Hồ Trường An
Vũ Tiến Lập
Với Ư T́nh Ẩn Mật
Trong Ngôn Ngữ Thơ
Qua Quyển Tạp Ghi Thơ
Vũ Tiến Lập là một nhà thơ trung niên về tuổi tác, nhưng rất trẻ trung trong ngôn ngữ và cấu trúc thi ca. Riêng tôi đă được đọc thơ của họ Vũ trên hai tạp chí Hợp Lưu và Gió Văn,cũng như trên website Gió O của chủ biên nhà văn Lê Thị Huệ. Tóm lại, những tạp chí do anh cộng tác đều là tạp chí văn học đứng đắn, rất kén chọn kẻ cộng tác. Như thế, cái chân tài của anh được chiếu cố bởi các ông chủ báo am tường văn chương một cách tinh tế. Điều đó chứng tỏ rằng thơ của anh nếu không có tầm vóc lớn lao th́ cũng có kẻ sành điệu thuởng ngoạn một cách nhiệt t́nh.Vả lại, bạn văn chương của anh ở tiểu bang Texas (nơi anh cư ngụ) đều là nhà văn nhà thơ sáng giá như Hàn Song Tường, Đặng Phùng Quân, Trương Đ́nh Luận, Ngu Yên, Cao Đồng Khánh, Phương Triều... có thể giúp anh nhiều cảm hứng lẫn kinh nghiệm trong các cuộc mạn đàm, trong những lần tâm sự.
Vũ Tiến Lập đến với chúng ta qua thi ca làm theo thể thức tự do rất đạt. Trước hết là thơ t́nh yêu. Tâm t́nh trong thơ anh cũng chẳng mới lạ ǵ. Bởi sao? Dù có thiên h́nh vạn trạng, t́nh yêu vẫn có cái mẫu số duy nhất và củ kỹ nhất: sự rung động của con tim. Sự rung động ấy rất chân thành, người trong cuộc biết rất rơ ràng, biết tức khắc, như lời bà mẹ bảo cô con gái trong phim Pinico do Joshua Logan thực hiện, đại khái như sau: T́nh yêu thật sự sẽ làm con hiểu tức khắc như búa tạ đập vào đầu, con ạ . Vâng, đúng thế. Các kẻ yêu nhau có thể lừa dối tha nhân, nhưng không thể tự lừa dối chính ḿnh v́ chỉ có ḿnh mới hiểu rơ biến động của trái tim ḿnh. Cho nên các nhà thơ dù theo trường phái này hay trường phái khác vẫn nh́n sâu và nhịp đập của quả tim ḿnh để h́nh thành các bài thơ t́nh yêu. Nhưng muốn cho thơ t́nh yêu của ḿnh có vóc dáng mới lạ nên họ may cho thơ một loại áo riêng thêu thùa bằng ngôn ngữ dị biệt, bằng những ư t́nh ẩn mật lảng vảng tư tưởng triết học hay bóng dáng tâm linh.
Thơ t́nh yêu của Vũ Tiến Lập rất hiếm hoi hạnh phúc, trừ bài Nụ Xuân, trang 16. Trong thần thoại Hy-lạp , chỉ có cuộc t́nh giữa Thần Ái T́nh Euros và nàng tố nữ Psysée là một ngoại lệ. Cả hai được sống hạnh phúc bên nhau, sau bao tai biến dập dồn.
Từ phương xa em về đây
đất trời thong dong mùa xuân nở
tôi đi bộ con đường vào Marfreless
nhạc thở như lời thơ thiết tha
quán nhỏ thật thà vắng tục khách
hăy uống dùm ta những ly rượu nhỏ
uống một lần cho đỏ trời tây
để tiếng em cười trời độ lượng
một góc riêng này em với tôi
(trang 16)
Người làm thơ cũng như anh hùng và mỹ nhân, hay như nghệ sĩ và tài tử thường tuân theo sức lôi cuốn của định mệnh oan nghiệt. Trường hợp ấy giống như trường hợp đa số thần tiên trong Mythologie et légendes grecques et latines (Những câu chuyện thần thoại và truyền kỳ của Hy-lạp và La-mă). Chẳng hạn như Thần Vệ Nữ ( Vénus Aphrodite) sắc nước hương trời nhưng không bao giờ hưởng hạnh phúc lâu dài với các t́nh lang của nàng. Thần Thái Dương Apollon vừa đẹp huy hoàng vừa tài hoa trong đa số các lănh vực nghệ thuật đă bao phen đổ lệ v́ cảnh biệt sinh ly với những kẻ mà chàng yêu dấu. Các chàng mỹ mạo nam tử như Adonis, Hyacinthe, Pâris đều yểu mệnh bỏ lại người yêu trên cơi dương trần. Những giai nhân kiều nữ đă từng dan díu với Thiên Vuơng Jupiter đa số đều mang số phận hẩm hiu. Quyển Mythologie et légendes grecques et latines từ ngh́n xưa được xem là cái nôi nghệ thuật vĩ đại và phong phú cho các nghệ sĩ Âu Châu thuộc đủ mọi bộ môn . Quyển sách này thuộc loai gối đầu nằm của họ. Mọi lời nói, mỗi hành trạng của các vị thần tiên trên đỉnh núi Olympia là câu kinh nhật tụng của họ để họ suy ngẫm triết lư ẩn mật trong đó. Mọi cuộc t́nh bi thảm trong đó đều là những đề tài khơi nguồn rung cảm bất tuyệt và mănh liệt cho biết bao người vừa làm quen với một lănh vực nghệ thuật nào đó. Có lẽ v́ thế mà t́nh yêu khi đi vào thi ca là phải buồn bă đau thương chăng? Đó có phải do ảnh hưởng thiên t́nh sử đẫm lệ giữa chàng nghệ sĩ Orphée và nàng Eurydice chăng? Thiên t́nh sử ấy đă đem lại cho các họa gia, các thi nhân, các nhà viết kịch bản phim ảnh, các kịch tác gia những đề tài vừa lồng bóng tư tưởng triết học vừa thấm nhuần cảm hứng trữ t́nh.
Vũ Tiến Lâp qua bài Nụ Xuân chỉ bộc lộ tâm t́nh rất dè sẻn, rất thận trọng. Bài hoan ca t́nh yêu này tha thiết th́ có mà sôi nổi th́ không. Nó bị các bài thơ t́nh yêu đuợm đà không khí thê lương nhận ch́m và khỏa lấp bởi số lượng phong phú.
Mùa mưa mắt ta lau kín nửa đời
đôi cánh chim bay vào trời năm cũ
đêm ba muơi đêm nào đổi ánh vàng
phố nào xanh ngậm chết nỗi dại khờ
em ơi em có biết
xuân ngoài kia cửa ngơ ở trong ḷng
xuân ngoài kia với rượu đắng môi cười
với trăng không về ôm ngơ tối
với t́nh quên bay lạc hướng xuân
(Lạc hướng xuân, trang 14)
Xuân trong thơ không có hoa tươi thịnh phóng trong ngự viên, không có bướm lạ chập chờn trong ánh thiều quang và không có chim đẹp từ phương trời nắng ấm kéo về. Tóm lại nó không có chất liệu cổ điển và ước lệ như mùa xuân trong thơ của các tài tử cổ nhân. Mùa xuân của Vũ Tiến Lập có mưa, có ngơ tối không trăng, có đèn vàng, có con phố xanh xao ghi dấu ấn một dĩ văng buồn thời thơ dại. Nỗi buồn trong thơ lại dịu dàng kín đáo. Mùa xuân ở ngoài kia có vầy có khác, có rượu đắng mà cũng có môi cười. Nhưng nụ cười chắc phải là gượng gạo chua chát. Thà như vậy th́ tâm t́nh mới bộc lộ chừng mực, c̣n hơn là than thỉ ỉ ôi hay rống la rên siết để tránh cho thơ một bản sắc cường điệu đến độ trâng tráo.
Tôi đi chân điên lên phố phù hoa
gánh vác buồn
đổ lên cuộc t́nh đă lỡ
chỉ c̣n mắt môi em nguyên vẹn
đêm nở rộ đóa sầu
đốt thuốc thay nến hồng
sinh nhật em hăm chín
suối nhạc từ trời cao
vọng xuống
đời thênh thang
gió hát
cầu vồng trổi trong đêm
thức giấc
c̣n chiêm bao giữa mặt lộ
(Ngồi nghe gió hát, trang 15)
Chúng ta sau khi đọc bài thơ xong, cảm thấy bên trong nỗi buồn về lễ sinh nhật dành cho người yêu không thực hiện đúng nghĩa (đốt thuốc thay nến hồng), tác giả c̣n muốn nói lên cái ǵ kỳ bí hơn nỗi u hoài mà anh phải gánh vác qua 5 câu thơ chót (đời thênh thang / gió hát / cầu vồng trổi trong đêm / thức giấc / c̣n chiêm bao giũa mặt lộ). Cái ǵ vậy? Một biến cố hệ trọng trong địa hạt t́nh cảm? Một cơn ác mộng trong cuộc sống lứa đôi? Một kỷ niệm khó phôi pha? Một vết thương rạch sâu trái tim mà trong tháng rộng năm dài vẫn c̣n há miệng? Tâm hồn thơ của Vũ Tiến Lập như lá cây trinh nữ vừa hé mở tâm sự ra ngoài th́ khép lại như chạm phải một cơn gió mơ hồ trong tưởng tượng nào đó. Nhưng tác giả vẫn để cho chúng ta tùy theo cảm hứng, sẽ dệt cho thiên t́nh sử giữa người đàn bà hăm chín tuổi và tác giả nhiều chuyện đậm đà tâm sự và phong phú hệ lụy. Do đó, chúng ta có thể tạo thêm cái đẹp đắng đót thê lương cho tâm hồn lăng mạn trử t́nh của ḿnh.
Lại có bài thơ t́nh yêu không vui không buồn, không đậm không nhạt, t́nh cảm tuy mù mờ nhưng hơi thơ không gượng gạo, nhịp thơ không uể oải chán chường. Chúng ta có thể nghĩ rằng người yêu của tác giả xuất hiện từ trong bóng tối (sic) th́ nỗi niềm (chắc phải là buồn) tan theo sương rơi (sic). Và tác giả mới có thể giă biệt dĩ văng khá xa xôi (năm cũ) hay tiễn đưa dĩ văng gần gũi (ngày hôm qua) vào chặng đời quá khứ.
Hết năm
sương tan trong cổ áo
đầu ngày em giữ lại bờ vai
lặng yên với cảm giác một ḿnh
ở giữa chốn hoang bầy
cất lên một nỗi nhớ
có em từ bóng tối
đêm tạc hoa lấp lánh
ngợp khói màu kinh đô
âm nhạc bủa vây
khép gió
mây ngủ
trên đầu sương rơi
sương rơi tan nỗi niềm
giă biệt năm cũ
giả biệt hôm qua
(Năm mới, trang 79)
T́nh yêu trong khổ đau thường nẩy sinh những nhân sinh quan sâu sắc, những ư nghĩ hướng thượng cho những nạn nhân của t́nh yêu, hay những kẻ tuyệt vọng v́ t́nh.
trăng mù thiên cổ
chốn tịch mịch
áo quan vàng run trí nhớ động kinh
hoàn măn như nước mắt trên má khô
mùa thu chưa về nghe sớm lạnh
mai em đi giấc mơ nhàu vĩnh biệt
tôi về an ủi lại niềm tin
Tháng bảy
gió
âm công
(Hoàn măn, trang 83)
Cái chết của người yêu làm cho nhà thơ (chưa chắc là tác giả) đưa bài thơ rớt vào địa hạt cao hơn địa hạt t́nh cảm. Dù đó không phải là bài thơ thấm nhuần tư tưởng triết học hay bài thơ rực rỡ ánh sáng tâm linh, nhưng dưới mặt chữ bài thơ h́nh như có một niềm ẩn mật làm người đọc phải bần thần xao xuyến. Ở đoạn chót, cơn gió tháng bảy như lảng vảng bóng âm hồn hoặc như trộn hơi thở của Thần Chết làm toàn thể bài thơ lạnh buốt, gieo cảm giác rờn rợn vào sống lưng người đọc.
*
* *
Theo truyền thống sáng tác thơ, Vũ Tiến Lập không dị ứng với thơ tức cảnh sinh t́nh. Nhưng ở loại thơ này, cái t́nh trong cảnh vật mô tả không phải đơn giản như những tư tưởng cổ nhân đâu. Anh đưa thơ vào cái phiền toái của ư t́nh, vào những nhân sinh quan lạ lẫm theo các trào lưu tư tuởng và nhân sinh quan dựa trên các trường phái thi ca mới và đúng hơn là dựa vào sự canh tân không ngừng nghỉ của thi ca.
Những bài thơ đối cảnh sinh t́nh rất đẹp về ngôn ngữ mới và h́nh ảnh chọn lọc. Chúng không theo dơi những bước chân hay không theo hưóng đi của cổ nhân.
Tôi là tiếng động vỡ đêm khuya
đánh thức giọt buồn
môi đắng Cappuccino
và bàn tay quên lăng...
Tôi đi bao xa
mây trôi
gió vẫy
đất trời như mở rộng chiều sâu
ở vịnh Mễ tây cơ
Galveston c̣n say ngủ
gió cũng mềm trong tay áo
thấy bao la bát ngát hương
sóng nhạc vỗ về
mờ xa
nhật nguyệt đi về
nhân sinh bắt đầu gây tiếng động
(Tiếng động, trang 70)
Chỉ có thể thức tự do như bài Tiếng động, tác giả mới có thể đưa vào thơ ngôn ngữ thuần chất sáng tạo và dáng dấp quyến rũ. Dù vậy, ư t́nh sâu sắc chỉ thấp thoáng vài tia sáng nhỏ mà thôi. Chúng làm những xúc cảm quen thuộc bỗng khoác lên những chiếc áo mới, những dáng dấp rực rỡ tinh thần canh cải kỹ thuật của thơ lẫn khơi dậy cho thơ một linh hồn riêng, một sắc thái riêng.
lóng tay buồn đến mục
giật ḿnh theo gió đưa
nơi nào đó
góc phố chiều mới qua
bất chợt ḷng mong manh
tê tái dậy hơi người
sự cứu rỗi đă một lần
từ đầu môi rất say
đêm ở ngoài đồng vọng
hay đêm ngoài hành lang
cũng đều nghe hiu quạnh
luyến tiếc ngày hôm qua
mà người đi rất lạ
(Chiều trên phố cũ, trang 12)
Về lại
chiều nay mưa c̣n giăng
lê thê réo rắt điệu nhạc blue
thở cháy
nỗi buồn đom đóm
t́nh ngâu
đựng không vừa tháng 7
gọi đôi bàn chân
thôi nhẫn nại
nghe gió
vùng vằng xô cửa nhớ
tấp mù giấc ngủ
hẹp bờ vai
(Hẹp bờ, trang 82)
Những tia sáng ư t́nh trong thơ đối cảnh sinh t́nh dù ít oi, nhưng cũng báo hiệu được cho những hệ thống nhân sinh quan sắp được tác giả đưa vào thơ khiến cho thơ anh lớn mạnh, có tầm vóc thích ứng với phong trào cận đại và hiện đại của thi ca, khởi từ sự h́nh thành của nhóm Sáng Tạo qua cách cấu trúc và qua cách xử dụng ngôn ngữ thơ của Thanh Tâm Tuyền, Tô Thuỳ Yên...
Đêm rộng cửa ở ngoài
gió lộng trong lồng ngực
dường như tôi mới vừa bắt kịp
nỗi niềm
đêm tháng hai lạnh ngắt
tần ngần bỏ đi xa
đêm rộng cửa ở ngoài
hải điêu rúc ran
xuân chỉ c̣n trong kư ức
kư ức dầy trong hoang mang
đêm với tay
xuân ngồi bó gối mỏi
tôi c̣n đôi chân điên
(Tạp ghi tháng hai, trang 10)
thức giấc
nghe chim hót chào buổi sớm mai
vuốt mắt trần gian ngộp ánh sáng rực ngời
b́nh minh không là cơn mê
những con thiên nga đă mang đi ngày thần thoại
nơi chốn nào tôi thấm mệt niềm tin
mùa xuân chín nũn từ đêm qua
mưa đă về sầm sập
cây sồi sừng sững cũng đổi mầu theo nắng
uống từng ngụm mật ngọt
tưởng như gịng nước
cuộn gieo vào ḷng biển cả
vẫn c̣n một ngày phế thải
hạnh phúc là những cảm nhận vô t́nh
đôi lúc cũng là điều c̣n sót lại sau nỗi khó
có khúc hoan ca
(Thơ gửi bạn, trang 51)
Cảnh vật trong thơ bắt đầu mở rộng cho ư t́nh phiền toái và lạ lẫm chen vào. Ư t́nh phiền toái ấy lồng bóng vào thơ, thấm nhuần khắp mạch thơ. Tác giả rơi vào cơn mê hồn trận của biết bao thắc mắc siêu h́nh, những ư niệm sâu sắc về cuộc đời. Những suy tư dằng dặc khổ đau bắt đầu nở hoa trí tuệ. Những phần thuộc về tư duy ấy đáng lẽ tṛng lên thơ những gông cùm, những gánh nặng, nhưng trái lại chúng làm thơ thêm sâu sắc. Bởi sao? Bởi những điều tư duy ấy được lồng vào những đường nét tạo h́nh nên tránh cho thơ những cái trừu tượng vô hồn vô cảm. Thơ mà gợi h́nh, gợi những cảm ứng trên các giác quan chúng ta mới dễ đi sâu vào tâm hồn, vào cảm quan và vào cơi thưởng ngoạn của chúng ta.
*
* *
Những nhà thơ khi luống tuổi thường quay lại dĩ văng để cảm hoài thân thế hoặc để sống lại trong cái bóng chập chờn của dĩ văng. Cổ nhân làm thơ cảm hoài về vận nước đảo điên, về lư tưởng vốn đă không giúp ḿnh thực hiện sự nghiệp lớn lao, về sự phế hưng của ngoại cảnh dội sâu vào nội giới của ḿnh. Những kẻ làm loại thơ cảm hoài thường là những danh tướng như Đặng Dung, hoặc những nhà chí sĩ ái quốc như Thủ Khoa Nguyễn Hữu Huân. Họ có thân thế hào hùng. Chí liệt oanh của họ được người đời ngưỡng mộ. Nói theo nữ sĩ Ngân Giang họ là những kẻ sống giữa thời gian vượt thế gian (sic). Nhưng chung cuộc, Đặng Dung không hoàn thành sứ mạng thiêng liêng của ḿnh để thanh toán nợ nước ơn nhà, đă phải ngâm bài thơ với hai câu chót bi thiết: Thù trả chưa xong đầu sớm bạc/ Gươm mài dưới nguyệt rạng bao ngày. C̣n Thủ Khoa Huân đă từng chống giặc Tây cuối cùng bị xử chém tại cù lao Rồng (Định Tường / Mỹ Tho) đă ngâm bài thơ với hai câu thơ chót Tho giang thanh thủy ba lưu huyết / Long đảo thu phong khởi mộ sầu (Sóng xanh sông Mỹ pha hồng máu / Chiều tối đảo Rồng dậy gió thu ). Thơ cảm hoài thường có giọng điệu tha thiết ngậm ngùi, gây xao xuyến trong tâm hồn đọc giả dằng dai. Đây cũng là trường hợp mà Vũ Tiến Lập đă chứng kiến những mộng ước của ḿnh ngoài tầm tay với, t́nh yêu không vĩnh cữu như niềm mong mỏi của ḿnh, tổ quốc đổi cờ, giang san thay chủ nghĩa, những mộ bia của kẻ ngă gục trong cuộc nội chiến. Anh c̣n lại tấm thẻ bài, âm vang giọng hát chiêu hồn và vùng kư ức bị soi ṃn thành những kẽ nứt. Và anh nhận rơ cái thân phận ḿnh là một trang sách đă lật qua, ḿnh sống như đă chết, đă thành câu chuyện cổ tích. Tiếng than của anh sao mà áo năo, chạy dài suốt hành lang nội giới của người đọc cùng một thế hệ với anh. Hóa ra sau 30 năm vong gia khứ quốc, thời tham gia cuộc chiến tranh ư thức hệ vừa qua vẫn c̣n là một ám ảnh rơ vằng vặc trong kư ức bạc nhược của anh. Nó như một vết xâm vĩnh viễn in trên cuộc đời của anh một dấu ấn khó phôi pha.
Vùng trí nhớ
có những kẽ soi ṃn
thời gian đục khoét mỗi lúc sâu
đôi khi hỏi lại có ǵ nhớ
thuở hoa niên
giấc mơ ngoài tay với
nhẹ cánh từng ngày nỗi chết đi qua
t́nh yêu không nương nhờ vĩnh cửu
ốm xanh xao nỗi nhớ
từ rừng núi âm u
lạnh trơ tấm thẻ bài
sự cứu rỗi mong manh
phập phồng nghe ngực khóc
rót trên bia mộ trăm năm
mơ hồ vẳng tiếng chiêu hồn
bàng hoàng
chiều xuống giữa cơn điên
gục đầu tim chợt nhói
đen ngọn t́nh sầu
giông tố đă ghi tâm
ngọn cờ màu đổi sắc
Người đang sống thành cổ tích
khắc năm tháng lên tên ḿnh hóa phận
(Cổ tích, trang 53)
Tuy bài thơ Cổ tích là bài thơ cảm hoài thân thế, nhưng nó mở cho chúng ta một cánh cửa để chúng ta nh́n vào lănh vực tối tăm của cuộc đời phù ảo, của lẽ sinh diệt vô thường để ta đặt lại vấn đề về cuộc sống b́nh lặng ở mặt ngoài.Và chính từ đó, chúng ta đi sâu vào mọi thắc mắc siêu h́nh trước cuộc phế hung dâu bể.
Những nhà thơ đánh mất một dĩ văng hào hùng thường soi roi nội giới của ḿnh để t́m một nhận định mới về ḿnh, về tha nhân và về những cái phiền toái tế vi trong cuộc sống. Họ trở nên sâu sắc hơn, minh triết hơn trong cái mất mát, thất bại, đổ vỡ
Bên ngoài hạn hẹp
điện ngọc nguy nga
hay vẫn đi dưới rừng mơ
nỗi khoan hồng không thể giải
vượt ra ngoài hiểu biết
ĺa xa mọi thi thố của trí năng
thân ôm chầm tháng chạp
gió ập như thác đổ
rúng động hai bàn chân
đam mê không củi lửa
chỉ c̣n chút tự tại
làm hành trang mong manh
vọng đêm dầy núi gió
bặt tăm tiếng c̣i tàu thường lệ
từ đáy thẳm sâu
nghe chừng xa lạ
tiếng cười diệt vong
lời kinh thức giấc
gió ngừng đổ
tĩnh lự
cùng tiếp sức
bên kia bờ.
(Bên kia bờ, trang 93)
Bài thơ này lọt vào ư nghĩa thâm huyền của Bát-nhă ba-la-mật- đa Tâm kinh qua 3 câu thơ nỗi khoan hồng không thể giải / vượt ra ngoài hiểu biết / ĺa xa mọi thi thố của trí năng. Bài Tâm kinh vốn giúp cho hành giả tu tập để bỏ bờ mê sang qua bờ tỉnh thức (bờ giác) gọi là đáo bỉ ngạn. Nhưng phút giây chứng đắc Phật quả để trở thành đấng toàn năng toàn giác như Đức Phật th́ không thể nghĩ bàn được. Kiến thức con người ngắn ngủn như bước chân con kiến th́ làm sao có thể do lường cái chứng ngộ đắc quả vị của Phật được v́ chiều dài lẫn chiều ngang cái quả vị ấy vô biên giới. Càng dùng năng lực của trí óc (trí năng) để t́m hiểu trạng thái chứng ngộ của hành giả khi sang qua được bờ giác bên kia, chúng ta càng bất lực nếu không sa vào hằng hà sa số sai lạc lầm lộn. Chứng ngộ vào bản thể vạn pháp (tức là chứng đắc Phật quả), chúng ta không thể dùng suy luận mà biết, chỉ có nhờ trực giác thù thắng mà thôi. Đó cũng giống như người chưa từng uống rượu Whisky, chỉ đọc sách viết về rượu Whisky nên chỉ biết hương vị của nó bằng khái niệm hay bằng tưởng tượng mà thôi. Chỉ có uống được nó mới biết hương vị đích thực của nó ra sao.
Bài thơ Bên kia bờ nếu không căn cứ hoàn toàn trong tinh thần phá mê diệt khổ để đi vào chứng ngộ của bài Bát-nhă ba-la-mật-đa Tâm kinh th́ cũng phảng phát nhang khói bát ngát thơm tho của bài kinh ấy.
*
* *
Tôi không rơ từng chặng đường sáng tác thi ca của Vũ Tiến Lập nên không biết anh đă rớt vào ṿng suy tư khi cất bút đề thơ tự bao giờ. Anh ngắm cảnh rất ít. Anh không lựa cảnh diễm ảo để thưởng ngoạn. Anh không yêu đương một cách sôi nổi, nồng nàn, hổn hển. Anh không nhớ nhung ray rứt. Anh không than thở ai oán năo nùng khi t́nh yêu cất cánh bay xa. Cuộc sống của anh như thiếu kích thích. Nhưng đó chỉ là mặt ngoài của thơ. Trong nội giới anh, dưới mặt chữ của thơ anh biết bao là phong ba băo tố của tư duy, của ray rứt trước mọi ngang trái của cuộc đời. Mọi dao động ấy đang lộng hành không ngớt. Khi yêu, khi chờ đợi người yêu, khi lang thang trên ngơ cụt đường khuya, nói chung là khi giao tiếp với cuộc sống, anh suy tư triền miên. Nhà thơ chúng ta muốn nh́n thấu suốt cuộc đời và thế nhân qua một tấm kính trong suốt để t́m gặp cái bí nhiệm của chúng. Dù anh không thành công trong công việc nắm bắt cái chân lư tuyệt đối, cái hoài băo tối hậu của ḿnh. Nhưng về thơ, anh lại thành công. Mỗi một chặng suy tư, anh đào cho thơ ḿnh những tụy đạo huyền bí, những vực thẳm mênh mông. Thơ anh nhờ vậy mà trở nên quyến rũ tuyệt vời.
Trước hết, Vũ Tiến Lập cảm nhận cái cô đơn, cái căn phần lạc lơng và cái chết của con ngựi. Khía cạnh tiêu cực ấy được anh khai thác qua những khung cảnh gợi nên cái thảm thương oan nghiệt mà con người không tránh khỏi. Đó là một sức hút hung hăng và mănh liệt để chúng ta bị lôi cuốn theo, bị trôi giạt theo.
Chở về tách trà độc ẩm
tôi biệt lập thời gian và đời sống
nỗi chán chê
buổi trưa uể oải nhánh cây đợi gió
cố dán lại ngày rách mục
không nguyên vẹn h́nh hài
thôi bỏ đi
thi ân cho ngày mới
mai sau rồi gói trọn đời nhau
chiều đang rộng mở
những con đường sẽ ngại dấu chân
đi đi trước khi trời sụp tối
gió ẩn nhẫn ngoài cửa ải
chờ bóng đêm rủ tới
đi đi buổi trưa hiếm muộn
bạn đường
(Độc ẩm buổi trưa, trang 60)
Người cô đơn muốn làm chủ thời gian, thong dong tự tại chỉ có cách tách biệt đời sống, giam ḿnh trong cái vỏ ṣ vỏ hến kín đáo để thưởng thức cái nhàn hạ của ḿnh, để chối bỏ thận phận nô lệ của ḿnh dưới ách thời gian miên viễn, nhưng không có một ngày để xử dụng tùy nghi. Đương sự muốn cải thiện đời sống, muốn khâu vá hay dán kín lại cuộc đời rách mục và mất mát một vài chi tiết của ḿnh như một khuyết tật. Như thế, đương sự sẽ có một ngày mới xán lạn hơn. Đương sự khuyên bạn nên đi về nơi gió ẩn nhẫn ngoài cửa ải (sic) trước khi trời sụp tối, tức là trước khi tàn tạ chết chóc. Cửa ải đó là biểu tượng cho cái ǵ? Thuộc về siêu h́nh, triết học, tâm linh chăng? Nào ai biết được cái gốc rễ cùng khuôn mặt thật của nó. Chúng ta chỉ biết cửa ải đó nằm trong cuộc nhân sinh phù thế, nhưng có thể mở cho người vượt ải một cảnh giới mầu nhiệm hơn, một cung bậc cao hơn cuộc ḥa tấu miên viễn ở cuộc sống xáo trộn xô bồ này.
Cái cô đơn trong bài Độc ẩm buổi trưa là cái cô đơn tích cực, đưa con người vào ngưỡng cửa giác ngộ. Bề ngoài, nó không có bóng dáng viên bảo ngọc trong bông sen của Phật Thích Ca, không có âm vọng bước chân con trâu xanh của ông Lăo Tử khua động, không có dư ảnh cánh bướm ông Trang tử chập chờn. Thế mà sau lưng mặt chữ của thơ, dưới đáy thẳm mặt chữ của thơ, tư tưởng của ba bậc thánh triết này gồm có đủ.
Đọc suốt tập thơ Tạp ghi thơ, chúng ta nhận thấy rằng cái cô đơn tiêu cực lấn chiếm khá nhiều chỗ trong đó. Tuy nhiên ở bài thơ mà bút giả sắp đem ra phân tích đây lại có cái nghĩa ẩn mật tích cực nằm dưới đáy ngôn ngữ tiêu cực ở phần đầu để rồi xuất hiện huy hoàng ở hai câu chót.
Ngồi đây
ngọn hải đăng cô độc
sóng tách bờ vực thẳm
nguệch ngoạc rẽ ngôi
lấp lánh trong tóc đêm thâu
từ xa khơi buồm trở lại
độc vị thương muối rời biển cả
có khi lệch lạc v́ nơi chốn
rồi lại thầm mong gió trở mùa
tự tâm đă vô định
mai sau buồm xa cánh nhớ
sóng hổn gió gào
ngọn hải đăng cố định
là điểm hẹn hải hồ
(Nói chuyện một ḿnh, trang 61)
Ngọn hải đăng cô độc giữa cảnh sóng gió náo động của trùng dương. Nhưng đây là một chỗ quy tụ những hướng trông và những tầm quan sát của những kẻ lái tàu đi biển để họ khỏi mất hướng lạc đựng. Nó cũng là biểu tượng cho chỗ trụ của cái tâm tán loạn của các Thiền giả để các dương sự t́m sự lóng lặng của tâm thức đảo điên. Có điểm tựa, những vọng niệm các đương sự ngừng lại, đọng lại và sẽ khỏi sinh sôi nẩy nờ. Tâm thức nhờ vậy mà khỏi trôi giạt lang thang. Khi tâm thức hoàn toàn phẳng lặng và hết sạch vọng niệm th́ các Thiền giả chứng ngộ cái Chân Tâm mầu nhiệm, không cần điểm trụ nữa. Cũng thế, khi t́m ra phương hướng con tàu cứ tiếp tục đi, xa dần và mất hút ngọn hải đăng như t́m ra ánh sáng ban ngày để vào hải phận an toàn hơn.
như thơ
lạnh ngày hoang bạt
đêm ân cần
thần thánh nỗi cô đơn
giữa khuya
cúi nhặt nỗi buồn
sắt se
góc dấu
hoen ngày thâm sâu
chỗ vô t́nh
vùng kư ức
xoải cánh t́m
về gịng nước cũ
rong rêu im lặng
không lưới chờ
mộng ngư ông
mông lung
ngại ngùng
cánh cửa đă từ lâu
đóng âm u niềm tử biệt
đợi ta về
mở lại ngày sau
gió xô
nhẹ cánh cửa đời
giật ḿnh
lóng ngóng
đêm
trằn trọc
lay.
(Trên bờ mông lung, các trang 48, 49)
Đây là một trong số đông các bài nói về nỗi cô đơn tiêu cực. Con người sinh ra đă mang sẵn các nghiệp chủng, chính tự ḿnh phải chuyển ác nghiệp thành thiện nghiệp để bước vào cơi lạc phúc hay cơi tịnh độ nào đó. Nhưng mấy ai được ánh sáng giác ngộ soi rọi tới nên họ cứ nhúng tay vào tội ác dài dài. Khi chúng ta gặp cơ duyên chín muồi, phải trả ác nghiệp, không có ai thay thế ta hoặc chia sẻ sự trừng phạt của quả báo với ta. Lại nữa sự u mê và ác nghiệp cứ che mờ tuệ nhăn của ta nên ta không thấy được những thiện tri thức giúp đỡ ḿnh nên ta cảm thấy cô đơn. Cô đơn và khổ lụy gắn liền nhau nên con người cứ luôn cảm thấy lạc lơng một ḿnh trong tai ương bất trắc.
*
* *
Vũ Tiến Lập đem niềm cô đơn ḿnh để bày tỏ với bạn bè và anh c̣n chia sẻ với những tâm sự u ám của họ. Thơ anh nhờ thế, ngoài bản chất sâu sắc c̣n thêm niềm tha thiết chân thành. Chẳng hạn bài Bóng thời gian anh tặng cho Ngu Yên và Trương Đ́nh Luận. Đây là bài nói về một buổi chiều mưa, ẩn dụ ngày tàn bóng xế của tuổi đời mà tâm sự ướt át vẫn bám riết vào thân thế.
Chiều buông
như ḷng con suối cạn
ta về
nước lạnh bóng trời mây
tiếng ai hát
mang mang trời thiên cổ
cơi trăm năm
đằng đẳng chẳng một ngày
chiều buông
hỏi ḷng sao bước vội
ta về
cổ độ bóng thời gian
ngày thôi nắng
dưới chân ai tất tả
nh́n mưa giăng
dệt chiếu kín lưng trời
chiều rơi
gió căng buồm vồn vă
ngày đi
theo thị tứ hong vàng
sao măi thấy
sầu trên đêm hoang vu
tiền thân ta
khép mở cánh cửa đời
(các trang 32, 33)
Than thở suông trơn về buổi tà dương cuộc đời th́ bài thơ theo toán người nhái lặn sâu vào đáy biển lăng quên thăm thẳm rồi. Tác giả đâu chịu lười lĩnh và cạn cợt được. Anh phải lục soát trong cơi trầm tư mặc tưởng của ḿnh những t́nh ư ǵ đó vượt lên b́nh diện của loại thơ than thân trách phận để nâng bài thơ lên vị trí cao sáng hơn. Anh đă t́m gặp tiếng hát / mang mang trời thiên cổ, rồi gặp cơi trăm năm đàng đẳng chẳng một ngày và c̣n gặp tiền thân ta / khép mở cánh cửa đời... Toàn là những ư t́nh rất viễn thâm mà cũng rất thơ, rất đẹp trong thú đau thương.
Bài thơ Ốc đảo dành tặng cho nhà thơ Phương Triều th́ lấy bối cảnh đêm trăng trên sa mạc sau cơn mưa trong mùa khô. Ốc đảo là biểu tượng cho cho khu rợp bóng mát và dải nước trong dành cho đoàn lữ hành trong sa mạc nghỉ ngơi. Nó cũng là biểu tượng cho sự cô đơn cũng như ḥn hải đảo trong trùng dương bao la sóng nước.
Trong bài Ốc đảo, ư t́nh của tác giả trao gửi bạn hơi mù mờ, chỉ có đôi bên đă từng giao tiếp nhau mới hiểu nhau. Độc giả chỉ đứng ṿng ngoài của xúc cảm và ư nghĩ của tác giả, họa hoằn lắm mới lấn sâu một chút vào trong nội dung của bài thơ. Tuy nhiên, bài thơ vẫn gieo cho chúng ta cái cảm giác trơ trọi giữa hoang vu im vắng và nỗi ngậm ngùi trong lời thố lộ tâm t́nh của tác giả: tôi như người bán rong / bày biện cỗ đời gieo bến đợi.
Đêm khỏa thân thấu trời sao
sa mạc mênh mông vắng
đá núi tiên tri từ cổ đại
tôi cởi trói tù cho trí nhớ đi hoang
bóng cây xương rồng thức
hoa trổ vệt son
trăng vằng vặc
mưa vừa tắm gội chiều nay
gió đă lùa mây về phương bắc
phơn phớt trên g̣ má
mát lạnh đêm tinh khiết
đá cuội lăn lóc chờ
giữa mùa khô khốc dấu môi
ngựa oải chân bôn
ốc đảo lặng lờ
tôi như người bán rong
bày biện cỗ đời gieo bến đợi
những v́ sao lạc không về
(trang 56)
*
* *
Trong những cái bi đát nhất của cuộc sống, đó là cái chết của những kẻ đang tha thiết yêu cuộc sống. Trong cái luật vô thường của kiếp nhân sinh, chúng ta đă làm nhân chứng cho biết bao cái chung cuộc thảm thương: t́nh yêu, lư tưởng, ước vọng... Tất cả xôn xao đến ta như sóng reo huyên náo nơi cuối băi đầu ghềnh, như gió phơi phới xao động ngàn cây. Rồi tất cả rút lui bằng cách này hay bằng cách khác, rút lui môt cách tức tưởi và dội lại chúng ta âm vang gầm thét giận dữ hay lặng lẽ tan biến như chiếc bóng trong giấc mơ. Và rồi tất cả trở thành cổ tích.
Cái chết của thi sĩ Cao Đồng Khánh chẳng những đă dội sâu vào niềm thương tiếc của tác giả mà c̣n đánh thức trong nội giới sâu thẳm của anh một sự thức tỉnh như ánh đèn le lói mơ hồ, cái mà anh gọi là sự hiện hữu vô biên / sau ba mươi năm chợt thức / giữa tha ma (sic) :
Mùa xuân thoát ly t́m giấc ngủ
cỏ đá xanh
bên bờ đùm bọc
mây ră những khước từ
gh́ lên cánh chiều về trên mộ địa
đẩy gió thoắt đă bao năm
vẫn không đan gần khoảng cách
hoàng hôn lạc lơng
trên những ngón tay ch́a thêm đốt mục
kiệt sức trong trí nhớ rối mù
côn trùng ngoi lên
lơi khúc quỷ quái
buồn đồng vắng
sự hiện hữu vô biên
sau ba mươi năm chợt thức
giữa tha ma.
(Nhớ bạn, trang 81)
Nhưng qua cái nh́n giác ngộ và tích cực của họ Vũ, cái chết lại bắt đầu cái sống. Cái sống trước cái chết dù có những lầm lạc đưa tác nhân đến khổ đau cũng vẫn đem lại cho tác nhân một vài kinh nghiệm để đuơng sự thiết lập cuộc tái sinh dù không được hoàn hảo hơn, nhưng cũng bắt gặp một sự cứu rỗi kỳ diệu v́ trong sự nghiệt ngă đă chứa sẵn một cái ǵ tươi mát dễ thương có gió hát mênh mang / tưởng lộc xuân nhú cạnh (sic).
Bóc thời gian
những ga tàu xa biệt
úp ngực xuống
nghe mùa đông chở vào da thịt
tinh thể của câm lặng
lạnh lùng
giờ thần linh sắp chết
không lời kinh sám hối
tục lụy