SÓNG ĐÊM SAN ELIJO
tạp ghi của Hoàng Mai Đạt
Bệnh cũng như chết, trước sau ǵ ai cũng bị. Có điều bệnh không oai bằng chết. Người ta, trong một lúc nông nỗi, lên máu anh hùng, thường nói sảng “Thà chết sướng hơn,” chứ không ai vỗ ngực tuyên bố “Thà bệnh sướng hơn.” Chết chỉ có một lần, không có thuốc chữa, Phật hay Chúa cũng bó tay. Các Ngài chỉ có thể hứa đưa về một nơi khá hơn ở bên kia nghĩa trang. Chết là xong. C̣n bệnh bị dài dài, có khi chữa được, có khi không.
Ai có bệnh ǵ th́ người đó biết. Tôi biết tôi mắc nhiều bệnh, cũng may toàn những thứ bệnh lặt vặt, nếu không thể chữa cho hết bệnh th́ cũng chịu đựng được, như bệnh ho bất chợt, bệnh chảy mồ hôi tay, bệnh dị ứng, bệnh hắt x́ chảy nước mũi mỗi sáng bước vào cái sở làm thường mở máy lạnh giữa mùa đông, bệnh nhức đầu sau một ngày đọc quá nhiều tin, bệnh thiếu ngủ, bệnh mập. Đó là chưa kể những thứ bệnh tâm lư như bệnh lười, bệnh suy tư, bệnh ít nói, bệnh thích uống bia, bệnh chán đi làm, bệnh thích đi chơi xa. Ngày xưa tôi c̣n có những thứ bệnh độc hại khác như bệnh ghẻ, bệnh khoe cá nhân, bệnh chê thiên hạ, bệnh rên khổ, bệnh mê tiền, và bệnh mê ... phái nữ. H́nh như những bệnh đó đă thuyên giảm khá nhiều từ ngày tôi có vợ. H́nh như vậy. Riêng dạo này th́ bệnh chán đi làm đă bộc phát mạnh, như dịch cúm gà ở Việt Nam, khiến cho tôi điên đảo, không biết đối phó ra sao. Cũng may tôi t́m được một lối thoát tạm thời.
Tôi đang kiếm sống bằng hai nghề: viết tin cho đài phát thanh và mua bán địa ốc. Nghề nào nghe cũng bảnh, mà cũng rất bệnh. Tôi hành nghề viết tin trên 10 năm. Làm công việc nào trên 10 năm cũng chán, ngoại trừ nghề làm vua hoặc làm lănh tụ độc tài. Tôi có máu du mục ở trong người, ngồi lâu một chỗ chịu không nổi, nhất là trong nơi chật chội, khiến đôi chân bị g̣ bó và chí phiêu bồng bị cùm kẹp. Tôi cũng c̣n hứng thú với nghề viết tin, muốn phục vụ cộng đồng, xem đài phát thanh như đại gia đ́nh của chính ḿnh. Tôi từng sống chết với đài, sẵn sàng ở lại ngoài giờ làm việc để viết thêm tin, muốn cạnh tranh, đánh tan nát, bụp te tua các đài bạn.
Đó là những lúc tôi nóng như núi lửa. Dần dần tôi cũng thấm mệt. Viết tin phải khách quan, tránh có ư kiến riêng tư. Thế nhưng làm sao mà không đau ḷng mỗi khi đọc tên của những người lính trẻ, chết trận ở Iraq. Dạo này mỗi ngày tôi đều duyệt danh sách tử thương do Bộ Quốc Pḥng loan tải, để xem có ai là người Việt Nam hay không, y như tôi từng ḍ danh sách những người tử nạn trong ngày 11 tháng 9 năm 2001. Mỗi ngày vẫn có vài quân nhân Mỹ tử trận. Nhiều người mới có 19, 20 tuổi, bằng tuổi con của chúng tôi. Càng đau buồn hơn khi được thấy h́nh ảnh tươi cười, trẻ trung của những người lính trước ngày ra trận. Tôi viết tin như một kẻ vô tâm, ghi lại những dữ kiện từ những hăng thông tấn, mà ḷng xót xa cho các gia đ́nh, cho những người mẹ bị mất con, cho mấy cô vợ trẻ dắt con đến phi trường để nhận quan tài.
Tin từ Việt Nam cũng cào xé tim tôi. Chiến tranh đă chấm dứt từ mấy chục năm trước mà sao đời sống vẫn không b́nh yên. Người Thượng bồng bế nhau trốn chạy vào rừng, t́m đường qua biên giới Cam Bốt. Họ đâu muốn sống ở xứ lạ quê người, mà ở lại cũng không được, người ta lấy mất ruộng đất, c̣n dọa nạt, cấm thờ phượng, không cho tụ tập học Kinh Thánh. Mấy người tu hành ở trong chùa cũng không được yên thân. Phật ở đâu th́ cũng là Phật, cũng rộng ḷng từ bi, đâu bắt buộc các con Phật phải đi chùa của nhà nước, không được đi lễ ở chùa khác. Chế độ độc tài vẫn c̣n đó, huênh hoang, phét lác, mờ ám, tự tôn như thuở nào. Đất nước có dễ thở hơn, bớt nghèo, những phương tiện văn minh thời đại cũng tràn ngập các thành phố lớn, mà sao đời sống con người như sa đọa, phù phiếm hơn, xem thường tinh thần tự trọng. Nhà nước có thể thản nhiên vu khống, ca ngợi tùy hứng, xin viện trợ liên miên không biết xấu hổ, giỏi đổ lỗi, dở trách nhiệm. Không ai ngạc nhiên khi biết Việt Nam là một trong các quốc gia tham nhũng nhất thế giới, người dân phải bán sức lao động, bán thân ở xứ người.
Công việc hàng ngày bắt tôi phải thấy những điều không ổn, bất toàn giữa những tin vui hiếm hoi. Không muốn cũng phải chịu. Tôi tự t́m thuốc chữa trị cho bản thân, loay hoay lần ṃ một lối thoát. Bàn làm việc của tôi nằm ở trong một góc pḥng, tận cùng của một hành lang ngắn mà nếu có bước qua người ta có thể tưởng đây là một kho hàng bề bộn với đồ đạc, dụng cụ chất đầy, giành lấn lối đi, không hẳn mang phong cách của một nơi chuyên nghiệp.
Tôi sống sót mỗi ngày trong kho hàng nhờ những bản tin vui, những bản tin mang tính chất đời thường mà gần gũi, khôi hài. Tôi cũng bớt căng tâm trí nhờ mấy bức h́nh treo trên tường bên cạnh bàn viết. Những bức h́nh của vực núi đỏ Bryce ở tiểu bang Utah, của cây xanh chung quanh miền núi lửa Lassen ở Bắc California, của suối nước nóng lưu huỳnh ở Yellowstone, tiểu bang Wyoming, và của hồ xanh biếc Crater hoang dă ở tiểu bang Oregon. Mỗi bức h́nh gợi nhớ những ngày dong ruổi mà tôi có thể sống lại trong giây lát như đang dẫm bước giữa thiên nhiên. Mỗi buổi trưa ở sở làm, tôi thường mang thức ăn ra ngoài, ngồi một ḿnh dưới bóng cây bên cạnh sở, tạm quên những ḍng tin căng thẳng và ḍng đời chán ngán.
Nghề địa ốc cũng rất căng thẳng, đôi lúc hồi hộp, tim đập loạn xạ muốn đứt mạch tim. Nếu trái tim có thể rớt ra ngoài lồng ngực, chắc tôi đă phải lượm lại cơ phận này vài chục lần mặc dù mới vô nghề mua bán nhà đất chỉ hơn một năm. Khác với huyền thoại cho rằng người làm địa ốc giàu khá, những người tôi biết chỉ kiếm vừa đủ sống, hành nghề rất vất vả. Một hợp đồng mua bán vẫn có thể bể, găy đổ ở phút chót. Một ông đồng nghiệp lớn tuổi dùng một ẩn dụ, kể cho tôi nghe một kinh nghiệm đau thương. “Cơm đưa tới môi, sắp và vô miệng, c̣n bị hất ra ngoài. Mất hết miếng ăn.”
Các địa ốc viên có thể nhịn đói, đi xe láng, ráng tạo ấn tượng bề ngoài làm ra tiền, tô vẽ miệng cười như chú hề mà thật sự cơi ḷng rơi lệ như hai mặt của kịch sĩ. Cũng có những người thật sự khá giả, nhưng họ phải trả giá bằng thời giờ quá ít dành cho gia đ́nh, cho chính bản thân, và đôi khi họ để cho lương tâm làm ngơ trước t́nh cảnh gian dối.
Vất vả mà được tiền th́ cũng xứng đáng. Đằng này làm muốn phát điên, phát bệnh mà có khi không được đồng nào. Một buổi chiều nọ tôi lái xe từ Los Angeles về Quận Cam. Giữa lúc đang bị kẹt xe trên xa lộ 22 Garden Grove, tôi nghe điện thoại và trả lời một anh chuyên viên địa ốc vừa bị mua hụt nhà do tôi đại diện bán. Trong ṿng một ngày tôi đă nghe sáu, bảy cú điện thoại như vậy. Lúc đó tôi đang bán một căn nhà ở Baldwin Park. Thân chủ của tôi nhận đơn mua nhà của một người, bác bỏ đơn của gần 10 người khác. Nhận lại đơn bị bác, mấy bà, mấy ông chuyên viên liền gọi tôi. Hầu hết đều có vẻ giận dữ hoặc giận hờn như không hiểu tại sao đề nghị mua nhà của họ quá tốt như vậy mà lại bị gạt ra ngoài. Riêng anh chàng gọi cho tôi trên xa lộ đă làm cho tôi chạnh ḷng.
Ban đầu anh Ed Mỹ trắng này (tôi biết anh là Mỹ trắng nhờ tấm danh thiếp anh gởi cho tôi) cũng càm ràm, trách móc tại sao tôi nỡ từ chối đơn của anh. Tôi lái xe một tay, tay kia cầm máy nghe điện thoại. Lời than văn bay phần phật giữa những ḍng xe nhích như sên trên xa lộ. Tôi ráng giải thích một cách chuyên nghiệp, ôn tồn, nói rằng quyết định không phải của tôi mà của thân chủ. Bà chủ xem hết mấy xấp hợp đồng, chọn đề nghị thuận lợi nhất cho bà. Đề nghị của anh cũng rất “good,” nhưng bị bà ấy chê, đành chịu vậy, biết làm sao giờ. Tôi chợt nghe yên lặng ở bên kia đầu dây, tưởng anh chàng đă cúp máy, mừng thầm không phải nghe thêm. Bỗng anh nói tiếp, xin lỗi đă trách cứ tôi mặc dù anh biết tôi cũng như anh, chỉ là kẻ đứng ở giữa, may hưởng xui chịu. Anh xin tôi cho anh thêm vài phút để tâm sự v́ anh cần có người lắng nghe.
Ed gọi tên tôi như người thân quen, xong thở dài, nói như sắp khóc. Tôi giật ḿnh, phân vân không biết anh là một kịch sĩ chưa thành danh đang làm thêm nghề địa ốc – như văn sĩ cũng có thể bước vào nghề này vậy – hay anh đang thật sự xúc động. Anh ngại thông báo với thân chủ về đơn mua nhà vừa bị tôi bác. Anh làm việc với họ hơn một tháng, dẫn đi xem nhiều căn nhà, điền đơn mua mấy căn mà không thành. Giá nhà ở Nam California mắc quá, người ta giành mua ngay khi nhà vừa được đưa vào thị trường. Địa ốc viên quá nhiều, hô lên một tiếng muốn bán nhà là thấy một đám đông đứng trước cửa như sắp có biểu t́nh. Ed bị hụt mấy bận, bị thân chủ chê, dọa t́m chuyên viên khác. Đến lần hụt chót, họ dùng lời lẽ thô bạo với Ed. Anh không biết nói sao lần này. Họ là thân chủ duy nhất trong ba tháng qua. Mua được nhà th́ mới được trả tiền dịch vụ. Chuyên viên phải chịu nhiều phí tổn, tốn công lái xe đưa khách đi xem nhà, điền đơn, trả tiền dùng văn pḥng của công ty.
Tôi thông cảm nỗi khó của anh. Vợ chồng tôi từng chạy ngược xuôi đưa khách đến Moreno Valley, Temecula, Apple Valley, những nơi cách xa khu phố Bolsa mấy tiếng đồng hồ lái xe, lên đèo xuống núi vào sa mạc, chưa kể thời giờ liên lạc với địa ốc viên đại diện chủ nhà, hẹn giờ xem nhà. Chạy đôn chạy đáo mấy lần đó cũng chưa mua được nhà cho ai. Khi nghe Ed cúp điện thoại, tôi mường tượng anh bấm số gọi thân chủ báo tin không vui, nghe họ trách móc, rồi anh thở dài. Sau đó anh sẽ lầm lũi rời văn pḥng, về nhà không biết nói ǵ với vợ con sau một ngày không kiếm ra tiền.
Tôi đă từng về nhà mấy lần như vậy. Có lẽ tôi c̣n mang bản chất của một gă đàn ông tiền sử, sáng vào rừng săn thú, chiều mang thịt tươi về nuôi vợ con. Niềm vui của một người cha, một người chồng là tiền lương cầm trong tay. Không có món tiền tươi đó, người cha cảm thấy bất lực, không làm tṛn bổn phận đối với gia đ́nh. Không biết chết có sướng hơn so với về nhà với hai bàn tay trắng?
Như đă nói, đôi tay của bệnh chán đi làm đang siết vào cổ tôi, khiến tôi bị nghẹt thở, đau ngực. May mà tôi cũng có vài món vơ để đối phó, gạt đôi tay ấy ra khỏi cổ. Tôi thích nghe nhạc, nhất là nhạc không lời, càng ít lời càng tốt, giúp cho trí tưởng tượng không bị trói buộc, được thả lỏng bay theo gió, phiêu lăng về nơi thanh thản đẹp hơn thiên đường. Đọc sách đôi khi cũng tốt, cho tôi những giây phút riêng tư. Tôi cũng thích xem phim với gia đ́nh. Mỗi cuối tuần chúng tôi thuê phim về xem. Ngày hôm sau cha con, vợ chồng bàn luận, chê khen truyện phim, điểm phim với ngón cái đưa lên, chĩa xuống, không thua mấy nhà phê b́nh của Hollywood. Lần này bệnh chán đi làm của tôi đă lên cơn khá nặng, nên phim, sách, nhạc cũng chịu thua. Chỉ c̣n một giải pháp tối hậu: đi chơi xa, càng gần thiên nhiên càng tốt.
Các tiền nhân từng khám phá thiên nhiên là liều thuốc an thần, chữa bá bệnh của người thành phố. Mấy ngàn năm trước phố xá của nhân loại mới có mấy con đường đất cho ngựa chạy, chưa có xa lộ hai chiều, chưa có quán cà phê Internet cho người ta ghé vô xem e-mail, vậy mà Lăo Tử cũng chán cảnh xô bồ ở Trung Hoa, xuất thế t́m về thiên nhiên để chữa bệnh ngán đời.
Cũng với lư do tương tự, vào cuối mùa xuân năm 1845, ông Henry David Thoreau đă đi bộ hơn một dặm đường, rời bỏ một thị xă ở tiểu bang Massachusetts, để vào rừng và sống bên cạnh một hồ nước. Nhà hiền triết này có một thân h́nh gầy ốm của một chàng thi sĩ, và một đôi tay gân guốc, rắn chắc của một ông thợ nề. Trong hơn hai năm sống trong rừng, ông đă tự xây nhà, trồng rau, quan sát những con kiến, xem từng bông tuyết rơi, và viết ... lai rai. Tác phẩm của ông đă mang tên của hồ nước Walden. Không chỉ chữa bệnh cho ông, tác phẩm Walden cũng sắc thuốc cho người Mỹ, nhắc họ hăy trở về với thiên nhiên để t́m nơi nương tựa cho đời sống tinh thần.
Một buổi chiều kia tôi nói với vợ về bệnh chán đi làm, chán nghe tin chết người, chán t́m nhà cho khách, chán đọc, chán viết, chán hết mọi thứ, chỉ muốn đi chơi xa, ra khỏi phố Bolsa càng sớm càng tốt. Nàng nhà tôi cũng có máu du mục, nên thông cảm ngay nỗi bứt rứt của chồng. Có lẽ mấy kiếp trước chúng tôi từng phóng ngựa theo người Mông Cổ, tung vó khắp vùng Trung Á, hoặc lặn lội theo chân người da đỏ, lang thang dọc ngang đường sông hẻm núi xuống Nam Mỹ.
Có điều bây giờ chúng tôi không c̣n trẻ, không c̣n sức để phiêu bạt giang hồ, chịu đựng gió mưa dọc theo mấy trăm hoặc mấy ngàn dặm qua những nơi xa lạ. Thế nhưng máu giang hồ vẫn c̣n nóng hổi, thúc đẩy hai kẻ trung niên hăy tiếp tục lái xe ́ ạch lên núi, ṿng vèo dọc theo đường biển, cho dù chúng tôi phải đeo kiếng lăo đọc bản đồ, lom khom vừa dựng lều vừa vỗ lưng cho bớt đau.
V́ không thể nghỉ làm một thời gian lâu để đi thật xa, chúng tôi t́m một địa điểm cắm trại trong tiểu bang California. Chúng tôi lên mạng Internet, t́m những trại nằm dọc theo miền biển từ San Francisco xuống San Diego. Mùa hè này nhiều trại không c̣n chỗ cho mấy ngày cuối tuần. Nhiều kẻ “du mục” khác đă giành chỗ trước. Ngay cả t́m được một chỗ cắm trại trong hai ngày liên tiếp trong tuần cũng hiếm. Rà chuột điện toán xuống phía nam, chúng tôi t́m được một chỗ trống tại trại San Elijo. Tuy đă đi nhiều nơi ở California, chúng tôi chưa bao giờ nghe tên San Elijo mặc dù địa danh này nằm sát Quận Cam. Khám phá một chỗ lạ là niềm vui của người mắc bệnh ngao du. Không chỉ xem bản đồ bằng kiếng lăo, chúng tôi c̣n soi kiếng lúp t́m vị trí của băi biển San Elijo.
Tuy trại chỉ có một lô trống trong ngày Chủ Nhật vài tuần sau, chúng tôi cũng ghi danh nhận chỗ và chờ ngày lái xe xuống phía nam. Ngày ấy là một ngày nắng đẹp. Bé Cù được theo cha mẹ, chó Kiwi phải ở nhà v́ chưa thể ngồi xe mà không bị ói. Xa lộ 405 nhập vào 5 vẫn đông đúc, chịu đựng những ḍng xe chạy chậm san sát bên nhau. Tôi lái thoải mái, không lèo lách qua mặt những xe khác, không cần “tranh thủ thời gian” như trong mấy lần t́m nhà cho khách.
Ra khỏi Quận Cam, xa lộ 5 thưa xe, đỡ bon chen. Tôi vui như mọi lần khi thấy hai ḷ điện nguyên tử nhô lên tại San Onofre. Băi San Elijo nằm về phía bắc Hạt San Diego. Qua những đồi vắng chung quanh trại lính Camp Pendleton, đường bắt đầu đông xe ở những phố biển Oceanside, Carlsbad, và Encinitas. Đến Cardiff By The Sea, chúng tôi đi ngược về hướng nam trên đường Pacific Coast Highway được một đoạn, trước khi quay lại đúng hướng bắc và t́m ra San Elijo.
Băi San Elijo là một dải cát dài chừng hai dặm, nằm ẩn dưới một dốc đá thẳng đứng cao mấy chục thước. Chạy xe trên đường không thể nào thấy băi cát. Mấy trăm năm trước, hay chính xác hơn là vào năm 1669, một ông đốc Tây Ban Nha tên là Gaspar de Portola đă cầm đầu một phái đoàn từ Baja California, Mễ Tây Cơ, đi chiếm đất từ San Diego lên Monterey. Khi ghé qua San Elijo, ông đặt tên và tuyên bố miền đất nơi đây thuộc về xứ sở của ông. Theo truyền thống của chế độ thuộc địa và bản chất chiếm hữu của người tiền sử, ông Portola đi đến đâu liền đặt tên Tây Ban Nha đến đó.
Vài trăm năm sau, vào đầu thế kỷ thứ 20, một ông chủ đất tên là J. Frank Cullen cũng mang truyền thống và bản chất này. Ông đă xây những khu nhà nằm trên sườn đồi về phía đông San Elijo. Ông ta có quê quán ở Cardiff, xứ Wales bên Anh, nên ông đặt tên thị trấn mới xây của ông là Cardiff By The Sea, tức là Cardiff Bên Bờ Biển. Những con đường trong phố mới của ông Cullen đă mang tên của những địa danh tại Anh Quốc, như Manchester, Birmingham, Chesterfield, Liverpool, Oxford, Cambridge, Norfolk, vân vân.
Tôi đến miền đất này “hơi” trễ, bằng không tôi cũng chiếm đất và đặt tên Việt Nam cho nơi đây. Theo thói quen chiều chuộng bà xă, phố mới của tôi chắc chắn sẽ mang tên quê vợ. Thay v́ Cardiff By The Sea, nơi đây sẽ là Biên Ḥa By The Sea, tức là Biên Ḥa Bên Bờ Biển. Những con đường sẽ mang tên của quê tôi năm xưa, như đường Cầu Đá, Ḥn Chồng, Duy Tân, Tháp Bà, và Phường Củi – nơi tôi chào đời và nơi chôn mộ cha tôi. Lẽ đương nhiên băi biển San Elijo sẽ được tôi đặt tên là băi Nha Trang, ngon lành và dễ ợt.
V́ ghi danh trễ, chúng tôi được chỉ định một lô đất nằm gần đường xe chạy (trong bản đồ của trại ghi là inland – nội địa, tưởng ǵ, té ra là nằm sát đường lộ), hơi ồn tiếng xe. Những lô đối diện nằm sát vực đồi (coastline – ven biển), cũng bị ồn nhưng được nh́n xuống băi biển. Một hàng cây cao và những bụi cây rậm đă ngăn chia trại lều với đường lớn. Sau mấy phút dựng lều lúc xế trưa, chúng tôi mau t́m bậc tam cấp đi xuống biển.
Nhờ có vực cao mấy chục thước che lưng, băi San Elijo được bao bọc gần như hoàn toàn, không bị lọt một tiếng động nào từ thế giới bên ngoài. Băi chỉ có tiếng sóng, tiếng gió, tiếng chim, và tiếng chơi đùa của trẻ em. Sóng biển bữa hôm ấy đă mang màu nâu đỏ khác thường, nhào lộn dưới chân của những người trượt sóng nhà nghề. Chúng tôi căng vải che nắng, bước chân trên sóng nước, đủng đỉnh đi lượm vỏ ṣ. Có lúc tôi nằm dài trên tấm trải, tận hưởng bầu trời xanh với những món lai nhai và một chai Moscato. Có lẽ nhờ chất rượu nho trắng ngọt dịu, tôi quên những cơn bệnh từ đời sống thường ngày.
Sau khi ngắm mặt trời lặn trên biển, chúng tôi trở về lều, mở lửa hâm vài món ăn mang theo từ phố Bolsa – gà chiên Kentucky, hủ tiếu xào Thái Lan, ḿ tô Đại Hàn. Xe cũng chở theo khô mực, trái cây, bánh ḿ, nước ngọt, cà phê, và trà xanh. Buổi chiều hôm ấy cũng nhàn tản, xa rời đô thị như những buổi chiều mà chúng tôi từng cắm trại ở mấy nơi khác. Núi lạnh Colorado, rừng thẳm Idaho, hồ xanh Oregon, vực đỏ Utah, hơi khói lưu huỳnh Wyoming, rừng già Sequoia, thác nước trong miền núi bắc California. Xa lạ mà thú vị như những món ăn. Riêng đêm hôm ấy biển San Elijo đă mang đến một gia vị bất ngờ, cho chúng tôi nếm một lần và không bao giờ quên.
Gần 11 giờ khuya, chúng tôi cầm đèn pin, lần ṃ trong bóng đêm xuống băi cát, không hề biết biển đang chờ đón chúng tôi với một hiện tượng của đại dương. Bước được nửa chiều dài của bậc thang khá cao dẫn xuống băi, tôi bỗng nghe Bé Cù la lên, “Biển sáng ngộ quá mẹ ơi!”
Chúng tôi ngưng ḍ dẫm những nấc thang, đưa mắt nh́n ra khơi. Lạ thật! Sóng biển vẫn ́ ầm vỗ vào bờ, sủi bọt trắng lan rộng trên mặt cát. Thế nhưng trên mỗi đợt sóng dâng lên cao, một màu xanh dạ quang sáng ngời tỏa dài theo sóng. Có lúc sóng rực sáng, lấp lánh một màu xanh huyền diệu. Tôi ngẩng đầu t́m vầng trăng, cho rằng nước biển đă phản chiếu ánh sáng từ đâu đó. Bầu trời không có trăng, cũng không có ánh sáng từ đèn của thành phố. Vậy ánh sáng dạ quang kia xuất phát từ đâu?
Chúng tôi hấp tấp chạy xuống băi, hướng mắt ra khơi, theo dơi những đợt sóng lân tinh miên man trôi vào bờ. Sau này tôi mới biết ánh sáng xuất phát từ hiện tượng “thủy triều đỏ” (red tide). V́ những yếu tố thuận lợi, năm nay “thủy triều đỏ” lan tràn từ San Diego lên tận các băi biển ở phía bắc Los Angeles. Nhờ có chất dinh dưỡng thặng dư ở trong nước, những tế bào rêu plankton hấp thụ ánh sáng mặt trời và sinh sản mau chóng hơn so với những năm trước. Một lít nước biển có thể chứa một triệu tế bào rêu đỏ. Vào ban đêm hàng tỉ tỉ tế bào cùng tỏa ánh sáng. Hiện tượng này xuất hiện trên khắp thế giới. Có điều trong suốt thời gian lớn lên tại Nha Trang, tôi chưa bao giờ nghe người chài lưới nói về thủy triều màu đỏ. Đây lần đầu tiên trong đời tôi thấy sóng biển sáng rực trong đêm đen.
Tại những nơi sóng lân tinh xuất hiện, ngư phủ bị giảm tôm cá, người tắm than phiền về mùi tanh hôi của nước. Riêng đối với chúng tôi, đêm hôm ấy huyền ảo vô cùng. Chúng tôi có thể di mấy ngón chân trên cát ướt và thấy ánh sáng lóe chớp trên băi cát. Mỗi bước chân dẫm xuống liền bắn lên những vệt sáng tung tóe như vệt nước. Trên băi vắng gần nửa đêm, ba người chúng tôi vừa đi vừa quệt chân như muốn vẽ những bức tranh bằng ánh sáng.
Mặc dù nhỏ li ti không thể thấy bằng mắt thường, tế bào rêu là nền tảng của sự sống trong đại dương, và của nhân loại trên trái đất. Quan trọng và cần thiết như vậy, nó chỉ lóe sáng trong một đêm trước khi trở về chu kỳ của sinh tử dưới đại dương. Một người viết như tôi, liệu có quan trọng, cần thiết bằng một tế bào dưới đáy biển? Có phải cuối cùng tôi cũng chỉ là một vệt sáng trong muôn vạn tỉ tia sáng của sóng dạ quang, lóe lên trong chốc lát theo nhịp điệu vô tận của vũ trụ? Tuy không t́m được câu trả lời, tôi cũng quẹt chân, vẽ ánh sáng trên cát gần một tiếng đồng hồ, từ đầu này qua đầu kia của băi biển, tạo một bức tranh ngẫu hứng, biết rằng chuyện buồn vui nào cũng sẽ tan biến theo thời gian.
Sáng hôm sau chúng tôi xuống băi một lần nữa, để chụp vài tấm h́nh lưu niệm và ngắm biển trong nắng ban mai. Lẽ đương nhiên sóng dạ quang đă biến mất dưới ánh sáng mặt trời, được thay thế bởi những đợt sóng màu nâu đỏ. Mấy bức tranh vẽ trên cát và những vết chân của chúng tôi đă tan theo sóng từ lâu. Trong những bức ảnh chụp vào buổi sáng hôm ấy, tôi chọn một tấm để treo trên tường cạnh bàn làm việc. Bức h́nh cũng thường thôi, như mọi tấm ảnh của khách du lịch muốn lưu lại một chút kỷ niệm êm đẹp: hai mẹ con tươi cười đứng trên cát cho bố bấm máy, vài cụm mây trắng nơn in trên nền trời xanh biếc, dăm cây cọ trời phất phơ ở xa, thảm cây xanh thấp phủ kín dốc đá gần đó, và sóng biển.
Có lẽ lần đi chơi này ngắn quá, tôi chưa hết bệnh chán sở làm. Tuy vậy, mỗi lần nh́n tấm h́nh chụp tại San Elijo bữa đó, tôi cảm thấy cơn bệnh có thuyên giảm như được uống thuốc an thần. Bệnh nào cũng là bệnh, mà có thuốc chữa th́ trước sau ǵ bệnh cũng lành. Chắc vậy, cầu mong được như vậy.
Hoàng Mai Đạt
Westminster, August 2005.
http://www.gio-o.com/HoangMaiDat.html
© gio-o.com 2009