LÊ THỊ HUỆ

MỘNG, THỰC, VÀ KỲ NGỘ  …

truyện ngắn

(trích trong tập truyện Bụi Hồng)

 

 

Giữa lúc chiến tranh bùng nổ khốc liệt nhất thì mẹ chúng tôi qua đời. Tết Mậu Thân quân phương Bắc tấn công vào thành phố, ngôi nhà của chúng tôi trúng đạn pháo kích và sập hơn một nửa mang theo thi thể của mẹ tôi. Năm ấy anh Tùng đang học đệ nhất, chị Trúc đang học đệ nhị, và tôi đang học lớp ba.

 

Mấy năm sau bố tôi tục huyền với một người đàn bà khác nên ông dọn ra ở riêng. Năm tiếp theo anh Tùng bị gọi động viên bất ngờ bố tôi tục huyền với một người đàn bà khác nên ông dọn ra ở riêng. Năm tiếp theo anh Tùng bị gọi động viên bất ngờ nên anh phải nhập ngũ. Từ đấy hai chị em tôi dắt díu nhau sống trong căn nhà của bố mẹ tôi để lại.

 

Chị tôi hơn tôi gần mười tuổi, nên khi nào chị cũng là chiếc bóng lớn đối với tôi. Chi thay mẹ bảo bọc tôi trong suốt những năm còn lại. Tôi lớn lên trong vòng tay ấp ủ và dưỡng nuôi của chị, vẫn nhìn lên chị với lòng yêu thương và ngưỡng mộ chí thiết, đặc biệt là đối với sắc đẹp của chị.

 

Chị Trúc có nhan sắc nên cuộc sống của chị lộ liễu từ những năm chị mới lớn. Mái tóc đen mượt, làn da trắng xanh, đôi môi chỉ thắm, dáng người yểu điệu, chị bước đi thanh thoát như những nàng tố nữ thuở xưa. Từ khi mẹ tôi qua đời, cặp mắt chị thoáng nhuốm u buồn. Nhưng nhờ vậy mà vẻ mặt chị quyện thêm nét sầu đời quyến rũ. Người ta bảo chị ó nét đẹp ngây thơ vương vấn chút u hoài, vẻ đẹp phổ thông và rất được yêu chuộng trong thời chiến.

 

Chị đảm đang và quán xuyến việc nhà tươm tất khéo léo. Duy có một thế giới mà chị đắm mình vào đấy không mỏi mệt là những quyển tiểu thuyết. Chị mê say những pho truyện éo le quanh quất và thẫn thờ theo những nhân vật tơ vương oan trái. Bố tôi thấy chị mê đọc truyện nên thường răn chị là đừng để những mơ mộng viễn vông lậm vào người. Vậy mà vẫn không ngăn được chị.

 

Xóm chúng tôi cũng có lắm kẻ hâm mộ nhan sắc của chị. Năm chị học đệ tứ, cóa một gã du đãng nhỏ tuổi tên là Sáu Mẹo rất ư ái mộ chị. Sáu Mẹo thường ngồi ở quán cháo lòng đầu ngõ, ngắm nhìn chị tôi đi học về. Mỗi lần chị ghé ngang mua báo, Sáu Mẹo đều dành phần trao báo cho chị thay người chủ quán. Sáu Mẹo nổi tiếng xếp sòng một tụi nhóc móc túi và đánh giầy ở khu ngoại ô đô thành. Nhưng ở xóm này hắn chưa hề gây nên vụ tai tiếng nào. Dạo ấy khu nhà bố tôi cho mướn có ba anh em người Trung trọ học mới dọn vào. Mấy anh em này khoe là họ có học võ Bình Định nên tỏ vẻ nghêng ngang. Một lần vào khoảng mười giờ đêm, trong xóm bỗng nghe tiếng chạy và tiếng kêu cứu đầu ngõ. Mọi người đổ dồn ra xem. Chị em tôi vừa đến thì thấy Sáu Mẹo đang nắm lấy ngực áo người em thứ. Sáu Mẹo đã kéo nguyên băng du đãng về hăm doạ ba anh em này, và riêng hắn, hắn chộp cho được người em thứ, kẻ đã từng hiên ngang cười đùa với chị tôi mỗi khi ra vào con ngõ. Khi chị Trúc vừa đến, bà chủ quán cháo lòng vội la lên:

-Sáu à, cô Trúc ra kìa.

Sáu Mẹo vừa trông thấy chị tôi thì bỗng lúng túng ra mặt. Tuy vậy hắn vẫn nắm chặt ngực áo đối thủ như sắp sửa ra tay. Mọi người thấy chị Trúc gây bối rối cho Sáu Mẹo, bèn bâu lại ép chị tôi ra can thiệp. Chị tôi e thẹn và lúi dúi nấp sau phía đám đông. Khi mọi người đẩy chị tôi ra trước mặt Sáu Mẹo, chị tôi ấp úng nói không ra hơi:

-Sáu buông…người ta… ra đi…Sáu đừng làm vậy…kỳ lắm…

Sáu Mẹo chẳng nói lời nào, sững sờ một phút, rồi buông đối thủ ra. Hắn lặng lẽ bước ra khỏi đám đông, và ngoắt cả bọn đàn em rút lui. Bấy giờ hắn mới quay lại gật đầu và mỉm cười chào chị tôi.

Chị Trúc đứng run run nhìn theo bóng Sáu Mẹo xa dần đầu ngõ, trong khi mọi người chung quanh trầm trồ ca ngợi sự can thiệp của chị.

 

Chị quen với một chàng hoạ sĩ Bắc Kỳ, anh Văn vẽ tranh lụa. Văn thuê một căn phòng trong dãu nhà chúng tôi cho thuê, căn phòng trên lầu ở bên kia mặt đường, có khung cửa sổ thường khép kín. Mỗi lần hai liếp cửa xanh ấy mở là mỗi lần văng vẳng tiếng tiên sáo vọng ra. Tiếng sáo trúc ru hồn của chàng Trương Chi là anh Văn,  trỗi lên trong những đêm khuya khi cả khu lao động nghèo đã lắng chìm những náo động của một ngày, đã lọt vào tai Mị Nương là chị tôi.

Thoạt đầu Văn xuống trả tiền nhà rồi ngồi lại nói chuyện bâng quơ với chị em tôi. Anh thường tư lự nói: ‘Bội Trúc, Ngọc Lan, hai cái tên đều đẹp. Ông cụ đã khéo chọn tên. À, mà hoa Bội Trúc ra thế nào nhỉ? Tôi chưa được hân hạnh nhìn thấy.’ Khi biết Trúc mê đọc tiểu thuyết, Văn mang truyện xuống. Từ đấy anh bỗng thành nguồn cung cấp tiểu thuyết cho chị.

 

Khoảng vài tháng sau khi đã khá quen biết, Văn rủ hai chị em tôi lên phòng dự một buổi tiệc nhỏ. Căn phòng anh ngoài một rừng sách còn một núi tranh. Những bức tranh lụa màu sắc nhạt mờ ôm theo những đường nét cong tròn toả ra được thứ cảm tác thơ mộng mời gọi. Tranh phần lớn thuộc loại cảnh vật, cảnh núi non sông nước miền Hậu Giang, cảnh đền đài cổ độ mang dấu vết tàn phá của chiến tranh ở miền Trung như những bức Tháp Hời, Chùa Non Nước, Cảnh Thành Nội…v…v… Xen lẫn trong đống tranh cũ ấy là một vài bức nhân vật của anh đang vẽ dở dang. Trúc không ngờ thời gian gần đây Văn ngầm vẽ một số tranh về chị. Chị chạm vào bức Thiếu Nữ Chờ Trăng Lên, nói bẽn lẽn: ‘Tranh chứ đâu phải người thật.’ Chị bàng hoàng và lo âu khi thấy nhan sắc của mình tỏ lộ trên những khung và giá.

Đêm ấy khi hai chị em về nhà lên sân thượng rũ đống áo quần ra phơi, tôi nhìn mảnh trăng rằm chênh chếch đầu màn trời đêm và nói với chị: ‘Anh Văn vẽ chị đẹp như Hằng Nga vậy.’ Chị thẫn thờ đi giây lát rồi chép miệng nói: ‘Tranh chứ đâu phải người thật.’

 

Từ dạo Trúc trở thành người mẫu cho những bức hoạ của Văn. Văn sáng tác mạnh và phong phú hơn. Chẳng bao lâu những bức tranh nhân vật của anh trở thành quen thuộc với các phòng tranh đô thành. 

Riêng chị Trúc, chị cũng để ý trang diểm hơn xưa. Chị ngồi hàng giờ trước gương trau chuốt từng đường sơn môi, từng đường viền mắt. Chị dành cả buổi đi mua sắm áo quần và son phấn. Nhan sắc thanh nhã của chị gặp ánh đèn phấn son chiếu sáng nên càng thêm quyến rũ mặn nồng.

Một lần từ xưởng hoạ của Văn về, chị vùng vằng và tỏ vẻ hờn dỗi, nói với tôi:

-Anh Văn kỳ quá.

-Chuyện gì vậy? Tôi hỏi.

Chị ngập ngừng nói:

-Thẹn chết được. Ai lại hở ngực trần ngồi mẫu cho anh ấy được chứ.

Chị Trúc thẫn thờ và ốm xo mấy tuần lễ. Chị nói với tôi:

-Chị không thích thái độ của anh ấy.

-Là làm sao?

-Trông anh ấy khổ tâm vô cùng.

Giọng chị trở nên bồn chồn hơn:

-Anh ấy mong chờ gì ở chị chứ?

 

Tuy nhiên cách đấy không lâu, ở phòng tranh đô thành xuất hiện bức Trinh Nữ của Văn. Bức họa vẽ bản thân nghiêng trần của một thiếu nữ, đôimắt long lanh ngấn lệ mà miệng vẫn cười xinh, trên đầu nàng được bao phủ bởi một vòng hào quang kẽm gai chiếu sáng. Văn dùng màu hồng chính cạnh mầu xám nhạt, vẫn lối hoạ pháp cũ của anh. Bức tranh gây được sự chú ý của những nhà phê bình tranh ở đô thành.

Trúc bào chữa mảnh liệt về bức tranh:

-Anh Văn tưởng tượng đấy. Không bao giờ chị có thể làm một việc như vậy.

Tôi hỏi:

-Thế anh Văn bảo sao?

-Anh ấy bảo đấy là vòng hào quang nô lệ của người đàn bà.

-Rồi sao nữa? Tôi tò mò hỏi.

-Anh ấy bảo giá mà chị ngồi mẫu thì bức tranh sẽ đẹp hơn.

 

Chị im lặng một lúc đắm chìm trong những suy tư, rồi nói một cách buồn bã:

-Cái cô Mai trong Nữa Chừng Xuân ấy rõ đã dang dở cả cuộc đời. Em không thấy vậy sao. Chị chẳng bao giờ muốn trở thành như vậy.

Chị rưng rưng nước mắt, nói tiếp:

-Không. Chị sẽ không bao giờ làm điều ấy cho đến ngày chị lấy chồng.

 

Trúc không phải chờ đợi lâu. Vì khoảng vài tháng sau, nhân dịp về ăn tết, Văn dự tính sẽ thưa với bố mẹ để đi dạm hỏi chị.

Cái tết trôi qua trong sự náo nức chờ đợi của chị Trúc. Văn về nhà ăn tết, xong còn chờ gia đình thu xếp để đi xuống làm lễ hỏi cùng một lượt.

 

Cùng mùa xuân năm ấy Việt Cộng mở những cuộc tấn công vào miền Nam.

Mở đầu là cuộc tấn công vào ban Mê Thuột, vùng địa đầu cao nguyên này bị cấp lãnh đạo phe Quốc gia đột ngột bỏ rơi. Nên những binh sĩ chiến đấu cuối cùng đành buông tay. Thế là Cộng quân tràn vào đánh chiếm thành phố.

Gia đình anh Văn kẹt luôn trên ấy.

Chị tôi ở Sài Gòn chạy ngược chạy xuôi hỏi thăm tin tức của anh từ những người quen. Nhưng tuần lễ này tiếp nối tuần lễ khác, tin nhạn vẫn biền biệt.

 

Rồi tình hình chiến sự lan tràn, càng lúc càng gia tăng khốc liệt. Từng tỉnh rồi từng vùng cao nguyên bị cộng quân tràn vào đánh chiếm. Chiến cuộ lan xuống miền Trung. Quảng Trị, Huế, Đà Nẳng bị tấn công. Cuối tháng ba những đoàn người tỵ nạn từ cao nguyên và miền Trung đã chạy về thành phố duyên hải Vũng Tàu lánh nạn.

 

Giữa lúc tâm thần hốt hoảng vì chờ mong tin Văn. Chị tôi gặp Lương, một người bạn thân của Văn trong câu lạc bộ trường Vạn Hạnh. Lúc bấy giờ câu lạc bộ này đang biếu những phần cơm miễn phí cho những sing viên tỵ nạn. Lương là một sinh viên hoạt động tích cực trong Uỷ Ban Sinh Viên Cứu Trợ Nạn Nhân Chiến Cuộc. Anh đang đứng phân phát những phiếu thực phẩm cho sinh viên. Trông anh bé choắt người lại, mặt gầy xọm vì mất ngủ. Nhưng đôi mắt vẫn tinh bén nhận ra Trúc trong đám đông. Lương kéo chị tôi ra một góc và nói:

-Ra Vũng Tàu mà kiếm ông Văn. Người ta chạy tản cư về đấy đông lắm.

-Nhưng biết Văn ở đâu mà kiếm. Trúc nói. Cả rừng người tỵ nạn ngoài ấy.

Lương nói khích lệ:

-Thì Trúc cũng phải xông xáo một tí chứ. May ra tìm được ông ấy.

Lương lấy giấy và viết ra ghi vội cho chị tôi một cái địa chỉ:

-Nếu có chuyện gì thì liên lạc với tôi ở địa chỉ này ngoài Vũng Tàu.

 

Mấy hôm sau chị em tôi gom góp ít tiền bạc và áo quần ra Vũng Tàu.

Bấy giờ gần cuối tháng tư, Vũng Tàu tràn ngập ánh nắng và hỗn loạn người. Những đoàn người tỵ nạn tả tơi rách nát di chuyển hốt hoảng trên các ngã đường của thị xã. Họ đổ xuống từ đủ loại ghe thuyền. Họ chiếm bất cứ nơi nào có bóng cây, mái che, có cơ sở trống để tạm trú. Những trại tỵ nạn mọc lên chớp nhoáng khắp nơi. Nắng vẫn vẫy vùng sinh nhiệt cuồng say. Nắng thui cháy những khuôn mặt ngơ ngác của những đứa trẻ chạy lông rông tìm bố mẹ ở những chuyến tàu vừa cặp bến. Nắng lông lốc sáng láng trên những mái đầu của từng đoàn sư hớt hải vừa từ một tỉnh ngoài Trung chạy về. Nắng đục ngầu bụi trong đôi mắt của những người lính ghì chặt lấy báng súng từ một toán quân vừa mới được rải vào thành phố. Cả hai chúng tôi nhập vào đoàn người tỵ nạn, đi mòn chân gần hai tuần lễ. Tóc cháy khô chẻ vàng. Hết ngồi trông ở Bãi Trước đến ngóng chờ ở Bãi Sau. Vẫn không thấy bóng dáng của Văn. Chị tôi gần tuyệt vọng. Chị nói:

-Hay thôi về lại Sài Gòn chờ anh ấy vậy.

 

Chúng tôi chưa kịp thu xếp để quay về thì bố tôi cho người ra báo tin Văn vẫn chưa về Sài Gòn, rằng chúng tôi nên ở lại Vũng Tàu vì tình hình cực kỳ nguy hiểm cho những cuộc di chuyển.

Chúng tôi ở lại tiếp tục đi từ trại tỵ nạn này sang trại tỵ nạn khác kiếm Văn.

 

Cuối tháng tư, Cộng quân đã tràn chiếm hết miền Trung. Những tiếng súng đã về sát ven thành phố. Những cây cầu nối quốc lộ Sàigòn, Vũng Tàu bị gài mìn. Mọi người dân Vũng Tàu, dân tỵ nạn, lính tráng từ miền Trung và cao nguyên đổ về, dãy dụa tìm một sinh lộ. Người ta bắt đầu nói đến việc chạy ra những chiếc xà lan Mỹ ngoài khơi Vũng Tàu.

-Chúng tôi gặp Lương ở một xóm chài lưới gần Bãi Trước. Lương đã cải trang thành một ngư phủ, đã vất bỏ chiếc kiếng cận, tóc húi cao, hai chân mang dép nhựa, và thường lân la ở những bến tàu. Lương đi với chị em tôi hai ngày để tìm Văn.

Chiều hai mưới bảy tháng tư. Lương gặp chúng tôi đột ngột báo tin:

-Tôi nhờ được chiếc thuyền của người quen, Trúc và em đi chứ.

Trúc ngập ngừng:

-Đi đâu? Sao ai cũng sửa soạn để bỏ đi cả vậy.

Lương nói:

-Việt Cộng vào chúng rút hết những móng tay sơn đỏ của Trúc. Ớn không?

 

Lương chống tay vào hàng dậu kẽm gai, nhìn thẳng vào mặt chị tôi. Chẳng tỏ vẻ gì bỡn cợt về điều vừa nói. Lúc bấy giờ khảng năm giờ chiều. Gặp nhau ngoài con ngõ của gia đình bà Năm, nhà chị em tôi đang tạm trú, chúng tôi phải đứng nép sát hàng rào kẽm gai của ngôi nhà đầu ngõ để chừa lối cho những người khác ra vào. Lối đi hẹp của con nhỏ càng chật hơn với từng tốp người đổ tủa ra khỏi ngõ. Họ nhập vào đoàn người khổng lồ đang di chuyển ngoài con lộ lớn ngoài kia. Họ vội vàng đi. Kẻ gồng con, người gánh của. Họ lầm lũi di chuyển. Người ngược phương bắc, kẻ xuôi về Nam. Chẳng ai biết họ đi về đâu. Sau lưng chúng tôi những con chó từ trong căn nhà bâu lại tru sủa tam táp như chực tiến đến cắn xé chiếc gấu quần phất phơ của chị tôi.

Đột nhiên có tiếng nổ tung rung chuyển mặt đất. Dây kẽm gai bật cứa lên lưng chúng tôi. Lũ chó táp sủa mạnh hơn. Có tiếng la to từ đám đông: ‘Việt Cộng vào. Việt Cộng vào.’ Khói bốc lên mù mịt từ hướng tây nam thị xã. Bầu trời không lót lòng ráng nắng hoàng hôn vàng cháy như thường lệ, mà thay vào đấy , chỉ một màu xám ảm đạm của mây giông ùn kín bốn phương. Lương không chờ đợi phản ứng của Trúc lâu hơn. Anh lay mạnh đôi vai Trúc:

-Trúc và em phải rời khỏi đây. Không thể chần chờ lâu hơn nữa.

Chị tôi một tay đưa lên vuốt những giọt nước mắt trên gò má tái xanh, một tay nắm chặt tay tôi,c úi đầu nói nhỏ:

-Biết đi đâu bây giờ.

Lương đưa tay vẽ vời:

-Đi ra ngoài khơi tránh bom đạn. Cùng lắm thì ra đảo Phú Quốc một thời gian. Khi nào trong này yên ổn thì về lại.

-Phú Quốc à, chị Trúc chợt reo lên, cái đảo ấy bây giờ chứa toàn người tỵ nạn.

Lương phụ hoạ:

-Phải rồi. Biết đâu có Văn ngoài đấy.

 

Đêm ấy chị em tôi theo lương về một xóm chài. Xóm tối tăm và mù mịt không điện đèn. Chúng tôi vất bỏ giầy dép, khoác lên người bộ áo cánh đen, nép mình đi dưới sụ hướng dẫn của Lương. Những con đường cát lún sâu mắt cá. Những ngôi nhà mở toang không bóng người cạnh những cánh cửa im lìm khép cửa đã che khuất luôn ánh đèn dầu tù mù phía trong. Nhiều bóng người cũng vội vàng di chuyển xuống bãi. Thỉnh thoảng có tiếng quát tháo chặn hỏi, tiếng cắt bụp, tiếng la khóc và dãy dụa của trẻ nít. Những tràng súng cối nổ liên hồi và rất gần. Trên cao hàng dừa vẫn thong thả vỗ xào xạc tiếng sáo đêm và ngoài kia sóng biển vẫn xoài mình  đùa cợt với bầu trời sáng rực ánh hoả châu. Lương dẫn chúng tôi lên chiếc ghe đậu sẳn dưới bến. Một láy sau thuyền vội vàng nhổ neo. Chiếc thuyền ra khơi dưới làn đạn lửa vi veo trên đầu và dưới ánh sáng soi rõ lối của hoả châu. Thuyền không chở chúng tôi ra Phú Quốc, mà thay vì vậy, chạy về hướng Nam, xuống tận Thái Lan.

 

Thuyền chúng tôi tấp vào một làng đánh cá mạn cực Nam Thái. Ngày hôm sau, những ngư phủ địa phương hướng dẫn chúng tôi đến Songkla, nơi ấy một trại tỵ nạn Việt Nam mọc lên một cách sơ sài. Hai tấm dù cũ lỗ mỗ những vết dột được chính quyền quận này trăng lên, để che mưa đỡ nắng cho hơn hai trăm người tỵ nạn cộng sản vừa rời Việt Nam. Cả ba chúng tôi, Lương và chị em tôi, được cấp phát cho một mảnh chiếu, một chỗ nằm khiêm nhường cạnh gầm cầu gỗ dẫn ra một bến tàu nhỏ của Hải Quân Thái ở ven biển Songkla.

Những ngày chờ đợi một quốc gia tự do tiếp nhận, chúng tôi sống tù túng trong căn trại tồi tàn này. Nhưng nhờ ở cạnh biển nên hít thở được không khí trong lành của đại dương. Có Lương chị em tôi đỡ buồn và đỡ nhớ nhà. Lương giỏi ngoại ngữ nên được bầu làm phó trại. Lương phân chia chị Trúc vào công tác dạy trẻ em còn phân tôi lãnh việc phân phát thực phẩm. Chúng tôi bận rộn suốt ngày nên không còn thời giờ để nghĩ ngợi về những điều vừa xảy ra.

 

Thỉnh thoảng được buổi chiều rảnh việc, chị Trúc rủ tôi ra bãi biển, ngồi nhìn về hướng quê nhà xa xăm. Chúng tôi không nói với nhau lời nào nhưng nứoc mắt cứ tuôn tràn trên má. Cái biến cố tháng tư ấy quất lên mặt chúng tôi đến tối tăm mặt mày. Nó chưa thấm nhậm đủ để vật vã đời kẻ tỵ nạn. Nhưng nó mới cày lên từng luống kinh hoàng và đau đớn đủ để hai khoé mắt rỉ ra từng giọng lệ câm nín. Trúc viết Văn, Văn, Văn, lên cát. Xa xa những đợt sóng vẫn thong thả vỗ tửng tràng âm thanh như vỡ trời thực tại, trên bờ cát lạnh chị Trúc thả hồn chìm đắm trên những giòng chữ mộng ước vô âm. Buổi chiều như trục ánh sáng bất dịch đẩy dài chiếc bóng chúng tôi trên cát. Thường thường tiếng chân Lương tiến lại phá tan sự im lặng của chị em tôi.

Lương chỉ những ụ cát tôi đang moi lên cố đắp cho thành những căn nhà, và nói:

-Cô nhỏ này khéo tay nhỉ.

Anh thường kể lại những mẫu chuyện xảy ra một ngày trong trại, những chương trình tiếp diễn vào ngày mai. Chúng tôi tránh nhắc về những kỷ niệm cũ, về Văn. Dạo sau này những người trong trại vẫn ghẹo chị Trúc là bà phó trại. Lương không nói gì. Riêng Trúc kéo tôi ra một góc và nói:

-Em cũng biết là chị em mình bơ vơ từ những ngày ra Vũng Tàu kiếm anh Văn. Không có Lương liệu chị em mình có được yên ổn giữa cơn loạn lạc tơi bời này chăng.

Tôi nói lấp lửng:

-Kể ra thì anh chàng này khá được việc.

 

Chúng tôi ở trại được hơn một tháng thì nhận tin anh Tùng hiện đang ở Camp Pendleton Hoa Kỳ chờ chị em tôi. Trong khi ây Lương vì không có thân nhân ở đâu nên anh nạp đơn đi nhiều quốc gia. Ngày được chính phủ Canada nhận đi định cư, Lương báo tin:

-Trúc và em sẽ đi Hoa Kỳ gặp lại anh Tùng. Còn tôi sẽ đi Canada.

Trúc nói:

-Ai cũng chờ đi Hoa Kỳ ca. Sao Lương không đợi đi cùng.

 

Lương mỉm cười bí mật:

-Ở đâu thì cũng vậy thôi.

Trước nagỳ chia tay Lương, cả ba chúng tôi được phép ra phố Songkla. Chúng tôi đi dạo bộ, ăn uống, nô giỡn, và hẹn ngày tái ngộ. Cho đến giờ tiễn chân nhau, Lương vẫn không nhắc nhủ gì về món nợ tình cảm giữa Lương và Trúc. Lương đi rồi chị Trúc và tôi trở về chỗ trọ, bắt gặp món quà của Lương dành tặng: Một lọ nước hoa cho Trúc và xâu chuỗi bé li ti cho tôi. Chị Trúc cảm động cầm lấy món quà. Rồi bất ngờ chị nắm lấy tay tôi và nói:

-Ngọc Lan, chị mong em sẽ tìm được ở Lương những giải đáp thực tiễn cho những bâng khuâng của em về cuộc đời. Còn chị, trái tim chị đã vĩnh viễn thuộc về Văn. Không có Văn đời chị sẽ héo úa tàn lụi. Chị sẽ đi tìm cho đến khi nào về được bên anh ấy. Nếu vì một lý do nào đấy chị không được gặp lại Văn. Thì chị cũng mong em sẽ tìm gặp lại Lương, nhé em.

Tôi bối rối đứng lên trả lời chị:

-Điều trước tiên là bây giờ làm thế nào để anh chị gặp lại nhau chứ.

 

Bảy năm sau, tình cờ tôi gặp lại Văn.

Bảy năm trời với bao nhiêu biến cố đã bám sâu xuống đời tôi.

Tôi gặp Văn ở một cuộc biểu tình chống Cộng ở cạnh trụ sở Liên Hiệp Quốc, New York. Hôm ấy tôi đớng cạnh một người đàn ông tuổi trạc ngoài bốn mươi, vóc dáng gầy và khắc khổ, đầu tóc hơi rối, đứng với một thiếu nữ trẻ tuổi. Tôi vừa đứng cạnh họ vài phút, bỗng người đàn ông quay lại nhìn tôi không chớp mắt. Tôi ngượng ngập nhìn lại. Oâng ta thình lình nói:

-Xin lỗi cô…Cô có phải?...

Nghe giọng nói người đàn ông, tôi hơi ngỡ ngàng:

-Ông… Anh có phải?...

-Tôi là Văn.

-Ngọc Lan.

 

Dưới đôi kính dày trệ gọng, cặp mắt người đàn ông lặng đi giây lát.

Văn quay sang giới thiệu người thiếu nữ với tôi. Thiếu nữ có nhiều tàn nhang trên khuôn mặt trắng xanh, đôi mắt xanh, và mái tóc được cột túm ra phía sau. Trông như người vừa lành dậy sau một cơn bệnh.

-Hạnh, vợ tôi. Đây là Ngọc Lan, quen biết cũ ở Sài Gòn.

Hạnh gật đầu chào. Gió lay vạt áo choàng của nàng. Hạnh đang mang bầu khá lớn, tay phải cô luôn vịn vào cánh tay trái của Văn. Tôi nhìn Hạnh và bỗng vô cùng lúng túng, không biết có nên báo chô Văn hay tin về chị tôi.

 

Tôi đang bối rối, thì Văn đã lên tiếng:

-Cô đang sống với Tùng và Trúc chứ?

Tôi nghẹn ngào giây lát. Văn mấp máy định nói điều gì. Tôi nói nhanh:

-Em đang sống với vợ chồng anh Tùng. Còn chị Trúc…thì…

-Thì sao? Văn ngắt lời tôi.

-Chị Trúc đã mất. Tôi thốt nên lời.

 

Văn lịm người sững sờ. Hạnh lay mạnh cánh tay chồng và hỏi:

-Ai mất vậy? Sao vậy anh?

Tôi rơm rớm nước mắt, trả lời thay Văn:

-Dạ… Người chị em mất vì một tai nạn.

 

Vẫn đứng yên như một pho tượng, nhìn trừng trừng vào khoảng không.

Tôi thấy chưa tiện giải thích sự ra đi của chị Trúc, nên cáo từ:

-Hôm nào mời anh chị qua nhà em chơi.

Hạnh gật đầu:

-Vâng. Thế nào chúng tôi cũng ghé.

Văn ậm ừ chào tôi. Tôi quay lưng và nghe tiếng Hạnh ngập ngừng hỏi Văn:

-Có phải đấy là cô gái trong tranh không anh?

-Không. Em. Tiếng Văn đáp cụt.

 

Hạnh là người điện thoại thường xuyên cho tôi sau buổi gặp gỡ ấy. Hạnh tuổi Tuất và tôi tuổi Hợi. Hạnh hơn tôi một tuổi. Nàng được gia đình gửi đi vượt biên một mình. Hạnh cũng đã đến trại tỵ nạn Songkla, Thái Lan.

Không đầy một tháng sau, Hạnh hạ sanh một bé trai. Tôi được tin và đến thăm Hạnh trong nhà thương. Hạnh nằm trên giường, khuôn mặt trắng xanh và bầu bĩnh như đứa con nằm cạnh. Đứa bé tóc quăn. Nó không giống Văn mà cũng chẳng giống Hạnh.

 

Hạnh rơm rớm nước mắt khi thấy tôi vào thăm. Hạnh nói nàng sanh từ tối hôm qua mà mãi tới tận trưa nay Văn vẫn chưa vào thăm mẹ con nàng. Hạnh đang mong chồng đến.

Tôi ngồi với Hạnh nửa tiếng thì Văn vào. Tôi nhường chỗ cho hai vợ chồng trò chuyện. Khi tôi bỏ ra phía ngoài. Văn nói với tôi ở cửa là anh muốn gặp tôi.

Tôi ra phòng giải khát chờ Văn. Tôi chọn chỗ ngồi gần khung kính và kéo tấm màn cửa sổ về một phía. Bên ngoài, nắng vàng lay lắt trên những chùm lá non vừa dậy phiến, chim khua mõ đầu cành vừa nhú lộc xanh. Cũng nơi này mới ngày nào tôi đã ngồi nhìn qua căn nhà xác, nơi người ta đang phủ lên xác chị tôi một lớp vải trắng ngần. Giữa một khoảng thời gian không dài lắm, tôi đã đến bệnh viện hai lần. Một lần để tiễn một kẻ ra đi. Một lần để đón một kẻ ra đời.

Mãi hơn hai giờ sau Văn mới đến. Tôi bỡ ngỡ nhìn anh kéo ghế ngồi đối diện: người đàn ông đang ngồi xuống đây với thân xác mà tôi có thể sờ mó được. Còn linh hồn chị tôi có an nghỉ ở một cõi trời mơ ước nào?

 

Văn cũng trông như từ một cõi nào trở về. Trên khuôn mặt anh tóc râu mọc lởm chởm, đôi mắt không còn mê đắm, nét hào hoa của chàng họa sĩ trên căn gác trọ ngày nào đã lắng đọng. Thay vào đấy là một làn da rám nắng phong trần, là vầng trán nhô cao bướng bỉnh, là đôi bàn tay gầy guộc dẻo dai. Anh ngồi quay lưng về phía mặt trời lặn. Aùnh sáng từ khung cửa kính hắt vào chỗ anh ngồi. Tôi nhìn bóng anh thu hình trên mặt bàn, chiếc bóng lung linh theo từng cử động: đôi chân mày nhíu lại, một cái xoay nhìn, điếu thuốc đưa lên môi bỏ lững. Mỗi cử chỉ là một tác động được chọn lọc và được dàn xếp. tựa như người kịch sĩ cẩn thận chọn cho mình những dáng điệu trước ánh đèn sân khấu.

 

Chúng tôi ngồi ôn lại dĩ vãng. Văn ngập ngừng khơi những kỷ niệm của những cái tết cuối cùng. Trước khi anh về Ban Mê Thuột, vào những ngày cuối cạnh nhau, chị Trúc khóc vu vơ liên lũy. Anh gặng hỏi thì chị chỉ nói thường là trước những ngày bị kinh nguyệt chị hay đau bụng âm ỉ, hay dễ xúc động và tủi thân, thế thôi.

Anh về thu xếp đám cưới mà hai người dự tính sẽ tổ chức vào cuối tháng tư. Nhưng một cơn áp huyết cao bất ngờ của bố anh đã làm mọi việc chậm trễ. Chuyến bay về Sài Gòn phải hoãn lại. Kết quả là gia đình anh kẹt lại với mặt trận Buôn Mê Thuột vào những ngày đầu tháng ba.

 

Khi quân phương Bắc ở rừng về, chúng bắt nhốt anh vào một trại học tập. Anh phạm tội là đã sinh ra trong một gia đình di cư. Gia đình anh đã hưởng ứng phong trào lên cao nguyên lập Aáp Chiến Lược vào đầu thập niên sáu mươi. Nhưng hơn cả, là tội anh có chân trong nhóm Hội Văn Nghệ Sĩ Tự Do dưới chế độ cũ.

 

Anh lắng nghe những điều đã xảy đến với chị Trúc từ những ngày anh về Buôn Mê Thuột. Tôi khó khăn nhắc lại chuyện cũ, những gì xảy ra mà người ta không thể thay đổi được nữa. Như chuyện chị em tôi gặp lại Sáu Mẹo vào những ngày đầu lưu lạc sang Hoa Kỳ. Sáu Mẹo mừng rỡ như diều gặp gió, bảo rằng nơi đây mọi người đều bình đẳng. Quá khứ xưa cũ ở Việt Nam là bỏ. Nên y nhất định đòi cưới chị Trúc làm vợ. Y vây hãm chị Trúc ráo riết ở trường học, ở nhà, ở các chuyến xe bus. Và vì vậy chị em tôi mới dọn về Nữu Ước, tá túc nhà người quen. Chị Trúc đã mất trong biến cố thê thảm nhất của cuộc đời một người con gái. Một tên cuồng dâm đã bắt cóc và hãm hiếp rồi quẳng xác chị vào một căn cứ quân sự Mỹ. Xác chị đã được hỏa táng và tung vào lòng biển cả để làm tròn lời nguyện ước của người xấu số hơn một lần đã ao ước. Như chuyện tên cuồng dâm khai y đã từng là lính Thuỷ Quân Lục Chiến tham dự nhiều mặt trận ở Việt Nam, Cao Miên và Hạ Lào. Ra trước vành móng ngựa, thân xác y to lớn và thô kệch, giọng nói y hoang dã và ồm oàm nuốt lững tiếng nói của vị quan tòa người bé loắt choắt ngồi trên bục cao. Tên luật sư biện hộ cho y nói rằng sở dĩ y hành động như vậy là vì khung cảnh nơi xảy ra vụ hãm hiếp, một vùng ngoại ô đông dân và nghèo nàn ở Nữu Ước cũng nóng bức và ẩm thấp, làm y nhớ lại những ngày lùng giết địch trên chiến trường Đông Dương.

 

Khi tôi bắt đầu kể chuyện. Văn chăm chú nghr một cách khó nhọc. Anh đưa liên tiếp những điếu thuốc lên môi, rít và thở ra những làn khói không ngừng. Càng về sau, anh càng trân trối nhìn tôi nhiều. Thỉnh thoảng gật gù như tỏ vẻ vừa ý về những điều tôi vừa phát biểu.

Tôi chấm dứt câu chuyện và chờ đợi anh một lời an ủi. Anh yên lặng khá lâu, nhìn tôi hơi kỹ. Cuối cùng anh cất giọng nói từ tốn và thanh thản:

-Được đấy. Giọng cô khỏe và sắc sảo hơn Trúc nhiều

Tôi nói:

-Cái chết của chị là nỗi đau đớn giải thoát những điều phiền muộn bấy lâu nay đã phủ kín hồn em. Nó chứng thực nỗi vô vọng mà em phải nhìn Trúc trải qua và đánh đổi bằng sự sống của chị. Phải. Có khi niềm tin phải chết đi một lần để khởi phục sự bất biến và trường cửu của nó. Bây giờ thì em tạm an tâm với niềm tự phục sinh chính mình. Cám ơn anh. Bức tranh của anh bây giờ ở đâu? Em yêu mến nó biết là dường nào.

Văn nhìn tôi một cách thân mến. Tôi cảm nhận nỗi ấm áp chảy sâu  vào cơ thể và tưởng chừng như chị Trúc đang quanh quất đâu đây. Văn nói:

-Bức tranh ấy hiện có mặt tại Hoa Kỳ. Một người bạn của tôi đã mang theo vào những giờ chót, trước khi Sài Gòn thất thủ.

 

Văn sửa lại ghế ngồi, châm một điếu thuốc và đưa lên môi, rồi thong thả nói tiếp:

-Tôi đã nghĩ nhiều về chúng, về y, khi đặt nét vẽ đầu tiên xuống. Trúc đã khóc khi bức tranh hoàn tất. Mà có lẽ trong giây phút chống cự một cách tuyệt vọng với y, nàng cũng chỉ biết nhỏ ra một dòng lệ từ khóe mắt ấy. Oâi những dòng lệ tinh khiết tuyệt đối của nàng đã ép nát tim tôi gần tan chảy. Điều gì thay đổi? Không. Trúc đã chết dưới bàn tay thô bạo của y. và tôi là kẻ bại trận khi chúng còng tay tôi lại lôi xềnh xệch lên chiếc xe bít bùng chở vào trại học tập.

Nhưng trên hết những khuôn mặt bầy nhầy của y, của chúng, là khuôn mặt của nàng. Nàng đã ám ảnh tôi trong bao đêm trường suốt tuổi thanh xuân. Nàng là giấc mộng mà đã bao nhiêu lần tôi ấp ủ để hiện thực. Nhưng tôi đã làm được gì cho nàng? Một bức tranh ư? Khốn nạn thay nó chỉ làm rung động những tâm hồn đã tràn đầy lòng nhân ái như nàng. Không. Tôi không cần những giọt nước mắt của nàng. Tôi cần sự sống của nàng.

 

Văn dừng lại, đứng dậy tiến đến tấm màn cửa, hạ bức rèm che nắng xuống. Chỗ ngồi của chúng tôi dịu bớt nắng. Cuối phòng ăn, một đứa bé trai đang loay hoay với những đồng tiền mắc kẹt trong chiếc máy bán kẹo bánh. Văn đến cạnh, dùng tay lắc mạnh chiếc máy bán hàng. Những đồng tiền cắt rơi lẻng kẻng xuống chiếc võng tiền. Đứa bé vui mừng cám ơn ríu rít. Anh trở lại bàn, mang theo hai ly cà phê thơm nóng. Anh ngồi xuống chỗ cũ. Chiếc bóng đã biến mất trên mặt bàn. Tôi ngồi nhìn anh xoay xoay ly cà phê như sắp bóp vỡ vụn chiếc ly thủy tinh. Tôi nhận ra là anh không mang kính. Đôi mắt anh tròn và khá đẹp. Anh nói tiếp:

-Những giấc mộng thì vẫn còn có cơ may thực hiện được.

Tôi mỉm cười:

-Vâng.

 

-Điều tôi đã học hỏi được qua những kinh nghiệm đau thương suốt thời gian xa vắng nàng rằng chúng ta không thể giao phó giấc mộng của mình cho kẻ khác, mà trước hết chúng ta phải chứng nghiệm, phải phấn đấu, phải thử nghiệm bằng cuộc đời mình. Một giấc mộng chưa được chính chúng ta hiện thực thì vẫn còn là một giấc mộng với tất cả nỗi mơ hồ và hỗn mang của nó. Thật vô ích khi mộng đã vượt ra khỏi tầm tay. Và kẻ khác thì hãnh diện giày xéo dưới bàn chân của họ.

Phải. Những giấc mộng thì vẫn còn có cơ may hiện thực. Những thực tại thì vẫn còn có những kẻ như Lương tạo ra: Chính Lương đã mang được nàng ra khỏi nơi ấy, trước khi những bàn tay phong hủi của chúng có thể chạm đến nàng…

 

Tôi ngắt lời Văn:

-Anh biết chyện Lương mang hai chị em em rời Việt Nam sao?

Văn nhếch môi:

-Tôi có liên lạc với Lương dạo gần đây.

Anh nhìn tôi tò mò:

-Cô biết hắn đang ở đâu không?

 Tôi trả lời:

-Không. Hơn ba tháng nay rồi em không nhận được thư từ gì của anh ấy nữa.

-Hắn về chiến khu rồi. Có thư cho cô đây.

 

Văn rút ra trong túi áo một mảnh giấy chằng chịt chữ và trao cho tôi. Tôi bàng hoàng sững sờ. Dạo sau này mọi người nô nức về chuyến trở về nước chiến đấu của một nhóm tỵ nạn dũng cảm. Lương đã có mặt trong đoàn quân ấy? Tôi cầm lá thư một cách hồi hộp và cảm động.

Văn nhìn tôi, nói tiếp:

-Chỉ còn những ngẫu lực gây nên những cuộc kì ngộ…

 

Tôi gật gù:

-Ừ. Như cuộc kì ngộ ở trụ sở Liên Hiệp Quốc hôm nọ.

Văn tiếp:

-Vâng. Có phải thượng đế là tổng số những ngẫu lực? Những ngẫu lực dào dạt như thác lũ không ngừng xô đẩy nhau trong cõi đời. Vũ trụ này tràn đầy những khí lực của trời đất mây mưa gió núi. Chúng có thể tạo nên những ngẫu lực xô đẩy và lôi cuốn chúng ta đến bất cứ nơi nào trong cuộc đời hõn mang này.

 

Có phải chỉ những kẻ nội lực thâm hậu như Thích ca, như Tần Thủy Hoàng, như Jesus, như Stalin, mới tỏa ra được khí lực lay chuyển được ngoại lực, hoán cải được số mệnh của mình và số mệnh của những kẻ chung quanh? Có phải những kẻ yếu đuối sẽ bị khuất phục bởi những ngoại lực của vũ trụ và của những kẻ mạnh và vì vậy sẽ chẳng bao giờ nắm được số mệnh về tay mình?

 

Văn đã nốc cạn những giọt cà phê cuối cùng của ly thứ nhất. Anh đứng dậy tiến về phía quầy nước, gọi một ly khác. Rồi trở lại chỗ cũ.

 

Anh ngồi xuống, lại chậm rãi nhâm nhi những ngụm cà phê đen nhánh. Anh nói tiếp:

-Câu chuyện xảy ra cho Hạnh trên chiếc thuyền tỵ nạn. Chiếc thuyền khốn khổ ấy đã cứu mạng tấn thảm kịch nhân loại. Mà Hạnh là kẻ gánh chịu vòng mão gai cứu rỗi đã một lần nhân loại đã giao phó cho thượng đế.

Bốn mươi hai người trên một chiếc ghe nhỏ khởi hành từ bến Lâm Quang Ky Rạch Giá vào một đêm trăng rằm. Rằm tháng bảy. Trời cao mây tạnh. Trăng nước quyến rũ lòng kẻ ra đi. Hạnh được bố mẹ gửi từ Sài Gòn xuống Rạch Giá chỉ hai ngày trước đấy. Nàng nhận được mật hiệu rằng ghe sẽ khởi hành vào đêm trăng tròn. Một chiếc xuồng nhỏ đưa Hạnh từ bờ ra ghe. Chiếc ghe rời bến vào tám giờ tối. Qua một đêm sáng trăng đầy săn đuổi. Ghe vượt qua được những trạm kiểm soát của tụi công an biên phòng nhờ những thỏi vàng đút lót. Sáng hôm sau chiếc ghe ra đến hải phận quốc tế. Mọi người mừng tưởng như đã sờ mó được mặt trời tự do vào rạng đông đầu của chuyến hải hành.

Sau hai ngày lênh đênh trên biển Thái Bình Dương, đoàn người trôi dạt vào vịnh Thái Lan. Đêm thứ ba chiếc ghe bị bọn cướp biển Thái chận lại. Chúng dùng súng lục soát vàng bạc và nữ trang của mọi người. Nhưng chưa hết, chúng còn chọn ra ba thiếu nữ xinh đẹp và ra hiệu cho biết chúng chỉ để cho chiếc ghe tiếp tục chạy. Nếu mọi người để cho chúng mang những thiếu nữ này về ghe của chúng một đêm.

Khi thấy Hạnh bị lôi lên boong tàu của bọn cướp, người thanh niên con của vị chủ ghe lao theo kéo giữ Hạnh lại.

Không ngờ chúng dùng báng súng đạp vào đầu thanh niên này, rồi xô anh ta xuống biển. Chúng trói tất cả đàn ông về một phía, xong dẫn những thiếu nữ về tàu. Tờ mờ sáng hôm sau chúng mang trả những người thiếu nữ xấu số này về lại, tháo mở dây trói cho những thanh niên, và đẩy chiếc ghe về hướng Songkla. Một ngày sau chiếc ghe cập bến Songkla. Đoàn thuyền nhân thất thểu lội vào bờ. Chúng tôi xuống lôi trong khoang ghe ra những thiếu nữ đã kiệt lực.

Tôi bế Hạnh lội vào bờ. Nàng gần bất tỉnh, máu tắm ướt lưng người, thịt da mềm nhũng, nước mắt ứa tràn, nói thều thào trên cánh tay tôi: ‘Má ơi, con đau quá. Chắc con chết mất.’

Tôi nâng Hạnh trên tay như nâng lên một bức tượng đã bị tan nát trong tay quân dữ. Bức tượng đang bị rút tỉa hết nhựa sống và đang cần được thở vào hơi thở cứu rỗi. Tôi không cầm được ý nghĩ rằng tôi đang nâng niu Trúc trên cánh tay mình. Lần này thì tôi biết tôi phải dành lấy quyền hành động về tay tôi.

 

Làm sao tôi biết Hạnh chính là Trúc!

 

Văn nhìn trừng trừng vài khoảng không trước mặt. Phòng giải khát không còn chỉ có tiếng chúng tôi thì thầm. Những người thăm bệnh nhân bắt đầu đi vào đông hơn. Văn đưa hai tay lên vò mái tóc. Kim đồng hồ trên tay anh tích tắc những tiếng động

 

Khi đứng dậy chào giã biệt anh, tôi hỏi:

-Anh đã đặt tên cho thằng bé chưa?

Văn gật đầu chắt nịch, bắt tay tôi, miệng không nở một nụ cười đưa tiễn nào.

 

Lê Thị Huệ

(1980)