
photo:http://a367.yahoofs.com/blog/NgocLan
Hoàng Mai Đạt
Trái Tim Bukowski
tạp ghi
Mấy bữa nay niềm tự hào về khả năng làm-ǵ-cũng-được của tôi bỗng bị rơi rớt thê thảm, văng tứ tung như phân chim thả trên kiếng xe đậu dưới gốc cây. Tôi có thể đá banh, trồng cây, viết sách, uống vài lon bia (không biết uống bia có nên gọi là khả năng hay là tật xấu, chắc tùy lúc?), bán nhà, lái xe U-haul cỡ lớn như xe vận tải, ôm tay lái như một chú ếch ôm b́nh bông, ngồi trong lớp học giả bộ lắng nghe giảng bài mà hồn vía bay tận trời mây bên ngoài cửa sổ hoặc để đôi mắt ngừng bên chiếc váy cách xa mấy ghế ở trước mặt, nh́n hoài chịu không thấu, hiểu ra ḿnh không có căn tu.
Thế nhưng đứng trước mấy nồi niêu trong bếp, tôi mới thấy ḿnh bất lực, không c̣n là đấng toàn năng như trong mơ tưởng. Bỏ ǵ vào trong nồi để có một bữa ăn bây giờ? Tôi không thể nấu ăn. Vợ tôi mới đi xa mấy ngày, để lại một nồi thịt kho trứng, một tô canh hẹ với đậu hủ. Cha con nhậu hai món này được một ngày, cộng thêm một bữa ăn trưa cho tôi tại sở làm, và con chó Kiwi “ăn theo” món canh. Thế là hết! Mấy bữa sau cha con phải tự nấu ăn lấy. Cha ăn ḿ tô Đại Hàn, con nhai burrito Mễ, chó ăn đồ khô Mỹ, cả nhà sống sót được mấy ngày, chưa phải bắt cá ăn sống như trên hoang đảo.
Cũng may chúng tôi ở gần phố Bolsa, hay nói theo kiểu quảng cáo thời thượng, chúng tôi “ở ngay trong trái tim của Little Saigon.” Nhà của chúng tôi nằm giữa “tim” chữ nhật của bốn đại lộ Bolsa, Brookhurst, Westminster, và Magnolia. Bốn con đường có trên một trăm tiệm ăn – cơm, bún, ḿ, phở, bánh ḿ, cháo, chè, cơm chỉ to-go, đầy đủ mọi thứ, muốn ăn giờ nào cũng có, ngồi tiệm ăn cũng được, mang về nhà hâm lại cũng không sao.
Chiều nay cô con gái mười-bốn tuổi biểu diễn nấu ăn, muốn chứng tỏ nó có thể thay thế mẹ để chăm sóc cha, thành thử chúng tôi chưa bắt buộc phải cuốc bộ xuống phố Bolsa. Trong lúc đợi con làm món tôm chiên bột, tôi mở máy laptop để viết tạp ghi, không hẳn v́ yêu văn chương trong lúc bụng đói, mà v́ bị con yêu cầu nên làm chuyện khác, đừng nh́n chằm chằm, lộ vẻ ái ngại trong lúc nó nấu ăn, khiến nó chiên tôm không được. Nếu muốn phụ th́ lát bố nhớ rửa chén, con bé khuyên vậy. Hết mẹ rồi đến con, ai cũng là xếp của tôi.
Tôi ở Bolsa khá lâu, đâu đó cũng gần hai mươi năm. Lắm lúc bực ḿnh v́ đời sống ở khu phố này, muốn chạy đi đâu đó thật xa, như kiếm vợ bé. Đi một đỗi phát mệt, qua mấy lần xin việc, thuê nhà, xong lại ḅ về xin bà cả tha thứ với lời đút lót “nhớ Bolsa quá hà.” Tuy không là một phân tích gia, một nhà xă hội học, tôi nghiệm thấy khu phố của người Việt Nam, thủ phủ của dân tị nạn cộng sản, có hai đặc điểm nổi bật: đầy đủ thức ăn và nhiều sinh hoạt chính trị. Cuối tuần mà không xuống Bolsa để ăn một tô phở, một dĩa cơm tấm th́ buồn chết, không dự biểu t́nh chống cộng, cắm bảng vận động tranh cử th́ chán vô cùng. Không biết đó có phải là những ǵ thu hút tôi về lại Bolsa sau mấy lần rảo bước bỏ đi?
Đối với những người tị nạn từ năm 1975 như tôi, tổ quốc từng là nơi chúng tôi phải chen chân chạy thoát ra khỏi, để rồi nuôi dưỡng ước mơ một ngày về lại quê hương bằng cách đánh đuổi quân cộng nô, giải phóng dân tộc khỏi ách độc tài đảng trị. Mấy mươi năm sau tổ quốc không c̣n là nơi đó. Quê hương nay thuộc về một lớp người khác, một thế hệ mới mà ánh mắt nh́n của họ không chắc thân thiện, miệng nói bà con ruột thịt với kiều bào nhưng ḷng xa cách như người dưng. Chúng tôi bước đi trên đất nước như một mớ du khách c̣n hoài nghi, không cảm được nơi ấy là tổ quốc của ḿnh. C̣n ở đây đương nhiên không là tổ quốc của mớ di dân, của đám tị nạn từng mong một ngày trở về quê cha đất tổ. Chỉ là đất tạm. Ở tạm được vài năm đời sống bắt đầu bám rễ, gh́ chặt hơn theo ngày tháng, đành ngậm ngùi chấp nhận chết mục tha hương.
Phải chăng ẩm thực và chính trị được xem như một thứ căn cước, một tổ quốc trừu tượng, mơ hồ dựng lên ở phố Bolsa cho chúng tôi bám víu. “Đất nước” ở đây không có những ḍng sông chảy lấp lánh dưới ánh trăng, vỗ về bên cạnh những cánh đồng lúa lác đác bóng c̣ đi ăn đêm, chỉ có những ḍng xe phóng tấp nập trên xa lộ, hấp tấp rẽ xuống huyết mạch Brookhurst tiến vào trái tim của Little Saigon, mau mau giành một chỗ đậu xe ở trước chợ; không có những mái tranh thấp thoáng trên sườn đồi, tỏa khói trắng đun cơm trong một buổi hoàng hôn trên miền cao nguyên, chỉ có những đồi cỏ khô bị lấn dần bởi những ngôi nhà mới đắt tiền, chờ bị hỏa thần vung tay ném lửa trong mùa cháy đồng; cũng không có những rặng phi lao ŕ rào từ kiếp nào bên bờ cát trắng, chỉ có mấy hàng cây cọ trời c̣n buộc dây túm trên ngọn, mới đặt xuống hố bên ngoài một thương xá đang xây dở dang. Trước bối cảnh thất quốc như vậy, những món ăn thuần túy Việt Nam, những buổi tập họp hô hào tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền trở thành nhịp thở, thổi làn hơi sống vào mạch tim Little Saigon, hô hấp khu phố Bolsa cho có thêm phần sinh khí, náo động.
Dần dà những món ăn cũng thay đổi, hội nhập theo ḍng chính, không c̣n nguyên thủy. Tiệm được trang trí lịch sự hơn, người tiếp khách cũng nhă nhặn, bớt thảy thức ăn lên bàn rồi bỏ đi mất, chỉ trở lại với giấy tính tiền. Thực khách cũng bớt hạch sách, kêu đ̣i như ông vua con. Chúng tôi thường không ăn tiệm, chỉ thỉnh thoảng vào nhà hàng mỗi khi có bạn ở xa đến thăm, thành thử không biết hết những món ngon trong cả trăm tiệm ăn ở Bolsa. Hiện nay món “crawfish” đang trở thành món thời thượng ở Bolsa, xuất phát từ Louisiana, Texas. Vài tiệm chuyên bán “crawfish” đă mọc lên trên đường Brookhurst, Westminster. “Cá ḅ” có h́nh dạng như tôm càng nhỏ bằng ngón tay, sống trong nước ngọt, thường ḅ dưới đáy hồ mà tôi từng thấy người ta câu ở Marysville, Bắc California. Theo một cuốn tự điển tôi được biết chữ “fish” đây không có nghĩa là “cá,” mà bắt nguồn từ một cổ ngữ Pháp, có nghĩa là hang hốc, khe đá, nơi tôm sinh sống. Có người gọi nó là tôm tích. Ở Bắc California người ta gọi “cá ḅ” là “crawdads”, tức là “bố ḅ,” “ba ḅ.” Ba ḅ riết bị má câu ăn thịt. (Không biết sao tôi viết thêm câu này? Chừng nào in bài vào sách chắc tôi sẽ xóa bỏ câu ấy.)
Dạo này sinh hoạt chính trị ở Little Saigon cũng hội nhập theo lối Mỹ, tốt cũng như xấu. Ngoài những cuộc biểu t́nh hầu như mỗi tuần ở “trái tim” Bolsa, mới đây hàng ngàn người tham dự một chương tŕnh văn nghệ quyên góp trợ giúp thương phế binh Việt Nam Cộng Ḥa. Cuộc chiến kết thúc hơn ba mươi năm trước, những người lính miền Nam bị cụt tay, đứt chân, sống vất vưởng bên lề xă hội dưới chế độ cộng sản. Đáng lư buổi quyên góp cần được tổ chức sớm hơn từ nhiều năm trước, nay được thực hiện một phần cũng nhờ yếu tố thương mại. Dẫu sao chăng nữa có cũng c̣n hơn không, đến trễ cũng hơn không bao giờ đến. Trong một ghi nhận cuối cùng liên quan đến t́nh h́nh chính trị hiện thời, báo chí địa phương nhắc đến một người từng được cộng đồng bầu lên chức dân biểu tiểu bang, trở thành người Mỹ gốc Việt đầu tiên giữ chức này. Giờ đây vài người trong cộng đồng đang “đánh” ông dân biểu v́ vợ ông dính líu đến tội phạm trong quá khứ. Bôi nhọ cá nhân là chuyện đương nhiên trong chính trị. Thiếu món ăn này sinh hoạt chính trị chắc chắn kém vui, mất hào hứng trong mùa bầu cử sắp tới.
Chuyện chính trị rất nhức đầu, phức tạp nhất là đối với người ngay thẳng, muốn có một cuộc sống b́nh yên. Nhắc đến chính trị tôi liền nghĩ đến uống bia cho bớt căng thẳng. Nói đến bia, h́nh như bia rượu thường đi đôi với nghệ thuật, ḥa lẫn với nhau, ít nhất là trong trường hợp của ông Charles Bukowski, một văn thi sĩ từng sống ở Los Angeles, viết nhiều về thành phố này. Qua tiểu sử được tóm lược trên trang Wikipedia, người ta được biết cuộc đời của ông rất “nghệ sĩ” theo nghĩa không tốt. Ông sống với thái độ bất cần, bạt mạng, lang chạ, nghiện rượu rất nặng. Ông từng bỏ hẳn việc làm tại sở bưu điện chỉ v́ một nhà xuất bản hứa trả lương cho ông suốt đời, mỗi tháng $100 Mỹ kim, để cho ông có thể viết toàn thời gian, không bận tâm với công việc soạn thư. Tuy đó là một số tiền tượng trưng rất nhỏ, không chắc đủ cho ông uống bia trong một tháng, Bukowski cũng viện lư do này để nghỉ việc. Trong một lá thư được viết vào năm đó, 1969, ông kể rằng ông chỉ có hai lựa chọn, một là ở lại sở bưu điện và bị điên đầu, hai là ra ngoài kia đùa chơi như một nhà văn và bị chết đói.
Nhờ ông chọn “chết đói,” chúng ta có trên năm mươi cuốn sách cộng với nhiều bài thơ của ông. T́nh cờ mới đây tôi đọc một bài thơ của Bukowski trên tuần báo West do nhật báo Los Angeles Times ấn hành. Dịch thơ không phải là sở trường của tôi. Thế nhưng tôi cũng muốn thử dịch bài “có phải ông uống rượu?” (are you drinking?), một phần để chia sẻ với bạn, một phần để cho bài tạp ghi được dài thêm một chút mặc dù không ai trả tiền để viết bài.
“có phải ông uống rượu?”
trôi dạt, lên bờ
lại lôi ra
cuốn sổ vàng cũ
tôi viết từ trên giường
như tôi từng làm
hồi năm ngoái.
sẽ gặp bác sĩ,
ngày thứ Hai.
“đúng vậy, thưa bác sĩ, chân yếu, xây xầm,
nhức đầu và lưng bị
đau.”
“có phải ông uống
rượu?” bác sĩ sẽ hỏi.
“ông có tập thể dục,
uống thuốc
vitamin?”
tôi nghĩ tôi chỉ bị
bệnh
v́ cuộc sống, cũng những yếu tố
nhạt nhẽo mà luôn
dao động
ngay cả tại
trường đua
tôi xem những con ngựa chạy qua
sao thấy
vô nghĩa
tôi rời sớm sau khi mua
vé xem
những cuộc đua c̣n lại
người bán vé
hỏi chung chung, “đi rồi sao?”
“đúng thế, chán quá,”
tôi nói vậy.
người bán vé nói,
“nếu ông nghĩ ở ngoài đó
chán, hăy thử vào
trong đây.”
thế nên bây giờ tôi
nằm dựa trên gối
một lần nữa
chỉ là một ông lăo
chỉ là một nhà văn già
với cuốn
sổ vàng
có ǵ đó
đang bước trên
sàn nhà
hướng về tôi
à, chỉ là
con mèo của tôi
lần
này.
Văn thi sĩ Bukowski qua đời năm 1994, hưởng thọ 73 tuổi. Ông được an táng theo nghi thức Phật giáo. Mộ bia của ông có ghi hai chữ “Đừng Thử.” Theo lời của bà bạn đời Linda Lee Bukowski, “Đừng Thử” là lời khuyên người ta hăy sống, đừng thử, đừng dành hết thời giờ để thử, mà hăy làm.
Tôi bắt đầu viết bài tạp ghi này trong lúc con gái đang chiên tôm. Bữa ăn đă xong từ lâu. Món tôm khá ngon, được ăn hết sạch mặc dù bột tẩm không đều, chỗ có chỗ không. Lần đầu mà nấu được như vậy là khá rồi, tôi bênh con mặc dù không có ai chê nó. Thấy bố bận viết bài, bóp trán, vuốt tóc thẳng đứng như ông điên trong cơn suy tư ngồi trong pḥng ăn, con bé nhận rửa chén, thỉnh thoảng hỏi bố viết sắp xong chưa, có vẻ thương hại như mẹ nó thường làm.
Chuyện viết lách chắc không bao giờ xong. Một bài viết được mở ra, tác giả trăn trở t́m lối đi, vật vă ṃ đường đến nơi kết cục. Một bài viết được khép lại, tác giả ưu tư, loay hoay lần hướng khởi hành cho một chuyến đi mới. Chuyện viết lách không bao giờ xong, chạy ṿng quanh như một đàn ngựa trong một cuộc đua vô nghĩa. Làm sao giải thoát? Niềm tự hào của tôi lại rơi rớt, văng tung tóe trên trang giấy với những ḍng tư tưởng vụn rời.
Hoàng Mai Đạt
Westminster ngày 28, tháng Sáu, 2006
http://www.gio-o.com/HoangMaiDat.html
© gio-o.com 2009