung, ở vĩ độ 210, và ông ta đă đến một địa điểm cao hơn trên sông Mekong mà Garnier đă vươn tới, khi kẻ đến sau này bị buộc phải quay sang hướng đông.  McLeod đă cố gắng xâm nhập vào vùng Vân Nam, nhưng không thành công, và đă quay trở lại xuyên qua các Bang Quốc người Shan đến Maulmain; tuy nhiên, ông ta đă là người Âu Châu đầu tiên đến viếng thăm khu Thượng Lưu sông Mekong.

       Garnier và các người đồng hành sau đó đă đi ngược ḍng sông Mekong.  Họ đă trải qua hết các Tháng Bẩy, Tám, và Chín để lội một cách chậm răi ngược ḍng con sông, và băng qua biên giới vào lănh thổ Trung Hoa.  Ở đó, vào ngày 8 Tháng Mười, sau cùng họ đă rời con sông Mekong, với sự luyến tiếc lớn lao.  Cuối cùng, sau mười tám tháng của nỗ lực gian khổ nhất, và phải đối diện với các sự nguy hiểm mọi loại, họ đă đến được thành phố Trung Hoa đầu tiên, Szemao tại Vân Nam, và, như chính Garnier đă nói, họ là những người Âu Châu đầu tiên từng bước chân vào Trung Hoa từ phía nam và từ Đông Dương.  Họ đă đến thành phố Vân Nam trong Tháng Mười Hai, và đă được đối xử tốt đẹp ở đó.  Viên Tổng Đốc đă cấp cho họ 5,000 phật lăng, nhưng từ chối không cho phép họ tiến tới Talifu (Đại Lư phủ), như họ mong muốn, để truy t́m sông Mekong tại nguồn gốc của nó.  Họ đă rời Vân Nam vào ngày 8 Tháng Giêng, năm 1868, và gần như tức thời, De la Grée mắc chứng sốt, và đă phái Garnier t́m cách đến phủ Đại Lư.  Garnier đă vượt qua chi lưu phía nam của sông Yang-tse-Kiang (Dương Tử Giang), và trong Tháng Ba anh ta tiến vào Đại Lư phủ; nhưng viên Tuần Phủ đă ra lệnh anh ta phải tức thời quay trở lại, và anh ta đă rời đi trong hai ngày.  Đại Lư phủ là thủ phủ của quân nổi đậy người Muhanmadan, những kẻ khi đó thống trị miền Bắc Vân Nam.

       Trong Tháng Tư anh ta nhận được một lá thư thông báo về sư từ trần của De la Grée, kẻ đă mất hôm 12 Tháng Ba.  Vào ngày 5 Tháng Tư, anh ta đă mở mộ để thu hồi thi thể của De la Grée, và mang nó theo anh ta đi về hướng bắc cho đến khi anh ta đến Su-chau [?] bên ḍng sông Dương Tử, và từ đó lấy tàu đi xuôi xuống Hankau [? Hán Khẩu] vào ngày 27 Tháng Năm.  Như thế đă chấm dứt một trong các cuộc thám hiểm phiêu lưu nhất từng được thực hiện, và cuộc thám hiểm đầu tiên đă không chỉ xuyên qua Đông Dương từ nam ra bắc, mà c̣n xâm nhập Vân Nam cho đến sông Dương Tử, và quay trở về theo con sông đó đến Thượng Hải.  Họ đă về đến Sàig̣n hôm 28 Tháng Sáu, sau hai năm và một tháng vắng mặt.  Phần công lao lớn hơn phải dành cho Garnier – ư tưởng và của anh ta, và anh đă thực hiện hầu hết mọi việc vẽ bản đồ và trắc lượng địa chính, ngoài việc đơn thân tiến hành cuộc thám hiểm nguy hiểm đến Đại Lư phủ; nhưng các cung cách tế nhị và ḥa dịu của De la Grée đă làm cho đường đi của phái đoàn được suông sẻ.  Garnier đă quay trở lại Âu Châu, và đă viết một tập tường thuật tỉ mỉ công tác của ḿnh, đă được ấn hành ngay trước khi có sự từ trần của anh ta.  Sau đó, anh ta quay trở lại Bắc Kỳ, và điều kế tiếp chúng ta nghe được về anh ta rằng anh đă chết khi giao tranh một cách can đảm tại Hà Nội là nơi anh ta chiếm giữ.  Garnier được phái ra Hà Nội, trong Tháng Mười Một để dàn xếp các sự tranh chấp của Dupuis, một nhà mậu dịch và kẻ phiêu lưu gốc Pháp, với các quan chức.  Dupuis đă băng ngang Vân Nam từ sông Dương Tử đến Bắc Kỳ, và đă cố gắng chuyên chở về lại thành phố Vân Nam một chuyến hàng muối; các quan chức từ chối không cho phép Dupuis tiến hành.  Garnier tuyên bố sông Hồng được mở ngỏ cho mọi người, và chiến tranh được tuyên chiến.  Garnier chiếm giữ thành Hà Nội hôm 20 Tháng Mười Một, và dần dần chiếm đoạt tất cả vùng Hạ Bắc Kỳ, nhưng người dân Bắc Kỳ đă kêu gọi sự trợ giúp của quân Cờ Đen từ Trung Hoa, và Garnier đă bị hạ sát trong một cuộc xuất quân từ Hà Nội hôm 21 Tháng Mười Hai, năm 1873.


(Lễ phục của ông Nguyễn Tri Phương bị Garnier
cướp đọat như một thắng lợi phẩm khi chiếm đóng Hà Nội.
Lễ phục này đang được chưng bày tại một
Bảo Tàng Viện ở Pháp

       Giờ đây tôi xin nói đến người thứ ba trong các nhà thám hiểm vĩ đại của chúng ta, Auguste Pavie; và sau đó tôi phải nói vài lời về ông Hoàng Prince Henri d’Orleans, kẻ đă là người đầu tiên băng ngang từ Vân Nam vào An Nam.  Pavie khởi sự phục vụ chính phủ Xiêm La và khảo sát địa chính đường dây điện tín từ Bangkok đến Battambang.  Vào cuối năm 1885, Pavie tiến tới Luang Prabang, thủ đô của Lào; trong năm 1887 ông đă thực hiện một hành tŕnh từ đó vào Bắc Kỳ, và trong năm 1888 đă được gia nhập bởi hai người Pháp, Đại Úy Cupet và Trung Úy Nicolin.  Trong các năm 1888-1889, Cupet đă khảo sát địa chính toàn thể vùng đất phía nam và đông sông Mekong, xuống đến tận Căm Bốt, và băng ngang sông Mekong cho tới Menam.  Trong năm 1893, ông đă được bổ nhiệm để biên tập cho bản đồ vĩ đại của Pavie, hiện đang trước mặt quư vị.  Đại Úy de Malglaive, ông Harmand, và Đại Úy Rivière tất cả đều làm công tác khảo sát địa chính vùng Lào và Bắc Kỳ dưới quyền hay cùng với ông Pavie từ năm 1888 cho đến 1894, và công việc của họ đă tạo thành nền tảng cho công tŕnh vĩ đại của ông Pavie, “Mission Pavie Indo-Chine” (Sứ Mạng Của Pavie tại Đông Dương), trong năm tập khổ giấy in gặp làm tư (1902), và bản đồ với tỷ lệ lớn của Đông Dương, mà quư vị nh́n thấy trước mặt ḿnh, và là một tác phẩm đồ sộ trong ngành.


Pavie

       Ông Hoàng Henri d’Orléans, sau khi khảo sát phần lớn vùng Trung Á Châu và Tây Tạng, đă khởi sự trong Tháng Một, năm 1895, để băng ngang từ Bắc Kỳ xuyên qua Vân Nam đến Assam.  Ông ta đi ngược sông Hồng lên đến Lào Kai, thị trấn biên cương; sau đó ông vượt biên giới đến Manhao (Mạn Hảo), và đi theo sông Hồng xuyên qua Vân Nam cho đến Isa, nơi ông quay sang hướng tây đến thành phố Szemao, và tới sông Mekong tại Dayaken.  Ông ngược ḍng Mekong đến thành phố Chunning, và từ đó tách ra để đến Đại Lư phủ.  Sau đó ông quay về lại sông Mekong, và ngược ḍng thẳng đến vĩ độ 280 ở Tse-kon, nơi biên giới của Tây Tạng.  Từ đó ông đi theo hướng tây, băng ngang sông Salwin, một con sông vĩ đại khác, và sau đó sông Irawadi, và đi xuyên qua các bộ lạc Khámti, ông tới vùng Mishmi, và đă được giải cứu bởi các người bản xứ thân thiện khi ở giai đoạn cuối cùng của sự kiệt sức và tuyệt vọng.  Sau cùng ông đến được trạm Assam của Sadiya, nơi ông được đón tiếp bởi người Anh trong Tháng Mười Hai, và sau đó, ông đi xuôi xuống Bramaputra để đến Calcutta (“Tonkin to India”, trang 351).


Henri D'orlans

 

8. NGƯỜI KHMERS VÀ CÁC ĐỀN ĐÀI CỦA HỌ,

KHU ANGKOR WAT VÀ ANGKOR THÔM

       Sâu trong nội địa Căm Bốt, gần hồ nước vĩ đại Tonle-Sap, là các phế tích kỳ diệu và mênh mông của khu đền Angkor Wat và Angkor Thôm.  Sự tường thuật đầu tiên về các phế tích này mà tôi đă đọc được là trong quyển “Vagabond in Asia” của ông E. Candler, và tôi đă sững sờ bởi sự mô tả của ông về các phế tích hùng vĩ này.  Tiến Sĩ J. Macgregor cũng đưa ra một sự tŕnh bày cuộc thăm viếng của ông đến các khu này trong quyển sách của ông, “Through the Buffer States”, và đưa ra cùng sự mô tả hàng dặm dài các kiến trúc oai nghiêm được phủ bằng các h́nh chạm trỗ với sự tŕnh bày tỉ mỉ và thanh nhă nhất, và c̣n giữ được ở một mức độ lớn lao vẻ đẹp và sức mạnh của chúng, cho dù chúng bị ch́m vào trong các khu rừng nhiệt đới, bị phủ lấp bởi cây mọc rậm rạp, hoang vắng và bị bỏ phế bởi con người.  Các sự tường thuật về các phế tích này cũng được t́m thấy trong quyển “Further India” của Hugh Clifford, và trong quyển “L’Indo-Chine Franҫaise” của Paul Doumer; và chúng cũng được mô tả trong quyển “Antiquities of Cambodia” của J. Thomson, và trong quyển “Land of the White Elephant” của Frank Vincent.  Tôi cũng có thể giới thiệu với quư vị quyển “Travels” * của Henri Mouhot, bởi ông đă là người Âu Châu đầu tiên mô tả chúng trong thời hiện đại, mặc dù người Bồ Đào Nha đă biết đến chúng rất lâu trước đây, ngay từ 1564.  Trong tất cả các tác phẩm này, quư vị sẽ t́m thấy cùng các sự biểu lộ ḷng thán phục và sửng sốt vào lúc khám phá ra các phế tích nguy nga và vĩ đại này, cách xa bất kỳ thành phố hay con sông to lớn nào, bị bỏ rơi nhưng không triệt hủy, che phủ với sự trang trí tỉ mỉ nhất, và vẫn c̣n kháng cự với sức mạnh vững chắc của chúng trước các sự tấn công của thời gian và các sự xâm lấn của cây lá và rừng rậm bao quanh chúng.  Tôi không thể vào giờ phút muộn màng này mang lại cho quư vị điều ǵ khác hơn là các chi tiết thoáng nh́n mau nhất về các phế tích hùng tráng này; nhưng tôi có giới thiệu với quư vị các quyển sách mà tôi vừa trích dẫn ở trên, và đặc biệt đến các h́nh ảnh được đưa ra bởi các tác giả Thomson, Clifford, Fournereau, và Vincent.  Ông Mouhot nói rằng các phế tích này không có đốí thủ tương đương ở bất cứ nơi nào trên trái đất.  Candler nói, “Các giấc mơ hoang đường nhất của tôi về Angkor Wat đă được thể hiện như hơn dự tưởng.  Tôi sẽ không toan tính để mô tả những ǵ tôi đă nh́n thấy – điều đó sẽ không được tin tưởng.”

       Angkor Wat là một kiến trúc mênh mông, được thiết kế như một đền thờ và tu viện, và có chu vi dài ba dặm Anh (miles) nằm bên trong các đường hào; Angkor Thôm là một thành phố bị bỏ phế; và ngoài hai thắng tích này c̣n rải rác tại Căm Bốt, Lào và Xiêm La, các đền thờ và phế tích cho thấy một t́nh trạng cao độ của nền văn minh vào lúc chúng được xây dựng.  Nền văn minh này như thế nào chúng ta không hay biết; từ lúc nào nó khởi đầu, nó đă tiến triển ra sao, và làm sao mà nó lại rơi vào sự suy vi là các điều bí mật mà lịch sử sẽ, có lẽ, không bao giờ phát giác ra được.

       Người dân được gọi là người Khmers hay Kumers; nhưng thực sự chúng ta khó hay biết bất kỳ điều ǵ về họ.  Về lịch sử của họ chỉ có ngần ấy điều được biết đến, rằng họ đă cư trú tại Căm Bốt và thung lũng của sông Mekong từ thời điểm rất sớm; và rằng họ hẳn đă vươn tới một t́nh trạng rất cao của nền văn minh và sự tổ chức trong những thế kỷ ban đầu sau Thiên Chúa.  Thành phố Angkor Thôm được giả định đă hiện hữu trước kỷ nguyên Thiên Chúa [sic], và các đền đài của Angkor Wat chắc chắn đă được hoàn thành vào khoảng thế kỷ thứ năm hay thứ sáu.  Từ cổng chính đến lối vào chính của ngôi đền cách nhau 1,000 bộ Anh (feet), và ṭa nhà chính dài 796 bộ Anh và rộng 588 bộ Anh; ngôi chùa trung tâm cao 250 bộ Anh, và điều đă được chiết tính rằng đă có hơn 100,000 h́nh ảnh được chạm trỗ riêng biệt trên tường mặt ngoài của ngôi đền.  Toàn thể đá xây dựng được mang đến từ nơi cách xa 30 dặm Anh, và một số tảng đá nặng đến 8 tấn.  Hầu như mọi viên đá đều được chạm khắc, một số với h́nh tượng Ấn Độ Giáo và một số với h́nh tượng Phật Giáo.  Angkor Thôm, thành phố phế tích, bao gồm 24 dặm vuông.  Hai thắng tích Angkor này được đề cập đầu tiên trong năm 1296 bởi một sứ giả Trung Hoa được phái sang Căm Bốt vào thời đại của Kublai Khan vĩ đại; và sự đề cập đầu tiên đến chúng bởi các người Âu Châu là vào năm 1570.

       Cuộc thăm viếng của Trung Hoa cho thấy rằng Đế Quốc Khmer đă sẵn bị suy tàn vào khoảng năm 1300 sau Công Nguyên; bởi nó phần nào thần phục Trung Hoa.  Không có sự hiểu biết nào về lư do tại sao thành phố và các ngôi đền lại bị bỏ phế như thế vào khoảng năm 1550, nhưng điều được phỏng định rằng nạn động đất [sic] chứ không phải bệnh dịch đă là nguyên do.  Người Khmers có lẽ có nguồn gốc từ Ấn Độ, chứ không phải từ Mông Cổ, và đế quốc của họ được giả định đă kéo dài từ khoảng 200 đến 1500 sau Công Nguyên, nhưng không có điều ǵ được hay biết thực sự.

       Tôi đă hy vọng để nói một ít lời về các quan hệ giữa Pháp và Xiêm La, về cuộc tranh chấp kéo dài của chúng và các kết quả của cuộc tranh chấp; và cũng để nói v́ các vi thế của Pháp và Anh tại vùng Ultrindia, và về các xác xuất trong tương lai; nhưng thời lượng không cho phép, và tôi phải đi đến chỗ kết luận.

       Nhưng ai trong chúng ta đă từng phục vụ tại các nước nhiệt đới, và hay biết về các khó khăn và giật lùi trong sự quản trị và kiểm soát tại các vùng đất nhiệt đới và với các dân tộc nhiệt đới, sẽ là những người đầu tiên có cảm t́nh với các người bạn Pháp của chúng ta – liệu tôi có thể gọi là đồng minh hay không? – trong các nỗ lực sáng chói mà họ đă thực hiện trong mười năm cuối vừa qua để giới thiệu trật tự và văn minh cho các người dân đă quen sống trong nhiều thế kỷ giữa sự cướp bóc và bạo lực, và cầu chúc họ được mọi sự thành công trong các sự cố gắng can trường của họ, vốn đă làm họ hao phí sinh mạng của quá nhiều các nhà thám hiểm và viên chức tài giỏi nhất và can đảm nhất của họ.

       Tôi đă cố gắng, thưa quư bà và quư ông, để tŕnh bày với quư vị về các sự phân chia của xứ sở vĩ đại này, và để phác họa địa lư h́nh thể của nó – sự quản trị chính trị và các tuyến giao thông của nó.  Tôi đă gắng sức để mang lại cho quư vị một sự tŕnh bày ngắn về lịch sử và sự khảo sát  nó cho đến thời hiện đại, và sau đó về các nỗ lực tận tụy và thành công của các nhà thám hiểm Pháp; và sau cùng, tôi đă cố gắng để tạo sự chú ư của quư vị đến các di tích kỳ diệu của nền văn minh Khmer mà chúng ta chỉ hay biết đến quá ít, và về những ǵ mà chúng ta hẳn phải mong ước được biết thật nhiều.  Sự nghiên cứu xứ sở vĩ đại này – lịch sử và các tính chất cụ thể cùng địa dư của nó – tăng trưởng trên từng người một, khi người ta hiểu biết nhiều hơn nữa; và nếu tôi sẽ khuyến dụ được ngay cả hai hay ba người trong quư vị để học hỏi một số trong nhiều tác phẩm giá trị đă xuất bản về đề tài này, và để cảm nhận một sự lưu tâm sâu xa về vùng Ultrindia hơn mức quư vị đă cảm thấy cho đến giờ, tôi hẳn sẽ phải cảm thấy đă được đền bù một cách đầy đủ cho điều mà đối với tôi là một việc làm v́ ḷng yêu thích.

***

PHẦN THẢO LUẬN

NGÀI SIR THOMAS HOLDICH:   Tôi nghĩ nếu tôi chỉ phải phát biểu ư kiến về buổi họp nói chung, tôi sẽ nói rằng tôi rất tiếc Tiến Sĩ Tupp đă đi đến kết luận cho bài thuyết tŕnh của ông quá sớm.  Chúng tôi có thể lắng nghe với sự lưu tâm lớn lao nhiều hơn nữa từ bài thuyết tŕnh, đặc biệt như về các  mối quan hệ giữa Pháp và Anh Quốc liên quan đến xứ sở phương Đông mà diễn giả đă nói đến.  Tôi rất tiếc rằng chính tôi không có sự sự quen biết thực tế nào với phần đất đó của thế giới.  Sẽ là điều sung sướng vô biên đối với tôi để được nh́n thấy các phế tích như những phế tích mà chúng ta đă được nghe thấy.  Tôi chỉ có thể nghĩ rằng ở một tầm mức nào đó, chúng vượt qua các phế tích kỳ diệu tại các khu rừng trung tâm của Tích Lan ở Anuradhapura; và có vẻ khá chắc chắn, từ sự tŕnh bày mà diễn giả đă thuật lại cho chúng ta, rằng chúng chính yếu có nguồn gốc Ấn Độ Giáo, chứ không phải từ Phật Giáo.

NGÀI SIR FREDERIC FRYER, đáp lại một lời mời phát biểu của Chủ Tịch, có nói: Khi tôi ở Miến Điện, chúng tôi đă có nhiều sự trao đổi thông tin với người Pháp về chủ đề phân định ranh giới.  Có một lúc đă có ư định thành lập một Quốc Gia trái độn nằm giữa Indo-China và Burma, và một Ủy Hội đă thực sự được bổ nhiệm với mục đích phân định các ranh giới của Quốc Gia trái độn đề nghị, nhưng sau cùng ư tưởng đă bị bỏ rơi như là không thể thực hiện được.  Phần đất chiếm hữu duy nhất mà Miến Điện đă có bên phía đông của sông Mekong là Bang Quốc người Shan ở Mongsin.  Phần đất này đă bị tuyên nhận bởi người Pháp, nhưng không có sự chứng minh cụ thể nào cho lời tuyên xác được t́m thấy cho đến nay, và điều đă được quyết định là chiếm giữ Mongsin với binh sĩ.  Theo đó, chúng ta đă phái một cánh của một trung đoàn Goorka đến đó, và họ đă ở lại trong ba hay bốn năm.  Kế đó diễn ra hiệp ước 1896 với Pháp, theo đó sông Mekong được lập thành ranh giới giữa hai khu vực ảnh hưởng của Anh và Pháp.  Chính v́ thế Mongsin bị nhường lại cho Pháp và binh sĩ chúng ta đă rút ra.  Tôi tin rằng [Lănh Chúa] Sawbwa của vùng Mongsin đă thích thú nhiều khi điều này xảy ra, bởi ông ta đă nghĩ ông sẽ được sự độc lập nhiều hơn và hành xử thẩm quyền lớn hơn dưới chủ quyền của Pháp hơn là của Anh.  Nhưng ông ta rất sớm có cơ hội để thay đổi ư nghĩ, và ông ta sẽ rất han hoan nếu Miến Điện sẽ kéo ông ta trở lại một lần nữa, nhưng dĩ nhiên, đó là điều bất khả.  Chúng ta chưa hề có bất kỳ các sự tranh chấp nghiêm trọng nào với Xiêm La về các vấn đề biên giới.  Vào năm 1892 chúng ta đă phái một đoàn thám hiểm đến chiếm đóng xứ Karen ở phía Đông (Eastern Karenni), nơi các cư dân đă nổi dậy chống lại Nhà Vua Thibaw trước khi chúng ta chiếm cứ miền Thượng Miến.  Các nhà chức trách Xiêm La đă ḍ hỏi một cách rất tử tế để xin phép phái một lực lượng đến trợ giúp chúng ta.  Trong đường hướng thích đáng, người Karen[nis] đă nh́n thấy lẽ phải, nhưng lực lượng Xiêm La vẫn c̣n ở lại đó, và chúng ta đă phải dành vài năm trong các nỗ lực ngoại giao để khuyến dụ họ quay trở lại đất nước của họ, bởi họ chẳng có bất kỳ việc ǵ để làm tại Karenni.  Cuối cùng, khi các cuộc thương thảo trở nên vô ích, một lực lượng đă được phái lên và các binh sĩ Xiêm La đă bị trục xuất.  Nhưng trong khi đó họ đă đốn nhiều khu rừng cây gỗ teak rất có giá trị và mang gỗ teak này đi.  Anh Quốc vẫn c̣n một khiếu tố chống lại Xiêm La về tổn hại đă gây ra cho các khu rừng gỗ teak, nhưng tôi không nghĩ có bất kỳ ư định nào hiện nay để thúc đẩy lời khiếu tố đó.  Đă không có mấy sự giao tiếp giữa các sĩ quan của ta với các sĩ quan Pháp tại Đông Dương, nhưng tại tỉnh biên giới Kengtung người Pháp đôi khi t́nh cờ gặp gỡ các sĩ quan của chúng ta.  Chúng ta có một đường dây bưu điện được thiết lập giữa Kengtung và trạm của Pháp gần nhất, và bởi người Pháp đôi khi qua lại theo đường đó, có thể nói rằng sự truyền thông thường lệ được duy tŕ giữa hai nước.  Hiện tại, các quan hệ của chúng ta với Pháp tại Miến Điện hoàn toàn thân thiện, và tôi thấy không có lư do nào khiến chúng không giữ nguyên như thế, đặc biệt giờ đây người dân Anh đang là các người bạn tuyệt hảo biết bao với người Pháp.

NGÀI SIR THOMAS HOLDICH: Thiếu Tá Molesworth Sykes, người ở đây với chúng ta hôm nay, có một sự hay biết tường tận về các cuộc du hành của Marco Polo hơn bất kỳ ai mà tôi quen biết.  Có lẽ ông có thể nói cho chúng ta là liệu các văn bản của Marco Polo có soi sáng được nhiều vào đề tài Đông Dương hay không.

THIẾU TÁ MOLESWORTH SYKES: Tôi sợ rằng sự nghiên cứu của ḿnh về Marco Polo chính yếu được nhắm đến các cuộc du hành của ông ta đến vùng Persia (Iran), nhưng tôi có lẽ có thể nói ít lời về lư đó tại sao ông ta đă thực hiện cuộc hành tŕnh sang Trung Hoa.  Như quư vị hay biết, chính như một đứa trẻ mười sáu tuổi khi tháp tùng cha và chú của ông trong một cuộc hành tŕnh khác thường mà họ đă thực hiện, kéo dài khoảng ba năm, băng ngang Á Châu từ đông sang tay để thăm viếng Kublai Kaan, * là kẻ đă được đề cập tới trong buổi chiều hôm nay.  Kublai Kaan lưu tâm đặc biệt đến Marco, một kẻ quan sát rất tinh ư, đă có khả năng mang lại sự thú vị của Kaan trong một chuyện kể hay ho, một khoái cảm được chia sẻ bởi thật nhiều người Đông Phương.  Bất kỳ khi nào Marco được phái đi theo một cuộc viễn thám, khi trở về anh ta đă thuật lại một cách sống động cho Nhà Vua Kaan những điều anh ta đă nh́n và nghe thấy, nhiều đến nỗi vị vua Kaan đă từ chối để nghĩ về việc cho phép gia đ́nh Polos được rời khỏi triều đ́nh của ông.  Hai mươi năm đă diễn ra trong cung cách này.  Người cha và chú của Marco trở nên già cả, và chính anh ta đă bước vào tuổi trung niên.  Một sứ bộ đến từ Triều Đ́nh Persia yêu cầu Kublai gả một trong các cháu gái của ông cho vị Vua (Khan) của xứ sở đó – bởi họ không được gọi là Shahs vào thời điểm đó.  Marco đă bịa chuyện với các sử giả, và nói rằng anh ta biết con đường tốt nhất cho họ để quay về nhà, và sẵn ḷng hướng dẫn họ đến đó.  V́ thế họ đă thỉnh cầu Kublai Kaan cho phép ba người Âu Châu hường dẫn họ quay trở lại Persia, và Vua Nguyên đă ưng thuận.  Họ khởi hành với một đoàn tùy tùng đông tới 700 người, nhưng khi đến Bandar Abbas chỉ c̣n lại tám hay chín người, tất cả những kẻ khác đều đă chết trên đường đi.  V́ thế tôi nghĩ chúng ta có thể đi đến kết luận rằng khí hậu tại vùng đất cá biệt đó của thế giới không thật thích hợp cho sự điều dưỡng.  Vị công chúa là một trong ít người c̣n sống sót, và khi đến được kinh đô, cô ta nhận thấy vị chúa tể mà cô sẽ kết hôn đă chết được mấy năm.  Tuy thế, cô ta đă giải quyết vấn đề một cách hoàn toàn thân ái, bằng cách lấy người con trai của vị vua đă mất; và Marco Polo, chú và cha ông sau đó đă quay trở về Venice một cách an toàn.  Hành tŕnh mà tôi vừa nói đến được đi theo đường biển, và điều cần ghi nhớ rằng sự giao thông giữa Trung Hoa và Persia bằng đường biển đă được hay biết ngay từ măi tận thế kỷ thứ tư sau Công Nguyên.  Các thuyền buồm của Trung Hoa được thuật lại có mặt tại Shat-ul-Arab, một nơi nào đó gần Busra ngày nay, bởi Masudi.  Trong thế kỷ thứ mười, chúng đă đi tới mũi Hormuz, ở cửa vịnh Ba Tư (Persian Gulf).  Các hành tŕnh như thế hẳn đă được đài thọ khi các triều đại tiến bộ ngự trị, và chúng ta chỉ có thể xem sự lưu thông là có tính cách phi thường.  Khi người Bồ Đào Nha xuất hiện tại vùng Vịnh, chỉ có các truyền thuyết để chứng nhận cho sự hiện hữu của nó.  Nhưng truyện tích một sự lưu thông như thế đă hiện hữu lại bị bác bỏ bởi một vị giáo sư về Trung Hoa tại một trong các trường đại học của chúng ta là người mà tôi đă viết thư khi tôi truy t́m về đề tài.  Nhưng sự kiện được nêu ra bởi Ngài Sir Henry Yule trong quyển “Cathay and the Way Thither; Trung Hoa và Con Đường Dẫn Đến Đó” – con đường theo hướng đó theo tôi nghĩ, nhiều phần chính là vùng Ultrindia của Tiến Sĩ Tupp.

TIẾN SĨ COTTERELL TUPP: Chỉ có ít điều cho tôi để nói khi trả lời cuộc thảo luận.  Về các phế tích của Angkor Thôm, điều khác thường rằng chúng là các di tích hỗn hợp Ấn Độ Giáo và Phật Giáo, và chúng rơ ràng đă được trang trí với sự thờ ơ tuyệt đối về tôn giáo mà chúng tượng trưng.  Trên cùng một mảng điêu khắc, quư vị sẽ nh́n thấy cả các h́nh ảnh Phật Giáo lẫn Ấn Độ Giáo – một sự hỗn hợp không được nh́n thấy ở bất kỳ nơi nào khác, tôi tin như vây.  Về ranh giới của các Bang Quốc dân Shan, tôi hiểu rằng Ngài Sir Frederick Fryer có nói rằng sông Mekong đă được đồng ư như là một đường phân chia; nhưng tôi tin người Pháp có tuyên nhận một vài phần lănh thổ nằm phía tây sông Mekong.  Ông Doumer chắc chắn làm như thế.

NGÀI SIR FREDERICJK FRYER: Tôi không nghĩ như thế.  Tôi nghĩ điều đă được giải quyết chung cuộc rằng sông Mekong là ranh giới.

NGÀI SIR THOMAS HOLDICH: Không có khu vực trung lập hay sao?

TIẾN SĨ TUPP: Vấn đề hăy c̣n được tranh luận, tôi tin như thế.  Một phần lớn xứ Lào nằm ở phía tây sông Mekong, và tôi không chắc chắn chút nào rằng xa hơn về phía bắc, sông Mekong đă được lập thành một được phân chia nghiêm ngặt.

       Một cuộc bỏ phiếu để cám ơn Tiến Sĩ Tupp về bài thuyết tŕnh của ông đă kết thúc biên bản.

[P.T.O. [?]      

 

___

 

* Ông được phong tước Hiệp Sĩ bởi Nữ Hoàng Elizabeth sau này (Knight’s Dictionary of Biography).

 

** Travels in Indo-China, trang 278

 

** *Kaan: có nghĩa Vua Cac Vị Vua (Khan of Khans)

 

---

 

 

SÁCH VỀ ĐÔNG DƯƠNG ĐĂ THAM KHẢO:    

 

1. Further India, của Hugh Clifford, C. M. G., 8vo [c̣n viết là octavo, khổ giấy in gấp thành 8 tờ, chú của người dịch], 1904.  7s. 6d. [không rơ nghĩa, có thể để chỉ giá tiền, 7 shillings 6 dimes, chú của người dịch], Lawrence and Bullen.

 

2. L’Indo-Chine Franҫaise, của Paul Doumer (cựu Toàn Quyền Đông Dương).  Fcap., 1905.  10s. [?] Paris: Vuibert et Noni.

 

3. Travels in Indo-China, của Henri Mouhot.  2 tập, giấy in gấp 8 (8vo), 1864.  18s. [?] J. Murray.         

 

4. From Tonkin to India, của Hoàng Thân Prince d’Orléans, giấy in gấp 8, Khổ Lớn (Large 8vo.), 1898.  16s. [?]  Methuen.  Phiên dịch bởi Hamley Bent.

 

5. A Vagabond in Asia, của E. Chandler, giấy in gấp 8 (8vo.), 1900.  7s. 6d. [?], Greening.

 

6. Far Cathay and Farther Indian của Đại Tướng A. Ruxton MacMahon.  Giấy in gấp 8 (8vo.), 1893.  12s. 6d. [?]  Hurst and Blackett.

 

7. The Far-Eastern Tropics, của Alleyne Ireland.  Giấy in gấp 8 (8vo.), 1905.  7s. 6d. net [? không bớt].  Constable.

 

8. Across Chryse, của Archibald Colquhoun, 2 tập.  Giấy in gấp 8 (8vo.), 1883.  32s. [?]  Sampson Low.

 

9. Through the Buffer State (Siam) and Cambodia, của Thiếu tá-Bác Sĩ Giải Phẫu J. Macgregor.  Giấy in gấp 8 (8vo.)  1896.  7s. 6d. [?]  F. White and Co.

 

10. The Far East, của H. Norman, M. P.  Giấy in gấp 8 (8vo.), 1895.  18s.  Ấn Bản Lần Thứ Ba.  T. F. Unwin.

 

11. The Colonization of Indo-China, của Jos. Chailly-Bert.  Giấy in gấp 8 (8vo.), 1894.  7s. 6d. [?]  A. Constable and Co.

 

12. F. Garnier: Voyage d’Exploration en Indo-Chine en 1866-1868.  2 tập.  Giấy in gấp 4 (4to hay quarto).  Paris, 1873.          

 

-----

 

Nguồn: A. Cotterell Tupp, I.C.S., LL. D., French Indochina, Proceedings of The Central Asian Society, May 23, 1906, London: Central Asian Society, 22, Albemarle Street, W., 1906, 42 trang.

 

*****

 

PHỤ CHÚ CỦA Ngô Bắc :

 

       Ngoại trừ một vài ư kiến cá nhân của người dịch, các dữ liệu trong phần Phụ Chú này đều được rút ra từ Wikipedia.

*a) Alexander III of Macedon (356–323 trước Công Nguyên), được biết nhiều hơn với danh hiệu Alexander the Great, tức Alexander Đại Đế, là vị vua Hy Lạp tại vùng Macedon.  Ông là nhân vật nổi tiếng nhất của Triều Đại Argead và đă tạo lập ra một trong những đế quốc rộng lớn nhất trong lịch sử cổ thời.  Sinh ra tại Pella năm 356 trước Công Nguyên, Alexander thụ nhận một nền giáo dục Hy Lạp cổ điển dưới sự kèm dậy của nhà triết học nổi tiếng Aristotle, đă kế vị cha ông vào năm 336 sau khi vua cha bị ám sát, và đă mất đi 13 năm sau đó ở tuổi 32.  Mặc dù cả thời trị v́ và đế quốc của ông bị yểu tử, ảnh hưởng văn hóa của các cuộc chinh phục của ông kéo dài trong nhiều thế kỷ.  Alexander được nói là kẻ không hề chiến bại trên chiến trường và được xem là một trong các vị chỉ huy quân sự tài ba nhất của mọi thời đại. Ông là một trong những khuôn mặt nổi tiếng nhất thời cổ đại, và được nhớ đến v́ khả năng chiến thuật, các cuộc chinh phục và v́ việc phổ biến văn hóa Hy Lạp sang phương Đông.

*b) Ionia: Khu vực thời cổ phía tây Tiểu Á dọc theo bờ biển Aegean.  Các người di dân Hy Lạp đă thiết lập các thuộc địa ở đây 1000 năm trước Công Nguyên.  Các hải cảng của Ionia đă phát triển từ thế kỷ thứ 8 trước Công Nguyên cho đến khi cuộc chinh phục của Thổ Nhĩ Kỳ hồi thế kỷ thứ 15 sau Công Nguyên.

 


The Levant

*c) Levant để chỉ theo truyền thống vùng phía Đông Địa Trung Hải nói chung, nhưng có thể được dùng như một danh từ địa dư để chỉ một khu vực rộng lớn tại phía Tây cu/a Á Châu, bao gồm các nước Lebanon, Do Thái, Syria, Jordan, và đôi khi cả Cyprus, Sinai, và một phần của Irap.  Viện Khảo Cổ của Trường Đại Học University College London (UCL) mô tả vùng Levant là giao điểm của miền Tây Á  Châu, miền Đông Địa Trung Hải, và miền Đông Bắc Phi Châu. Levant nguyên thủy được dành chỉ vùng đất Địa Trung Hải nằm ở phía đông Ư Đại Lợi, trong tiếng Pháp Thời Trung Cổ cho nghĩa là Phương Đông (Orient).

*d) Pomponius Mela, ke/ đă sáng tác vào khoảng năm 43 sau Công Nguyên, là nhà địa dư học la Mă sớm nhất.  Ông sinh ta tại Tingentera (Algeciras) và chết khoảng năm 45 sau Công Nguyên.

Tác phẩm ngắn của ông (De situ orbis libri III) chưa được tới trăm trang khổ in thông thường.  Nó nặng về văn thể và khiếm khuyết về phương pháp, nhưng lại mang La Tinh tính thuần túy, và đôi khi được làm nhẹ nhàng bởi các h́nh chữ thú vị.  Ngoài phần về địa dư trong quyển Historia naturalis của Pliny (trong đó Mela được trích dẫn như một tác giả thẩm quyền quan trọng), quyển De situ orbis là tập khảo luận chính thức duy nhất về đề tài trong các tác phẩm La Tinh Cổ Điển.

*e) Quyển Periplus of the Erythraean Sea là một quyển sách về hải hành của Hy Lạp, tŕnh bày về việc lái thuyền và các cơ hội mậu dịch từ các hải cảng của Ai Cập thời lệ thuộc La Mă chẳng hạn như hải cảng Berenice, nằm dọc bờ biển của Hồng Hải, và các hải cảng khác dọc theo Bắc Phi  Châu và Ấn Độ. Mặc dù bản văn được quy kết cho các niên đại khác nhau giữa thế kỷ thứ 1 và 3 sau Công Nguyên, nhưng niên đại khoảng giữa thế kỷ thứ 1 giờ đây được chấp nhận nhiều nhất.  Mặc dù tác giả vô danh, tác phẩm rơ ràng là một sự trinh bày trực tiếp bởi một người nào đó quen thuộc khu vực và gần như độc đáo trong việc cung cấp các cái nh́n thấu triệt chính xác vào những ǵ mà thế giới cổ xưa hay biết về các vùng đất quanh Ấn Độ Dương.

 

Mặc dù từ ngữ Erythraean Sea có nghĩa đen là “Biển Đỏ” (Hồng Hải), đối với người Hy Lạp nó bao gồm cả Ấn Độ Dương và Vịnh Ba Tư (Persian Gulf).  

 

*f) Chryse: là tên gọi tắt trong tiếng Hy Lạp cho vùng Chryse Chersonessos sản xuất ra vàng ở miền Đông Ấn Độ (East Indies).  Tên này được sử dụng bởi nhà địa dư học Ptolemy để chỉ Phi Luật Tân, có nghĩa là đảo vàng.  Nó được chấm định nằm ở phía đông của Khruses Kersonenson (Bán Đảo Vàng) là địa danh để chỉ Mă Lai.

*g) Claudius Ptolemaeus, được gọi trong Anh ngữ là Ptomeny, sinh khoảng năm 90 sau Công Nguyên, mất khoảng năm 168 sau Công Nguyên, là một công dân La Mă gốc Ai Cập và trước tác bằng tiếng Hy Lạp.  Ông là nhà toán học, thiên văn học, địa dư học, chiêm tinh gia, và nhà thơ của một bài thơ trào phúng độc nhất trong Hợp Tuyển Thi Ca Hy Lạp.  Ông sống tại Ai Cập dưới thời đô hộ của La Mă, và được tin là đă sinh ra tại thị trấn Ptolemais Hermiou thuộc vùng Thebaid.  Ông mất tại Alexandria vào khoảng năm 168 sau Công Nguyên.

Ptolemy là tác giả của nhiều khảo luận khoa học, ít nhất ba tập trong đó có tầm quan trọng liên tục đối với khoa học Âu Châu và Hồi Giáo sau này.  Quyển thứ nhất là khảo luận về thiên văn học mà giờ đây được biết dưới nhan đề Almagest (theo tiếng Hy Lạp có nghĩa Đại Khảo luận, nguyên thủy là “Khảo Luận về Toán Học).  Tập thứ nh́ là quyển Geography, vốn là một cuộc thảo luận thấu đáo về kiến thức địa dư của thế giới Hy Lạp – La Mă.  Tập thứ ba là khảo luận về thuật chiêm tinh được biết một cách phổ thông bằng tiếng Hy Lạp là Tetrabiblos (Bốn Quyển Sách, Tứ Thư), trong đó ông đă cố gắng để thích ứng thuật chiêm tinh lấy tử vi với triết học tự nhiên của Aristotle cùng thời đại với ông.

* h) Chersonesos Aurea: Chersonesos hay Chersonesus trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “bán đảo”.  Chersonesos Aurea tức Bán Đảo Vàng là tiếng gọi cổ xưa chỉ Bán Đảo Mă Lai.

* i) Solomon , theo Thánh Kinh người Do Thái, là một vị vua của Do Thái, con của vua David,  và là nhà vua thứ ba của Chế Độ Quân Chủ Thống Nhất, và vị vua sau cùng trước khi Vương Quốc Do Thái phương bắc và Vương Quốc Judah phương nam được chia cắt; tiếp theo sau sự phân cắt, các hậu duệ theo phụ hệ của ông chỉ cai trị vương quốc Judah không thôi.

Thánh Kinh Do Thái ghi nhận Solomon là kẻ xây dựng Ngôi Đền Thờ Đầu Tiên (First Temple) tại Jerusalem, và phác họa ông là vĩ đại về mặt thông thái, giàu có và quyền lực, nhưng sau hết là một vị vua cũng có các sai lầm , kể cả sự sùng bái thần tượng (idolatry) và quay lưng lại với Chúa, đưa vương quốc đến việc bị chia cắt thành hai dưới thời trị v́ của con ông, vua Rehoboam.  Solomon là đề tài của nhiều sự tham chiếu và truyền thuyết khác sau này.

* j) Cosmas Indicopleustes (nghĩa đen là “kẻ đi thuyền sang Ấn Độ) sống tại Alexandria, là một thương nhân Hy Lạp và sau này là một tu sĩ, có lẽ thuộc giáo phái Nestorian.  Ông là một nhà du lịch trong thế kỷ thứ 6, đă thực hiện nhiều chuyến hải hành sang Ấn Độ dưới thời trị v́ của hoàng đế Justinian.  Quyển Topografia Christiana của ông chứa đựng một số bản đồ thế giới sớm nhât và nổi tiếng nhất.

*k) Muhammadan: là từ ngữ Tây Phương Hóa để chỉ người theo đạo Hồi (Muslims), mà một số người Hồi giáo xem là có tính chất xúc phạm và không chính xác bởi v́ nó hàm ư rằng các người theo đạo Hồi là các tín đồ của nhà tiên tri Muhammad.  Từ ngữ này trước đây phổ thông trong cách dùng của người Tây Phương nhưng không bao giờ được sử dụng bởi người Hồi giáo. 

       Tương tự, từ ngữ oriental cũng bị giải thích là có tính cách miệt thị người phương đông, trong cách dùng nguyên thủy của người tây phương.

*l) Abu Abdullah Muhammad Ibn Abdullah Al Lawati Al Tanji Ibn Battuta hay đơn giản là Ibn Battuta (sinh  ngày 24 Tháng Hai, 1304– mất năm 1368 hay 1369), học giả Hồi Giáo bắc Phi Châu tại Morocco và nhà du hành đă được biết đến nhờ sự tường thuật  các cuộc du lịch và ngoạn cảnh có nhan đề là Rihla (có nghĩa du hành trong tiếng Ả Rập).  Các cuộc hành tŕnh của ông kéo dài trong một thời khoảng gần ba mươi năm và đi qua gần như toàn thể thế giới Hồi Giáo được biết đến và xa hơn nữa, trải dài từ Bắc Phi Châu, Tây Phi Châu, Nam Âu Châu và Đông Âu về hướng tây, đến Trung Đông, tiểu lục địa Ấn Độ, Trung Á Châu, Đông Nam Á và Trung Hoa về hướng đông, một quăng đường đă sẵn qua mặt số dặm đường của các nhà du hành thế giới trước ông cùng kẻ gần thời đại của ông, Marco Polo.  Với sự tuờng thuật sâu rộng này về các hành tŕnh của ḿnh, Ibn Battuta thường được xem như một trong các khách du hành vĩ đại nhất từ trước đến nay .

*m) Marco Polo (sinh khoảng 1254 – mất ngày 8 Tháng Một, 1324) là một thương nhân của Công Ḥa Venice đă viết quyển Il Milione, giới thiệu với người Âu Châu về Trung Á Châu và Trung Hoa.  Ông học tập về mậu dịch trong khi cha và chú của ông, Niccolo và Maffeo, du hành xuyên qua Á Châu và gặp gỡ Kublai Khan, vua nhà Nguyên, Trung Hoa lúc bấy giờ.  Năm 1269, họ quay trở về Venice và gặp mặt Marco lần đầu tiên. Ba người đă khởi sự một hành tŕnh hào hùng sang Á Châu, quay trở về sau 24 năm để thấy Venice đang giao chiến với Genoa; Marco bị bắt giam, và đă đọc các câu chuyện của ông cho một bạn tù cùng pḥng.  Ông được phóng thích vào năm 1299, trở nên một thương gia giàu có, lập gia đ́nh và có 3 đứa con.  Ông mất trong năm 1324, và được chôn cất tại San Lorenzo.

Quyên Il Milione đă được phiên dịch, thêm thắt, chép lại bằng tay và sửa đổi, không có một ấn bản chính thức.  Quyển sách ghi lại cuộc hành tŕnh của cha ông đến gặp Kublai Khan, kẻ đă yêu cầu họ trở thành các sứ giả, và liên lạc với giáo hoàng.  Nhân có việc xuyên qua Arghun Khan, vị vua thứ tư của lănh địa Ilkhanate trong đế quốc Mông Cổ muốn xin cưới một công chúa mới với ông chú, Kublai Khan và được chấp thuận. Phái đoàn hộ tống vị công chúa này, tên Kokotchin, băng ngang qua Á Châu để đến gặp Arkhun được nói là được đảm trách bởi Marco Polo.  Arghun chết đi trước khi Kokotchin đến nơi, v́ thế cô ta thay vào đó đă kết hôn với con trai của Arghun, tên Ghazan.  Marco Polo đă viết về các cuộc du hành sâu rộng của ông xuyên qua Á Châu nhân danh vị vua Mông Cổ, và về cuộc hồi hương sau rốt của họ sau 15,000 dặm đường và 24 năm phiêu lưu.

* n) Friar Odoric of Pordenone (tên thật là Odorico Mattiussi hay Mattiuzzi; sinh khoảng 1286 – mất ngày 14 Tháng Một, 1331) là nhà du hành Ư Đại Lợi cuối thời trung cổ.  Sự tường thuật của ông về cuộc thăm viếng Trung Hoa là một nguồn tin tức quan trọng cho sự tŕnh bày của John Mandeville; nhiều chuyện tường thuật không thể tin được trong tác phẩm của Mandeville được chứng minh là là các phiên bản bóp méo các sự tŕnh bày tận mắt của Odoric.

 *o) Vasco da Gama, Bá Tước thứ nhất vùng Vidigueira, Alentejo, Bồ Đào Nha, sinh khoảng 1460 hay 1469 – mất ngày 24 Tháng Mười Hai,1524 tại Kochi, Ấn Độ) là nhà thám hiểm Bồ Đào Nha, một trong những kẻ thành công nhất trong Kỷ Nguyên Khám Phá của Âu Châu, và là viên chỉ huy các chiếc tàu đầu tiên lái thẳng từ Âu Châu sang Ấn Độ.  Trong một thời gian ngắn trong năm 1524, ông là Thống Đốc khu thuộc địa Ấn Độ thuộc Bồ Đào Nha, với tước vị Phó Vương (Kinh Lược Sứ: Viceroy).

*p) Lopez de Siqueira [?], nhiều phần là Diogo Lopes de Sequeira, một đô đốc Bồ Đào Nha, được phái đi để phân tích tiềm năng mậu dịch tại Madagascar và Malacca, ông đă đến Malacca vào ngày 11 Tháng Chín.  Ông đă rời đi trong năm kế đó khi khám phá ra vị Lănh Chúa Sultan Mahmud Shah, nhà lănh đạo địa phương, đă thiết kế cuộc ám sát ông.  Sự việc này đă mang lại cho Afonso de Albuquerque [xem phụ chú *q bên dưới, chú của người dịch] cơ hội tiến hành các các viễn chinh để chinh phục.

Sequeira sau đó được bổ làm thống đốc khu thuộc địa Ấn Độ thuộc Bồ Đào Nha (1518-1522), và trong năm 1520, đă chỉ huy một chiến dịch quân sự tiến vào Hồng Hải, thúc đẩy sự thiết lập sứ quán Bồ Đào Nha chính thức đầu tiên tại Ethiopia.

 *q) Afonso de Albuquerque (hay Aphonso d'Albuquerque – theo cách đanh vần cổ xưa) sinh năm 1453 – mất ngày16 Tháng Mười Hai, 1515), là một nhà quư tộc Bồ Đào Nha, một sĩ quan hải quân xuất sắc có các hoạt động quân sự và hành chính như vị Thống Đốc vùng thuộc thuộc địa Ấn Độ thuộc Bồ Đào Nha thứ nh́ đă chinh phục và thiết lập đế quốc thực dân Bồ Đào Nha tại Ấn Độ Dương.  Ông thường được xem là thiên tài quân sự chinh phục thế giới, với chiến lược thành công của ông: ông đă toan tính đóng cửa tất cả các hành lang hải hành của Ấn Độ Dương sang Đại Tây Dương, Hồng Hải, vịnh Ba Tư, và Thái B́nh Dương, biến nó thành biển thuộc chủ quyền Bồ Đào Nha, chống lại cường quốc Thổ Nhĩ Kỳ cùng các đồng minh Hồi Giáo và Ấn Độ Giáo của Thổ.  Ông đảm trách việc xây dựng nhiều thành lũy để pḥng vệ các yếu điểm mà ông đă chiếm giữ và thiết lập một mạng lưới các quan hệ ngoại giao.  Không lâu trước khi mất, ông được phong làm phó vương và ban tước “Quân Cộng xứ Goa” bởi vua Manuel I của Bồ Đào Nha, trở thành vị quận công Bồ Đào Nha đầu tiên không thuộc hoàng tộc, và nhà quư tộc Bồ Đào Nha đầu tiên đặt chân ra hải ngoại. 

*r) Armada [?] nhiều phần để chỉ Spanish Armada là hạm đội Tây Ban Nha đă được phóng ra để chống lại Anh Quốc dưới sự chỉ huy của Quận Công Duke of Medina Sidonia trong năm 1588, với ư định lật đổ Nữ Hoàng Elizabeth I của Anh Quốc.  Công tác này là một sự thất bại toàn diện và là một dấu tích trong lịch sử hải quân cho một chiến dịch  được hoạch định kém cỏi và bị chỉ huy một cách tồu tệ.

*s) Fernăo Mendes Pinto (viết theo tiếng Bồ Đào Nha cổ xưa là Fernam Mendez Pinto), sinh khoảng 1509 — mất tại Almada, Pragal, ngày 8 Tháng Bẩy, 1583, là một nhà thám hiểm và tác giả Bồ Đào Nha.  Các cuộc phiêu lưu của ông được biết đến xuyên qua sự ấn hành sau khi chết quyển hồi kư của ông nhan đề Pilgrimage ( tiếng Bồ Đào Nha là Peregrinaçăo) trong năm 1614, một tác phẩm tự thuật mà giá trị gần như không thể thẩm định được.  Trong diễn tiến các cuộc du hành của ông tại Trung và Viễn Đông, Pinto đă thăm viếng Ethiopia, Biển Ả Rập, Trung Hoa (nơi ông tuyên bố bị lao động cưỡng bách đi xây Vạn Lư Trường Thành), Ấn Độ và Nhật Bản.  Ông tuyên bố ở trong nhóm đầu tiên các người Âu Châu đến thăm viếng Nhật Bạn và khởi xướng thời kỳ mậu dịch Nanban.  Ông cũng tuyên bố đă giới thiệu về súng ở đó.  Điều được hay biết rằng ông đă tài trợ cho nhà thờ Thiên Chúa đầu tiên tại Nhật Bản, sau đó trở nên thân thiết với một nhà truyền đạo Công Giáo và hội viên thành lập Hội Chúa Jesus tức Ḍng Tên (Society of Jesus) sau này được phong là St. Francis Xavier.  Có một lúc chính Pinto đă thành một giáo sĩ Ḍng Tên, nhưng sau này ông đă rời khỏi ḍng này.

Quyển Pilgrimage cho thấy Pinto phê b́nh một cách sâu sắc chính sách thực dân của Bồ Đào Nha tại Viễn Đông, ghi chép các điểm phản bác về tôn giáo và đạo đức đối với điều mà ông nhận thức như một sự phiêu lưu tham lam và giả dối ngụy trang như một sứ mệnh tôn giáo.  Quan điểm này về sau trở nên phổ biến, nhưng bất thường vào thời đại đó.  Các chuyện kể sống động về các cuộc lang thang của ôngt trong hơn hai mươi năm – thí dụ, ông viết rằng ông đă bị bắt giữ mười ba lần và bị bán trong mười bẩy lần – thật quá khác thường đến nỗi chúng hầu như không thể tin được.  Các câu chuyện kể này đưa đến một thành ngữ  như sau: “Fernăo, Mentes? Minto!, một cách chơi chữ bằng tiếng Bồ Đào Nha về tên của ông, có nghĩa "Fernăo, do you lie? Yes, I lie!": Fernăo, ông có nói láo hay không? Vâng, tôi nói láo!”

*t) Louvet [?], chưa tra cứu được ǵ thêm về nhân vật được xem là người Pháp đầu tiên đặt chân lên vùng châu thổ sông Mekong, Nam Kỳ, trong năm 1580 này.

*u) Sir Thomas Stamford Bingley Raffles (sinh ngày 6 Tháng Bẩy, 1781 – mất ngày 5 Tháng Bẩy 1826) là một chính khách Anh Quốc, nổi tiếng nhất về sự thành lập ra thành phố Singapore (nay là nước Singapoe).  Ông thường được mô tả là “Cha Đẻ Ra Singapore.”.  Ông cũng tham dự mật thiết vào cuộc chinh phục ḥn đảo Java của Nam Dương từ các lực lượng quân sự của Ḥa Lan và Pháp và đă góp phần vào việc mở rộng Đế Quốc Anh.

*v) John Crawford (phải là John Crawfurd, sinh ngày 13 Tháng Tám, 1783 –  mất ngày 11 Tháng Năm, 1868), bác sĩ, nhà hành chính thuộc địa và tác giả Anh Quốc, sinh ra tại đảo Islay, Scotland.  Ông theo bước người cha, theo học y khoa và tốt nghiệp tại Edinburgd trong năm 1803, ở tuổi 20.  Ông gia nhập Công Ty Đông Ấn, làm nhà giải phẫu cho Công Ty và được bổ nhiệm sang các Tỉnh Đông Bắc của Ấn Độ (nay là vùng Uttar Pradesh) từ năm 1803-1808.  Sau đó ông được cử sang Penang, Mă Lai, nơi ông tự t́m hiểu về Đông Nam Á, và học tiếng và văn hóa Mă Lai.  Cũng chính tại Penang ông đă gặp Sir Stamford Raffles, người thành lập ra Singapore, lần đầu tiên.

       Trong năm 1811, Crawfurd tháp tùng Raffles trong cuộc viễn chinh quân sự của Lord Minto sang Java thuộc Ḥa Lan.  Khi Raffles được bổ nhiệm làm Phó Thống Đốc bởi Lord Minto trong cuộc Viễn Chinh Java 45 ngày, Crawfurd được bổ nhiệm làm Trú Sứ (Resident) tại Triều Đ́nh Yogyakarta trong Tháng Mười Một, 1811.  Khi làm Trú Sứ, ông đă theo đuổi việc học tiếng Java, vun trồng các mối quan hệ cá nhân với nhiều nhà quư tộc và trí thức Java, và đă được phái đi trong các sự bộ ngoại giao sang Bali và Celebes (nay là Sulawesi).  Sự theo đuổi học thuật này, và kiến thức của ông về văn hóa địa phương được chứng tỏ quư giá cho chính quyền của Raffles tại Java.

Tuy nhiên, các sự căng thẳng đă phát sinh giữa Crawfurd và Raffles khi ông được yêu cầu trợ giúp Raffles trong việc du nhập sự cải cách đất đại tại khu vực Cheribon.  Crawfurd, với kinh nghiệm của ông về Ấn Độ, luôn luôn là kẻ ủng hộ nhiệt t́nh cho Hệ Thống Làng Xă (Village System) trong việc thu thuế lợi tức, và ông mạnh mẽ chống đối các dự tính của Raffles trong việc du nhập sự tài định thuế lợi tức cá nhân (Ryotwari) vào Java.

Java được hoàn trả cho Ḥa Lan trong năm 1816, và Crawfurd trở về Anh Quốc trong năm đó, quay sang viết sách.  Trong năm 1820, ông xuất bản bộ History of the Indian Archipelago (Lịch Sử Quần Đảo Ấn Độ) gồm ba tập.  Trong năm kế đó, 1821, kiến thức chuyên môn của Crawfurd được nh́n nhận bởi Toàn Quyền Lord Hasting, kẻ đă cử ông trong một phái bộ với tư cách sứ giả sang các triều đ́nh Xiêm La và Nam Kỳ (Cochinchina).  Trong thời khoảng giữa hai phái bộ này, Crawfurd được bổ nhiệm làm Trú Sứ Anh Quốc tại Singapore hồi Tháng Ba, 1823.

Ông một lần nữa được cử trong một phái bộ khác sang Miến Điện trong năm 1827, bởi người kế nhiệm ông Hasting, Lord Amherst.  Đây là công tác chính trị cuối cùng cho Công Ty – một công tác khó khăn nhưng tuy thế mang ư nghĩa lịch sử.  Các kinh nghiệm đi sứ này đă mang lại cho ông chất liệu để viết và ấn hành các quyển Journals (Nhật Kư) của ông  trong các năm 1828 và 1829.  Tài liệu này chứng tỏ là các sự hướng dẫn hữu ích cho các phái bộ tương lai, và các nguồn tài liệu cho các học giả.

Trong các năm về hưu sau sứ bộ sang Miến Điện, ông đă dùng thời gian c̣n lại cho việc viết sách báo về các đề tài phương đông.  Mặc dù ông đă không thành công trong nhiều lần ứng cử vào Nghị Viện Anh Quốc, ông đă được bầu làm Chủ Tịch Hội Dân Tộc Học (Ethnological Society) trong năm 1861, và trong năm 1868 làm Chủ Tịch đầu tiên của Hội Các Khu Định Cư Tại Vùng Eo Biển (Straits Settlements Association), được thành lập để bảo vệ các quyền lợi của Thuộc Địa.  Đây là chức vụ cuối cùng của ông trước khi từ trần tại South Kensington, London vào ngày 11 Tháng Năm, 1868 ở tuổi  85.

       Phần liên hệ đến Việt Nam trong quyển Journal of an Embassy to the Courts of Siam and Cochin-China, exhibiting a view of the actual State of these Kingdoms (1830), sẽ được trích dịch và đăng tải trên Gió O./-

 

 Ngô Bắc dịch và phụ chú

28/06/2010  
    

 http://www.gio-o.com/NgoBac.html

© gio-o.com 2010