linda lê


tôi c̣n nhớ ...

 (trích Le Complexe De Caliban)



   Tôi c̣n nhớ ngày tôi đến nước Pháp. Tôi đă không được thấy Paris nhưng lại là Sarcelles, vùng ngoại ô ủ rũ trông giống như một người đàn bà chưa tỉnh rượu hẳn. Tại nơi tiếp đón, người ta cho chúng tôi ăn sáng bằng trái lê. Cái vị đầu tiên tôi biết về nước Pháp là vị trái lê của vùng Sarcelles.

 

   Tôi c̣n nhớ người ta muốn đưa chúng tôi về Sotteville, gần Rouen. Làm sao ta có thể trở thành một cư dân của Sottevile nhỉ? Măi sau này, tôi mới khám phá ra rằng nhân vật được lấy làm kiểu mẫu trong quyển Nhật Kư của Một Kẻ Quyến Dụ của Kierkegaard đă từng lưu lại một thời gian khá lâu trong viện tâm thần ở Sotteville.

 

   Tôi c̣n nhớ thành phố Havre, nơi trú ẩn đầu tiên của tôi ở Pháp. H́nh bóng Sartre vẫn c̣n lởn vởn trong những hành lang cái thư viện thành phố.

 

   Tôi c̣n nhớ bài luận văn đầu tiên của tôi ở đại học lấy chủ đề bánh madeleine của Proust. Trong bài luận văn tôi nhắc đến một người bà tưởng tượng và mùi hoa tử đinh hương.

 

   Tôi c̣n nhớ con voi đá ở quảng trường Bastille, di tích của Napoléon nơi Gavroche trú ngụ cùng lũ chuột.

 

   Tôi c̣n nhớ quyển Les Misérables, quyển sách đầu tiên ghi dấu tuổi thơ của tôi ở Việt Nam.

 

   Tôi c̣n nhớ ḿnh đă đi t́m kiếm Gavroche ở Paris và Ông Homais ở những dược pḥng ở Normandie.

 

   Tôi c̣n nhớ Julien Sorel nổi loạn chống lại người cha. Quyển Le Rouge et le Noir là quyển Thánh Kinh của tôi khi mười sáu tuổi.

 

   Tôi c̣n nhớ khi ngồi trong thư viện Sainte-Genevière, tôi đă nghĩ đến André Breton và về Dinh Vĩ Nhân (Hôtel des Grands Hommes) nằm đối diện Điện Panthéon.

 

   Tôi c̣n nhớ khi đến Paris, t́nh cờ tôi đi qua đường Git-le-coeur. Tôi vẫn tin là trong khu phố chật hẹp này, nơi có rạp chiếu bóng Saint-André-des-Arts, trước đây có một người đàn bà bị hủy hoại, chết v́ t́nh yêu, đă sống ở đường này. Rồi một bữa nọ tôi biết được rằng Git-le-coeur là chữ biến đổi từ hai chữ Gilles le queux và Gilles le cusinier) . Tiếng Pháp có đầy rẫy những bẫy sập để giữ lại được những giấc mơ.

 

   Tôi c̣n nhớ Heine [4], khi mới mắc phải những triệu chứng khởi đầu của chứng bại liệt sau đó giết chết ông, đă ngă quỵ xuống trước một người phụ nữ trong một pḥng của bảo tang viện Louvre. Và điều khôi hài là ở chỗ người phụ nữ này là một người không có khả năng nâng ông ta đứng dậy: bức tượng Vénus de Milo.

 

   Tôi c̣n nhớ, trong thời thơ ấu của tôi ở Việt Nam, nuớc Pháp biểu trưng cho một nỗi hoang tưởng có kích thước của cái thư viện Babel.

 

   Tôi c̣n nhớ ở một con đường thuộc Belleville, Rousseau đă bị một con chó đen to đùng hất ngă lăn quay. Quyển Les Rêveries du promeneur solitaire (Những giấc mộng của kẻ bộ hành cô độc) đă là niềm đam mê của tôi khi mười bảy tuổi. Tôi đă từng viết lên trên cuốn sổ thông hành của ḿnh như sau – “Nghề nghiệp: kẻ rong chơi”.

 

   Tôi c̣n nhớ đă từng mơ tưởng đến sống lưu đầy ở Montevideo, bởi v́ Lautréamont là một người Pháp mỉa mai xứ sở của ḿnh nhất.

 

   Tôi c̣n nhớ tôi đă, cũng như Rimbaud trước đây, đưa ra câu trả lời cho tất cả những câu hỏi người đời đặt cho tôi về những tham vọng của ḿnh: “Tuổi trẻ vô nghệ nghiệp sẵn sàng làm ǵ bất kỳ kể, Bởi tinh tế, tôi đă đánh mất đời tôi”.

 

   Tôi c̣n nhớ ḿnh đi đến đường de l’Odéon để thăm Cioran, kẻ đă từng nói ḿnh chỉ nh́n nhận một quê nhà độc nhất là tiếng Pháp. Passoa trước đây đă gợi ư cho ông. Là một người nào đó, cũng có nghĩa không là một người nào cả (Linda Lê chơi chữ “personne”: Etre une personne, c’est aussi être personne – ĐTĐ chú). Kinh nghiệm thi ca không phải là “tôi nói ngôn ngữ”, mà là “ngôn ngữ nói với tôi”, ngôn ngữ nói qua tôi.

 

   Tôi c̣n nhớ Kafka đă khuyên Milena “hăy đặt hy vọng vào tiếng nói của ḿnh”, hăy đặt tất cả hy vọng của ḿnh trong những khả tính và bất khả tính của ngôn ngữ để viết một cách riêng ḿnh.

 

   Tôi c̣n nhớ đă ở trong Khu Cư Trú Học sinh Trung học, đường Dr Blanche, là nơi Nerval đă được chăm sóc và tôi đă thường nghĩ đến việc viết một tẩu khúc để lại như một chứng nhận: “Chiều nay đừng chờ đợi tôi bởi đêm sẽ đen và trắng.”

 

   Tôi c̣n nhớ đă học thuộc ḷng hàng tràng câu văn của Corneille, trong những câu này chữ “”funest” (tàn khốc) làm vần cho toàn thể phần c̣n lại.

 

   Tôi c̣n nhớ quyển Aventures du brave soldat Chveik và cái ông chủ quán rượu chẳng khi nào chửi thề mà lại không nhắc đến những trang truyện của Hugo viết về Cambronne và những trận đánh của Napoléon.

 

   Tôi c̣n nhớ ḿnh đă học tiếng lóng trong tác phẩm của Hugo nhưng lại chẳng hề nghi ngờ rằng đó là một thứ tiếng lóng đă cũ mèm, nay chẳng c̣n ai dùng nữa. Tôi c̣n nhớ nỗi vui sướng tinh quái khi tôi có thể nói với chị tôi: “Colle-toi ca dans le fusil!”

 

   Tôi c̣n nhớ chẳng khi nào đi ngang trước rạp Vieux-Colombier mà không nghĩ tới buổi diễn thuyết sôi động của Artaud và câu nói của ông ta: “Có học có nghĩa là nhai nuốt số phận ḿnh, đồng hóa số phận bằng tri thức.” Tôi c̣n nhớ đă muốn sang Mễ Tây Cơ sống, bởi con người của Rodez đă t́m thấy ở đó một nền văn hóa sống động làm cho những đóa hoa tâm hồn đóng băng có sức sống trở lại và làm cho luồng thần kinh xuôi chảy.. Châu Âu với những thành lũy cổ cũ và nước Pháp, quá rũ liệt, trang nghiêm và đă thành xác chết, không c̣n cung cấp được ǵ có thể làm cho tác giả quyển L’Ombikic des limbes ngạc nhiên.

 

   Tôi c̣n nhớ đă t́m, ở Paris, đến nơi những nhà văn ngoại quốc trước đây đă trú ngụ: Mickiewicz ở phố sông Seine, Hemingway ở phố Pérou, Sadegh Hedayat ở phố Championnet, Gertrude Stein ở phố de l’Odéon, Marina Tsvétaíeva ở phố Meudon, và nhất là Paul Celan, từ căn pḥng của ông ta ở phố Ulm đă viết cho Yves Bonnefoy: “Ông ở trong xứ sở của ông, trong tiếng nói của ông, trong những buổi diễn giảng của ông, giữa sách vở của ông, những tác phẩm ông yêu quí. C̣n tôi, tôi ở bên ngoài…”

 

   Tôi c̣n nhớ đă đi theo bóng ma Rainer Maria Rilke trong vườn Luxembourg và ở viện bảo tàng Rodin. Trong quyển Nhật kư thời ở Paris, ghi chú ngày 7 tháng 11 năm 1902 ông ta nói đă đọc quyển L’Éducation sentimentale và chỉ thích có mỗi chương trước chương cuối cùng, khi Bà Arnoux gặp lại Frédéric Moreau lần cuối.

 

   Tôi c̣n nhớ đă từng hy vọng cây cầu Mirabeau chỉ thực sự hiện hữu trong trí tưởng tượng của Appolinaire.

 

   Tôi c̣n nhớ những thi sĩ siêu thực đă muốn vả vào xác chết của Anatole France. Khi lần đầu người ta kêu gọi tôi nổi loạn chống lại chủ nghĩa khoa bảng hàn lâm, tôi đă coi như Anatole France không hề hiện hữu. Tôi hiểu rằng Breton đă kích động những người cùng nhóm tát vào mặt nước Pháp, cái xứ sở chỉ c̣n là một thây ma và cần phải tiếp máu văn hóa cho cái xác đó sống lại.

 

   Tôi c̣n nhớ bài luận văn của Heine, bài Về nước Pháp, là một tuyên ngôn t́nh yêu và vỡ mộng. Nhưng ông ta cũng nhắc lại một câu châm ngôn xưa: “Khi vị Thượng đế tốt lành trong bầu trời cảm thấy buồn bă, th́ ông ta mở khung cửa sổ ra và nh́n xuống những thông lộ của Paris.”

 

   Tôi c̣n nhớ một số người vẫn c̣n cứ hỏi có phải tôi xuất thân từ xứ Đông Dương không. Kateb Yacine đă nói rằng tiếng Pháp là một chiến lợi phẩm. Tôi không cảm thấy ḿnh đang ḥa b́nh hay chiến tranh với nước Pháp. Bản văn là tổ quốc của tôi. Tôi gây chiến với ngôn ngữ, để sửa chữa sự bất ḥa với bản thân ḿnh, và để có thể viết khi th́ ḥa đồng với cái Tôi của ḿnh, khi th́ ở thế đối nghịch, ḥa đồng với cái Không-Tôi của ḿnh.(người chuyển ngữ in chữ đậm.)

 

   Đă rất lâu, tôi c̣n nhớ, diện mạo của Nhà văn đối với tôi là Bergotte, một kẻ đau nặng, đă ăn những củ khoai tây và đi xem bức tranh Vue de Delft của Veer Meer để dán mắt nh́n vào một chi tiết trong bức tranh, hệt như một đứa trẻ dán mắt nh́n vào một con bướm nó muốn chụp bắt. Những giờ cuối cùng của Bergotte đă được dành cho việc ăn những củ khoai tây không được chin lắm và để quan sát khoảnh tường nhỏ xíu màu vàng trong bức tranh của Veer Meer.

 

   Tôi c̣n nhớ về mối hoài niệm. Marina Tsvétaíeva rên xiết: Tocard, căn bệnh của xứ sở. Người ta có thể viết về sự trở về trong một ngôn ngữ đang hướng về tương lai. Thi sĩ vừa là Orphée kẻ đi xuống địa ngục vừa là Euridyce, kẻ bị bóng tối.vây khổn.

 

   Tôi c̣n nhớ đă yêu thích Henri Calet kẻ đă tái hiện người cha đă khuất, và Violette Leduc, kẻ đă có thể kiêu hănh về phận con hoang của ḿnh. Tôi c̣n nhớ ḿnh phải là con cái của không một ai, và rằng William Blake gọi Thượng đế Nobodaddy.

 

   Tôi c̣n nhớ về người bạn có một nỗi ham muốn sâu thẳm là tạo lập một Quốc Tế Những Người Giấy với lời kêu gọi: “Những kẻ vô xứ trong tất cả các nền văn chương, hăy đoàn kết lại!”

 

 Tôi c̣n nhớ tôi luôn luôn muốn sống trong một xứ sở như một người khách lạ khác thường (étrange étrangère), và tôi nh́n nước Pháp với con mắt ngạc nhiên, như một xứ sở quá thân thuộc và quá lạ lẫm. Nước Pháp luôn làm tôi ngạc nhiên, chỉ bởi một sự kiện là nó hiện hữ, và bởi khi ta không c̣n ngạc nhiên nữa có nghĩa là từ bỏ, là từ từ trượt vào cái chết.

 

   Phải viết trong khi lắng nghe tiếng nói của những con quỉ của ḿnh. Tôi c̣n nhớ trong quyển Une voie pour l’insubordination (Con đường để bất tùy thuộc} trong đó Michaux [7] kêu gọi sự bất tùng phục và lời xảo trá của những vị thánh.  Ông ta vểnh tai nghe những gợi ư của lũ quỉ phương xa, c̣n quỉ sứ Âu châu đối với ông ta quá thánh thiện. Những nhà văn Pháp gần gũi nhất của tôi là những kẻ đă vượt qua những biên giới nội tại.

 

   Tôi c̣n nhớ quyển lịch làm việc tôi đă lập ra lần lượt theo những ngày tiền định trong nền văn chương thế giới. Quyển lịch với ngày “Thứ Hai hiện sinh” (dành cho) của Benjamin Fondane, ngày Thư Ba của Melville – một bài thơ sáng tác về những ḥn đảo -, ngày Thứ Tư tro cốt Schoppenhauer, ngày Thứ Năm mang tên Chesterton, ngày Thứ Sáu kỳ diệu của Defoe, ngày Thứ Bảy là ngày Borges đi ngang mặt “kẻ thứ ba”, người được gủi bí mật truyện La Rose profonde, và ngày Chủ Nhật dành cho sự vong hoại tâm thần của Elsa Morante. Nhưng Thứ Hai cũng c̣n là ngày của nước Pháp, ngày của một triết gia Do thái đă bị người quản lư chung cư giao nộp cho Gestapo và ông đă bị chết thiêu ở Birkenau.

 

   Tôi c̣n nhớ bài học của Cioran: một con người biết tự trọng không có cội rễ (con người  không là những cái rễ), không thuộc về bất cứ một cộng đồng nào. Cioran đă học tiếng Pháp từ một người Basque cụt tay. Ít ra cũng như ông ấy giả bộ như vậy.  Và câu chuyện cổ tích về Cioran được phát sinh từ mẩu chuyện truyền miệng này. Tôi học Pháp văn trong những quyển sách của Hugo, kế đến là Flaubert. Tôi c̣n nhớ  rằng sự thèm khát hiểu biết lớn lao và sức mạnh làm việc ngấu nghiến cô tịch của Croisset  đă gây ấn tượng mạnh trên tuổi trẻ của tôi và nó có khuynh hướng chắc chắn sẽ dẫn tới chứng ù lỳ.

 

   Tôi c̣n nhớ quyển Tôi c̣n nhớ của Georges Perec, kẻ đă tuyên bố rằng không t́m thấy ǵ khác trong cuộc tra hỏi bất tận của ḿnh ngoài cái x́-căng-đan niềm im lặng của những kẻ đă chết.

   Tôi c̣n nhớ một người bạn tôi đă nh́n thấy trong lá cờ Pháp sự phối hợp của ba yếu tố: nước (màu xanh), khí trời (màu trắng) lửa (màu đỏ). Anh ta muốn h́nh dung nước Pháp như một bức tranh trừu tượng, không phải là một mảnh đất để  người ta mọc rễ, nhưng là một bầu trời vần vũ quay cuồng trong đó khí trời có cái hậu vị của cơn giông tố của biển c̣n đọng lại trong cổ họng, trong cơn giông tố quay cuồng đó nước chơi với lửa.

 

   Tôi muốn hồi ức nuớc Pháp như một người nữ khách lạ xinh đẹp, theo cái nghĩa của Proust rằng những quyển sách hay được viết trong một thứ ngôn ngữ ngoại quốc. Tôi muốn hối ức nước Pháp như một lữ khách nữ có tính cách Baudelaire, như một giấc mơ của đá khai sinh từ bàn tay của Rodin, như một bài thơ t́nh điên mang tên Albertine, Salammbô, Héloise hay Aurélia.

 

(Le complexe de Caliban, trang 89-97)

 

Đào Trung Đạo chuyển ngữ