Lệ Nam Nguyễn Tà Cúc

Họa sĩ Duy Thanh, Những ngày còn sáng tạo

Bài 1

 

Duy Thanh "tự họa", Phổ Thông [1953-1954], Hà Nội

 

Họa sĩ Duy Thanh Nguyễn Khánh Thành

11. 8. 1931, Thái Nguyên, Việt Nam -- 24. 11. 2019, San Francisco, California, Hoa Kỳ

 

          Trước khi tiếp tục loạt Tô Thùy Yên & Nhóm/ Tạp chí Sáng Tạo, tôi muốn trình bày về họa sĩ thành viên Duy Thanh và một số thành viên khác. Thứ nhất, ông không sáng lập nhưng đã góp phần vào việc Mai Thảo được người Hoa Kỳ giao tờ Sáng Tạo và, bởi thế, cũng phát sinh Nhóm Sáng Tạo.Thứ hai, sự đóng góp của ông vào Hội họa Miền Nam sẽ được ghi lại qua những tài liệu trong phạm vi giới hạn của một bài viết.

          Tôi nghiệm được một điều khiến quyết định viết về ông và Nhóm Sáng Tạo trở thành dễ dàng: Vấn đề tài liệu. Bầy tỏ tình cảm với người sống đã khó, công khai nỗi tiếc thương làm chi khi họ đã khuyết; nhưng một lần nữa, tình cảnh thiếu thốn tài liệu một cách khác thường dẫn đến sự khan hiếm, thậm chí sai lầm, đậm chất nghèo nàn trong nhiều bài đã xuất hiện. Bởi thế, trước khi vào phần chính Duy Thanh, tôi sẽ giới thiệu vài chi tiết về thí dụ của thành viên Tô Thùy Yên hầu cho thấy mối nguy thiếu hụt hay suy diễn sai lầm tài liệu đang tiếp tục góp phần vào miền khuyết sử.

          Miền khuyết sử đó không chỉ khuyết phần Văn học Miền Nam mà còn về Chiến tranh Việt Nam. Từ lâu, tôi đã nhận thấy một thứ chiều hướng không những tách Văn học Miền Nam khỏi cuộc chiến, mà còn tách nhiều tác giả như Nhóm Sáng Tạo khỏi cuộc chiến khi nhận xét rằng sáng tác của họ đa số chỉ-về-thành phố. Trước hết, một tác giả không thể bịa đặt nếu không có kinh nghiệm. [Sau nữa, có đúng như thế không, ít nhất với Nhóm Sáng Tạo?] Miền Nam khác Miền Bắc chính ở quyền tự do sáng tác. Tôi không tin chúng ta Miền Nam lại nuôi dưỡng một thứ giáo điều tương tự khiến phản bội sự tự vệ để bảo vệ quyền tự do ấy.

          Trên hết thẩy, tôi thường cảm thấy một sự khôi-hài-đen khi được đọc một số bài về nhiều tác giả danh tiếng Miền Nam. Sự khôi hài đó càng tăng khi độc giả, hay thật ra, chính tác giả, phải biết rõ những "bổn cũ soạn lại" đó gồm tin tức không kiểm chứng được, hay tệ hơn, đã bị kiểm chứng là sai. Nhiều lần sai bên này và bên kia đại dương cộng thêm hai bên một giòng Bến Hải.

          Bởi thế, ít nhất ai cũng có thể góp phần tài liệu từ kinh nghiệm khôi-hài-đen ấy. Tôi khởi sự viết loạt bài Duy Thanh ngay sau khi ông qua đời vào cuối tháng 11. Gần nửa năm sau, ngày 30 tháng 4 lại đến. Đó là ngày thất trận của Việt Nam Cộng hòa nhưng cũng là ngày khải hoàn của Văn học Nghệ thuật Công dân Miền Nam. Hai mươi năm của Miền Nam ấy cũng có thể đồng nghĩa với một miền khuyết sử khi không chỉ khuyết nhân vật như họa sĩ Duy Thanh.

 

1.    Miền khuyết sử: Giọt tối phiếm du/miền khuyết sử, Thanh Tâm Tuyền

1.1  Văn, Thơ, Tiểu luận Tô Thùy Yên & Nhà Xuất bản Kẻ Sĩ

           trong Tiểu sử Thiếu Tá Tâm Lý chiến Đinh Thành Tiên

 

          Tôi hơi bất ngờ khi phải kéo dài loạt Tô Thùy Yên và Nhóm Sáng Tạo thành một thứ "trường thiên tiểu thuyết" từng kỳ chỉ vì lý do nêu trên. Ngày nay, ngay cả những nhà sưu tập không cần chuyên nghiệp lắm cũng có thể tìm đọc Sáng Tạo, Thế Kỷ Hai Mươi, Vấn Đề, Nghệ Thuật, Khởi Hành, Thời Tập vv.  nên quả khác thường khi tuồng như phần Văn và phần Tiểu luận của Tô Thùy Yên hoàn toàn vắng mặt trong nhiều bài đã xuất hiện sau khi ông qua đời.

          Đây là lúc tuyệt hảo cho các nhà phê bình chuyên nghiệp, hay văn hữu, nếu muốn, nhìn lại đời văn chương Tô Thùy Yên từ sáng tác trước 1975 tới khép lại vào năm 2019 khi tương đối đã có đầy đủ tài liệu. Ông thật sự tham dự vào sinh hoạt văn nghệ tại Hoa Kỳ qua các cuộc ra mắt sách, họp bạn, trả lời phỏng vấn, góp ý bàn tròn vv. Tôi đã phỏng vấn và đã viết một hai bài về Thơ Tô Thùy Yên từ những năm cuối 90, nhưng sẽ rất hào hứng nếu có dịp tổng kết, dù chỉ trả lời chính tôi về vài thắc mắc vẫn còn vương vấn. Trước 1975, chí hướng chống Cộng và cải tổ xã hội thuộc phần vụ người trí thức của ông hiện quá rõ trong hai phần thượng dẫn. Bên cạnh đó, còn phần Xuất bản với Nhà Xuất bản Kẻ Sĩ do ông và nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ ( người vợ thứ 2) thành lập. Hai chữ "Kẻ Sĩ" tự nó phải có một ý nghĩa và mục đích nào đó. 

          Bởi thế, qua lời thuật mới đây của nhà báo Đinh Quang Anh Thái sau khi Tô Thùy Yên qua đời [1], chúng ta sẽ có thêm tài liệu khi chứng kiến Thiếu tá Tâm lý chiến Việt Nam Cộng hòa Đinh Thành Tiên kiểm duyệt nhạc sĩ Trịnh Công Sơn dù, trước đó, nhân danh một văn nghệ sĩ, đã viết lời bênh vực cho đương sự. Tôi đã chứng kiến ông đầy giọng tuyên huấn kẻ sĩ tân thời trong Văn và tiểu luận hay trong 1 bài điểm sách hiếm hoi nhắm sát phạt Nguyễn Mạnh Côn qua cuốn Kỳ Hoa Tử; ngược lại, tự nhận trong Thơ Các việc ta làm/Ta xét thấy chẳng ra chi/Nên ngươi hăng điên, còn ta ảm đạm/Khi cùng làm những việc như nhau..." [Chiều trên Phá Tam Giang].

          Nếu căn cứ trên tiểu sử người lính Việt Nam Cộng hòa, tôi có thể hỏi: "Cùng làm những việc như nhau"? Cùng đắp mô gài mìn phục kích hay chặn đường xe đò bắt cóc bất cứ ai bị nghi ngờ? Cùng tàn sát dân lành bằng bằng lựu đạn? Như chính ông mô tả người lính Mặt trận Giải phóng Miền Nam hay Miền Bắc Cộng sản trong tư cách một phóng viên chiến trường và một tác giả? Dù giải nghĩa thế nào về "ý nghĩa bí hiểm" /Xấu đẹp tùy người đối diện của đoạn thơ đó, chúng ta không cách nào từ chối rằng đoạn thơ này rất mâu thuẫn với tác phong Thiếu Tá Tâm lý chiến Đinh Thành Tiên và tác giả Tô Thùy Yên của truyện ngắn Người bạn đồng hành.

          Trước 1975, trong bài Tôi [Sáng Tạo, Số 11, Trang 44-45, Tháng 8. 1957 (2)] ông xưng đích danh và vạch ra định nghĩa cũng như sứ mạng một thi sĩ. Theo tôi, đây là bản căn cước có thể được dùng làm mốc thứ nhất trong cuộc đời Thơ của ông. Mốc thứ hai là Chiều trên Phá Tam Giang. Mốc thứ ba là những bài thơ như Mùa Hạn, Tàu Đêm, Nỗi Đợi về tình trạng tù đày của riêng ông và những quan sát về một Miền Nam thất điên bát đảo dưới chế độ Cộng sản. Mốc cuối là Ta Về, bày tỏ tâm trạng và thái độ của ông sau 1975.

          Ta Về cũng có thể được coi như đại diện cho sứ mạng của loạt thơ "giải thoát" (3). Loạt thơ này xuất hiện sau mươi năm tù của tác giả dưới trào "cường quyền" Cộng sản rồi sau cùng, chấp nhận một cuộc sống lưu vong ngoài đất nước. Tựu chung, chúng cũng không trượt xa lắm tinh thần Thơ trước 1975. Có điều, như tôi biết, ông không bao giờ nhắc đến "chống lại cường quyền" trong Thơ hay bất cứ ở đâu nữa. Đó là lý do tại sao tôi đã viết ở trên "nhưng sẽ rất hào hứng nếu có dịp tổng kết, dù chỉ để trả lời chính tôi về vài thắc mắc vẫn còn vương vấn".  Trên căn bản, Thơ ông không thay đổi mấy. Ông vẫn là một nhà thơ với tới được mối tương quan giữa nhân loại và khoảng không vô hình khiến không "ăn thua đủ" với người bên kia. Tuy nhiên, tôi nghĩ cần có một quan sát tỉnh táo từ độc giả, với một ý niệm dù thiếu sót thế nào về cuộc chiến, nếu muốn nhận xét sâu xa hơn về vị trí của ông trong Văn học Miền Nam và mức độ quan trọng của thái độ vị tha sau khi bị tù đày.

          Tôi phải nói thêm rằng tôi muốn viết phần này, không phải để hạ giá sự vị tha đó, mà để cung cấp một cái nhìn rộng hơn về những người cầm bút khác cùng thời chiến với ông. Nhất là khi chính phủ Cộng sản Việt Nam vẫn cố gắng níu kéo nhà văn Miền Nam tỵ nạn hải ngoại chỉ vì lý do duy nhất: Ngày nào còn nhà văn Miền Nam tiếp tục sáng tác và từ chối trở về tham dự các cuộc họp do Hội Nhà Văn tổ chức, ngày đó họ vẫn chưa chiến thắng hoàn toàn. Đương nhiên những người lính cầm bút--cùng viết và có khi ứng xử tương tự như Thiếu tá Đinh Thành Tiên/nhà thơ Tô Thùy Yên trước 1975--phải thuộc một tập thể cầm súng hơn 20 năm hầu người khác có cơ hội tự do sáng tác. Tập thể đó không chỉ cùng màu áo màu cờ mà chia cùng cốt tủy của tập thể người lính. Tôi hy vọng cũng sẽ được góp phần tài liệu cho chân dung người lính không cầm bút ấy trong những phần tới.

 

                        1.1.1 Ta vốn hiền khô ta là lính cậu-Nguyễn Bắc Sơn       

            Tô Thùy Yên là một trong những người cầm bút sáng tác về chiến tranh, về đề tài muôn thuở của 2 kẻ mặt-giáp-mặt với vũ khí trong tay; hoặc trong trường hợp Văn học Miền Nam, về sự không thù hận với người lính Cộng Sản.

          Nhà thơ Wilfred Owen gốc Anh [1893-ngày 4.11.1918], tử trận lúc 25 tuổi ngay trước ngày Đình chiến Thế chiến Thứ Nhất. Thơ ông, từ vị trí tác chiến, biểu tả chân thành đến độ tàn nhẫn sự phi lý, niềm vô vọng và nỗi kinh hoàng mà người lính phải hứng chịu khi giao chiến "cho các lão tướng lãnh già hưởng", nhất là cuộc giao tranh bằng chiến hào /the trench warfare. Bài thơ bất hủ Dulce et Decorum Est ghi lại sự hoảng loạn và đau đớn cùng cực của binh lính Anh quốc hay Đồng Minh trước khi tử trận vì trúng khí độc từ quân đội Đức quốc trong Thế Chiến thứ Nhất.:

          -"[...] In all my dreams before my helpless sight,/ Trước sự chứng kiến bất lực trong mọi cơn mơ/He plunges at me, guttering, choking, drowning/ Anh ta bổ nhào vào tôi, nước mắt dàn dụa, ngạt, chìm đuối [...]/ If you could hear, at every jolt, the blood Nếu anh có thể nghe, trong từng cơn co giật, máu/ Come gargling from the froth-corrupted lungs/Trào ra sục sục từ buồng phổi bại hoại đang sủi bọt/ Obscene as cancer, bitter as the cud/Tục như ung thư, chua như đồ ợ...[ Wilfred Owen, Dulce et Decorum Est, 1917 *Horace, "Dulce et decorum est / Pro patria mori" -Thật là dịu ngọt và xứng đáng để hy sinh cho đất nước]

          Họa sĩ Hoa Kỳ John Singer Sargen họa lại quang cảnh thê lương mà ghê rợn đó khiến chúng ta có thể cảm nhận bài thơ trên một cách thấm thía mà kinh tâm động phách. Bức Gassed/ "Trúng khí độc" (1919) trải theo chiều dài 6 mét 5 cộng với chiều đứng 2 mét 8. Chi tiết trong tranh cho thấy 2 toán quân nhân  trúng thương, đa số bị băng kín mắt. Họa sĩ đã dàn xếp để bố cục bức tranh với những người sống sót dắt díu nhau thành 2 hàng tới trạm cứu thương bằng những bước chân xiên xẹo. Những bước chân này hoặc do dự hoặc nâng quá tầm mặt đất vì người lính bị thương không còn ước lượng được khoảng cách dưới chân. Hai bên đường, la liệt xác binh sĩ tử trận hay kiệt sức với cặp mắt cũng bị băng kín, nằm lăn lóc. Xa xa, nếu nhìn kỹ chúng ta sẽ thấy một đám người không mặc quân phục, màu áo xanh hay đỏ, đang đá banh. Đám người này có lẽ đại diện cho một đời sống bình thường, tương phản một cách lãnh đạm với hình tượng bất thường do chiến tranh gây ra.

John Singer Sargent (1856–1925), Gassed, 1919, oil on canvas, Imperial War Museum, London. © Imperial War Museum (Art.IWM ART 1460)

https://www.huntington.org/verso/2018/08/study-gassed

 

https://s3-ap-southeast-2.amazonaws.com/awm-media/collection/E04851/screen/4241660.JPG

 Binh lính Áo Quốc trúng khí độc, Bois de l'Abbe, Pháp quốc, ngày 27.5.1918

https://s3-ap-southeast-2.amazonaws.com/awm-media/collection/E04851/screen/4241660.JPG

            Wilfred Owen, một sĩ quan tác chiến, hẳn phải chứng kiến cảnh kinh sợ đó nhiều lần ngoài các cảnh chém giết khác. Đó là lý do tôi muốn kèm thêm một bức ảnh nữa về khí độc để xin cho phép nói lên điều này: Đừng lãng mạn hóa chiến tranh bằng Thơ. Hay bằng tình thân hữu giữa những người sống sót. Anthem for Doomed Youth/"Bài (Thánh) Ca cho giới trẻ tận số", cùng tác giả, chống lại lối lãng mạn hóa lời tung hô vô vị so với tiếng đạn réo ở chiến trường đã kết liễu đám lính trẻ tận số.

          Độc giả nhớ nhiều đến Dulce et Decorum Est, nhưng Wilfred Owen, một đời ngắn ngủi, còn nhiều bài thơ đặc sắc khác. Một trong những bài đó chính là Strange Meeting/"Một cuộc gặp gỡ kỳ lạ", thuật lại cuộc đối thoại và làm lành tại Địa ngục giữa 2 chiến binh đối nghịch. Bài thơ kết thúc bằng mấy câu “I am the enemy you killed, my friend./Tôi là kẻ thù mà anh giết [...] Let us sleep now/Chúng ta hãy yên nghỉ thôi..." Trong bài này có câu thơ với vài chữ "The pity of war/Sự đáng tiếc của Chiến Tranh" lập lại trong phần "Lời Tựa" cho một tập thơ dự định xuất bản:

          -"[...] Above all I am not concerned with Poetry/Trên hết thẩy, tôi không quan tâm tới Thơ/My subject is War, and the pity of War./Chủ đề của tôi là Chiến Tranh, và sự đáng tiếc của Chiến Tranh/The Poetry is in the pity./Thơ cư ngụ trong sự đáng tiếc đó..."

          Tôi đưa trường hợp Wilfred Owen hầu chứng minh "truyền thống" làm thơ nhân ái về kẻ giao chiến không hiếm dù quan niệm, có phần nào Cơ đốc nhân, của ông khác hẳn trường hợp một Miền Nam lẻ loi chiến đấu cho sự sinh tồn của chính nó và Tự do trước làn sóng Cộng sản Thế giới. Nay hãy trở lại trường hợp Tô Thùy Yên, thành viên Nhóm Sáng Tạo, trong Văn học và Chiến Tranh Miền Nam.

·        Ý Nhi và "Thức cho xong bài thơ"

          Độc giả-kiêm-tác giả Ý Nhi là thí dụ của hiện tượng sử dụng chiếc thảm thần thi ca để bay lướt qua cuộc chiến khiến sáng tác trong hoàn cảnh Văn học Miền Nam và thời gian tham chiến thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng hòa của ông hầu như lu mờ. Tôi có cảm tưởng khi bà quan trọng hóa kinh nghiệm trước 1975 với kinh nghiệm tù đày sau 1975; khi bà liên kết phần đời cá nhân nhà thơ với cuộc đổi đời kinh hoàng ảnh hưởng tới hàng triệu gia đình Miền Nam hầu tấn phong ngôi vị "hành giả", "nhà thơ lớn" "người lớn" cho Tô Thùy Yên thì hình như chưa vững lắm. Cách đây mấy năm, Ý Nhi viết một bài công phu, thành tâm và cẩn thận trích dẫn nhiều thơ Tô Thùy Yên trước và sau 1975 hầu có đoạn chứng minh những nhãn hiệu đó:  

          -"[...] 5. Ta về, khai giải bùa thiêng yểm

          Cuộc “khai giải” này dường đã được bắt đầu từ rất lâu, trước tai ương, trước 10 năm tù lưu xứ, trong căn cốt, trong tri cảm của Thi sĩ / Hành giả[...] Và, cuộc 'khai giải sâu đậm nhất đã diễn ra trong một lần gặp mặt tưởng tượng với người lính bên kia chiến tuyến: Ví dù ngươi bắn rụng ta /Như tiếng hét Xé hư không bặt im /Chuyện cũng thành vô ích/ Ví dầu ngươi gục /Vì bom đạn bất dung/  Thi thể chẳng ai thâu/ Nào có chi đáng kể [...]

          Chắc chắn, nếu không có cuộc “khai giải” trong tâm tưởng ấy, không có cuộc khai giải tự lòng mình ấy, không thể có hình ảnh người tù: Ta về một bóng trên đường lớn; không thể có cảnh tượng: Tưởng tượng nhà nhà đang mở cửa/ Làng ta, ngựa đá đã qua sông/ Người đi như cá theo con nước/ Trống ngũ liên nôn nả gióng mừng; không thể có nỗi hàm ơn: Ta về cúi mái đầu sương điểm/ Nghe nặng từ tâm lượng đất trời/ Cám ơn hoa đã vì ta nở/ Thế giới vui từ mỗi lẻ loi; không thể có sự bình tâm: Em hãy yêu lấy thành phố của anh/ Như tất cả những gì anh gửi lại/ Trong buổi chiều dịu lãng đời em/ Thành phố của anh/ Bây giờ đã thuộc về em/ Như lời nói thuộc về nhà thơ phe thắng trận; không thể có cuộc lễ tạ đơn độc mà kỳ vĩ: Ta về như lá rơi về cội/ Bếp lửa nhân quần ấm tối nay/ Chút rượu hồng đây, xin rưới xuống/ Giải oan cho cuộc biển dâu này… Cuộc khai giải huy hoàng và đau đớn này, chỉ có thể được làm nên bởi chính tri cảm của một người lớn, một nhà thơ lớn..." [Ý Nhi, "Thức cho xong bài thơ", http://vanviet.info/van-de-hom-nay/vinh-biet-nh-tho-t-thuy-yn/, Tháng 3, 2016, Sài gòn]

 

          Tôi phải công nhận tác giả đã thành công khi xây dựng được một bài tùy bút-lẫn-phê bình xem ra hợp lý, đậm nét nguy nga của lâu đài thi ca, ẩn hiện tình thân hữu sâu đậm giữa một nhà thơ tập kết và một thi sĩ/chiến binh thất trận qua một màn sương huyền ảo. Thành công hơn nữa khi cả hai đều phản ảnh ánh chiếu chói lọi của nhau, một sự phản ảnh đồng nhất dù xuất thân trái ngược. Ý Nhi tập kết ra Bắc từ khi còn thơ, tốt nghiệp đại học Hà Nội, có vị trí vững vàng trong hệ thống xuất bản của chính phủ Cộng sản, lại được bảo vệ tối đa với gia thế. Thân phụ và chồng  đều là những nhân vật tập kết cao cấp phục vụ trong lãnh vực giáo dục nghệ thuật. Mọi người đều biết giá trị của các nấc thang thăng tiến được duyệt xét khắt khe ra sao trên căn bản "ngụy", "tập kết" và "Đảng" sau 1975.

          Tô Thùy Yên rời nhà tù với quá khứ u ám của một quân  nhân  thất trận, đến nỗi tự vẫn không thành vì tội vượt biên trong khi, dù sống hay chết, sáng tác cũng bị cấm lưu giữ và cấm lưu hành dưới bất cứ hình thức nào. Con cái ông bị kỳ thị trong hệ thống giáo dục Miền Nam. Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ, người vợ thứ hai, cùng lập Nhà xuất bản Kẻ Sĩ, hủy bản thảo, dọn khỏi nơi 2 người từng sinh sống, chật vật nuôi nấng các con. Ông nộp đơn xin nhập cư Hoa Kỳ. Thụy Vũ ở lại. Tình cảnh bi thương này đã được phổ biến quá nhiều, tôi không muốn nói thêm, ngoài một điều hẳn có người biết: Thân phụ nhà văn Thụy Vũ (tức nhạc phụ của Tô Thùy Yên) có cảm tình với "Cách Mạng" nhưng rồi cũng không thể bảo vệ được con gái và con rể. Có cảm tình chưa đủ.

          Đọc bài thượng dẫn lần đầu, người ta rất dễ ái mộ những "tâm hồn cao thượng" đã do văn chương mà tự quyết định cởi bỏ dây xích cựu thù. Ý Nhi có thể cả quyết về một "cuộc khai giải huy hoàng và đau đớn" kèm thêm "cuộc lễ tạ đơn độc mà kỳ vĩ" khi chỉ cần dựa trên mấy câu thơ phác họa hai người lính kình địch trước 1975 tới lối thơ "giải oan" sau 1975. Nhưng trước hay đồng thời với Tô Thùy Yên, Văn học Miền Nam đã có nhiều tác giả có thái độ không ưa thích chiến tranh. Rõ ràng hơn, quan trọng hóa thái độ không thù hận binh lính Cộng sản như trong Chiều trên Phá Tam Giang trình bầy một sự hiểu biết có giới hạn về Văn học Miền Nam và Chiến Tranh Việt Nam. Đó mới là điều quan trọng đủ để tôi mở rộng vấn đề ở đây chứ không phải sự chính xác của các nhãn hiệu đó. Nếu đúng, tôi cũng hân hạnh cho ông (một người bạn kể được là thân, thân đến nỗi lần nào nhấc điện thoại lên cũng trêu tôi: "Hết ế chưa bà Nghè?!"), mà nếu không đúng lắm, đây là một dịp góp thêm tài liệu.

          Trong Văn học Miền Nam và sau 1975, có phải chỉ có Tô Thùy Yên mới có những câu thơ không thù hận? Trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa, có phải Thiếu tá Đinh Thành Tiên mới được xem như người lính Miền Nam duy nhất sẵn sàng bao dung? Tôi, một độc giả của Văn học Miền Nam, cũng tin chắc chắn rằng, Không. Không đâu: Lính mà em.

          Có bao nhiêu tác giả Miền Nam đã "một lần gặp mặt tưởng tượng với người lính bên kia chiến tuyến" và xem việc ra trận là việc bất đắc dĩ hầu bảo vệ tự do nên không oán thù dai dẳng? Tôi có thể trả lời: Có ít nhất một thi sĩ khác, nổi tiếng ngang với Tô Thùy Yên cộng thêm vài nhà văn nữa. Thế nên, nếu chỉ có mấy câu thơ về chuyện tưởng tượng ấy mà bỗng dưng biến thành "hành giả", "khai giải", với lại "trí cảm của một người lớn" hay "một nhà thơ lớn" vv và vv. thì cả Miền Nam này đều "ra ngõ gặp...hành giả" từ một thi sĩ,  văn sĩ tới một chiến sĩ. Bởi thế, nếu Tô Thùy Yên không độc chiếm những  ngôi vị đó thì "cuộc khai giải huy hoàng và đau đớn", "cuộc lễ tạ đơn độc mà kỳ vĩ", "hành giả", "tri cảm" của Ý Nhi trao tặng sẽ không sống sót nổi hoàn cảnh chiến tranh rực sáng ánh hỏa châu soi thấu Chiều trên Phá Tam Giang hay nỗi đoạn trường do chính quyền Cộng sản tạo ra trải suốt Ta Về. Và đoạn nhận xét quan trọng này, có thể quan trọng nhất, trong bài viết huê mỹ của Ý Nhi sẽ kém nhiều phần hiệu nghiệm.

          Trước hết, chúng ta hãy đọc thi sĩ Nguyễn Bắc Sơn, người xứng đáng được nhắc tới trên phương diện "trước Tô Thùy Yên" khi chỉ mỗi một Nguyễn Bắc Sơn có thể gắn liền với chủ đề Chiến tranh Việt Nam một cách riêng biệt:

Kẻ thù ta ơi những đứa xâm mình
Ăn muối đá mà điên say chiến đấu
Ta vốn hiền khô ta là lính cậu
Đi hành quân rượu đế vẫn mang theo
Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo
Xem cuộc chiến như tai trời ách nước
Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước
Vì căn phần ngươi xuôi khiến đó thôi...
[Nguyễn Bắc Sơn, Chiến tranh Việt Nam &  tôi, "Chiến tranh Việt Nam và tôi", Đồng Dao-Tủ-sách Thi-ca xuất bản, trang 17-18, năm 1972, Sài gòn, Việt Nam * Giấy phép kiểm duyệt ngày 6 tháng 4 năm 1971]

          Trong cuốn này, có những câu thơ đã lên bìa tờ Khởi Hành từ tháng chạp 1969, nghĩa là hơn 2 năm rưỡi trước khi có Chiều trên Phá Tam Giang:

Cởi áo trận và hoa mai ném tuốt
Xin giã từ đời vũ khí huy chương
Xin trở về như một kẻ hoàn lương
Xin vứt hết xin bắt đầu lại hết...

[Nguyễn Bắc Sơn,"
Tiệc tẩy trần của người sống sót", bìa trước Khởi Hành số 34, ngày thứ năm 18 tháng chạp, 1969]

          Độc giả muốn đọc thêm, có thể xem thêm 2 bài nữa, cũng trên Khởi Hành (Bộ Cũ, Sài gòn):

 

img566 (2)

Nguyễn Bắc Sơn, Khởi Hành Số 73, trang 4, Sài Gòn

Chủ nhiệm&Chủ bút: Anh Việt Trần Văn Trọng-Thư ký Tòa soạn: Viên Linh

Tài liệu của Lưu Đức, Viên Linh và Nguyễn Tà Cúc

 

            Ngoài nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn, nhà văn Dương Nghiễm Mậu cũng phát biểu về sự "phải chăng" của Miền Nam và đòi hỏi Miền Bắc phải đáp ứng cũng bằng một sự "phải chăng" khác:

          -"[...] Lửa đạn ở Lộc Ninh, ở An Lộc, tôi nhớ tới những người bạn ở trong Sư đoàn 5, Sư đoàn 18, những người tôi đã cùng đi trên con đường vào sâu Kampuchea trong năm trước[...] Anh Xuân Vũ, đó là một nhà văn, bạn cũ của anh Sơn Nam, anh đi kháng chiến 9 năm, năm 1954 còn tin người cộng sản, anh đã ra Hà nội tập kết, từng nổi tiếng là nhà văn của Nam Bộ, sau anh trở về Nam, năm trước anh bỏ hàng ngũ cộng sản. So sánh hai đời sống trước kia và hiện nay, anh Xuân Vũ nói mình như con chim trước kia được sống trong một cái lồng son, nay thì mình bay ra ngoài. Đời sống của một con chim chắc chắn không phải ở trong cái lồng, Nhân cuộc chiến đang ác liệt, tôi hỏi anh Xuân Vũ: Nếu để được nói với những người cộng sản thì điều gì nên nói? Anh Xuân Vũ nói: để nói với người thanh niên Miền Bắc, tôi chỉ có hai điều để nói, trước nhất là mong họ hoài nghi những điều mà đảng và chính phủ nói với họ, đặt câu hỏi với họ vì chính anh đã kinh qua một kinh nghiệm: thực tế miền Nam khác với những điều mà guồng máy nói, dân chúng miền Nam có thể không hoàn toàn hài lòng về xã hội miền Nam nhưng chắc chắn họ không thích cộng sản. Điều thứ hai nữa: người quốc gia miền Nam rất phải chăng. Mùa xuân Mậu Thân năm 1968 trong khi những người lính miền Nam lo trở về sum họp ăn Tết với gia đình trong thời gian hưu chiến thì những người cộng sản cầm chắc súng trên tay từ rừng núi trở về, họ có mặt và nổ súng trong hầu hết các thị trấn. Người cộng sản đã tưởng trận tổng công kích tổng khởi nghĩa sẽ giúp họ nắm quyền thống trị, dân chúng sẽ xuống đường hoan hô, quân đội miền Nam sẽ tan rã. Nhưng không, điều ấy ở ngoài ước tính của người cộng sản. Cộng quân có mặt ở chỗ nào thì dân bỏ chạy khỏi chỗ ấy. Quân đội không tan rã. Những người lính trở lại ngay đơn vị cầm súng không chút bịn rịn. Tại sao anh chiến đấu? Câu hỏi ấy đã được trả lởi. Để lựa chọn giữa tự do và cộng sản, người miền Nam lựa chọn tự do nhưng họ không mong muốn người khác cũng phải lựa chọn như mình. và họ mong muốn người cộng sản cũng có thái độ như thế, đừng dùng bạo lực khống chế họ. Nếu người cộng sản từ bỏ bạo lực, người miền Nam chắc chắn vui hơn ai hết để những người từ mặt trận trở về, vui với hạnh phúc nhỏ bé của gia đình của họ. Sự phải chăng của người miền Nam ở ngay thái độ chiến đấu của người chiến sỹ. Tại sao người cộng sản không có được sự phải chăng? Bao nhiêu đau thương của cuộc chiến 30 năm không đủ cho một phút chùng lòng, ngậm ngùi với những sống chết tức tưởi? Vui bao nhiêu cho một thành công mong manh nào đó với nỗi thống khổ của cả dân tộc? [...] Hàng trăm ngàn dân chúng lần lượt bồng bế nhau chạy khỏi những vùng mà cộng quân có mặt, họ ra đi trong khó khăn, nhưng nỗi kinh hoàng ở lại còn lớn lao hơn nhiều. Những ra đi ấy nói lên lần nữa: Chúng tôi không chấp nhận cộng sản. Chúng tôi mong ước hòa bình, mong ước được sống nhưng chúng tôi không chấp nhận cộng sản, chúng tôi chấp nhận chiến đấu bởi vì chúng tôi không thể còn có lựa chọn nào khác để sống như mình muốn. Trong cảnh huống đó, tôi lên tiếng." [Dương Nghiễm Mậu, "Một lời cho cuộc chiến", Bìa trước và bìa sau Khởi Hành số 152, ngày thứ năm 11.5.1972]

          Lần nào đọc lại những dòng này, tôi đều không ngạc nhiên. Bị đánh thì phải đỡ và đỡ cho đẹp, tại sao cứ phải ...bình giảng. Chiến đấu vì bị bắt buộc, bị đánh úp hồi Mậu Thân, nhưng người Miền Nam không hề thù hận:

          -"[...] Họ mong muốn người cộng sản cũng có thái độ như thế, đừng dùng bạo lực khống chế họ. Nếu người cộng sản từ bỏ bạo lực, người miền Nam chắc chắn vui hơn ai hết để những người từ mặt trận trở về, vui với hạnh phúc nhỏ bé của gia đình của họ. Sự phải chăng của người miền Nam ở ngay thái độ chiến đấu của người chiến sỹ. Tại sao người cộng sản không có được sự phải chăng?..."[Dương Nghiễm Mậu, sđd]

          Dương Nghiễm Mậu phải phân trần dài dòng như thế cho đám nằm vùng và đám Ngô Bá Thành cùng Huỳnh Tấn Mẫm hiểu rằng họ đang tự treo cổ mà không biết. Bên cạnh Dương Nghiễm Mậu, Phan Nhật Nam không những khoan dung với "thù ngoài"-người lính Miền Bắc mà còn với cả "thù trong"-đám "trí thức nằm vùng phá hoại Miền Nam với những mơ mộng xuẩn ngốc về khả năng lãnh đạo và tham vọng chính trị của họ. Tôi còn nhớ lần đầu "thấy" Phan Nhật Nam, quân phục đại úy, tươi cười trong một bức ảnh trắng đen lớn trong Hồ sơ Ủy Ban Văn Nghệ sĩ - Bị Cầm tù, Văn bút Việt Nam Hải ngoại. Sau khi nhận Trưởng Ủy Ban thay Trung Tá Không quân Trần Tam Tiệp, tôi phải tìm đọc tác phẩm của tác giả Miền Nam đã và đang bị cầm tù. Tôi vẫn coi Tù binh và Hòa Bình  không những thuộc quân sử Việt Nam Cộng Hòa mà còn lịch sử Chiến tranh Việt Nam vì tường thuật đầy đủ về các buổi họp--những buổi đấu trí nhắm giữ danh dự cho một Việt Nam Cộng Hòa đang tiến dần vào địa ngục-- của các Ban Liên Hợp Quân Sự Trung Ương 4 & 2 Bên. Đây là một cuốn sách đầy ắp sự kiện, ghi lại phát biểu của cả hai bên nên tôi tin là trung thực. Như Dương Nghiễm Mậu, Phan Nhật Nam coi chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến tự vệ: "...chúng tôi phải tự vệ để sống còn..." [Mùa hè đỏ lửa, trang 131, Nhà Xuất bản Sáng Tạo, Sài gòn, 1972]. Sau 14 năm tù với hơn 8 năm kiên giam, ông định cư tại Hoa Kỳ vào năm 1993.

 

·        Người lính-Viết Văn Phan Nhật Nam, Hoa Kỳ phúc đáp Hữu Thỉnh, Chủ Tịch Hội Nhà Văn Việt Nam, Việt Nam

          Gần đúng 25 năm sau, ngày 9.9.2017, Phan Nhật Nam cho phổ biến công khai lá thư từ chối lời mời của nhà thơ Hữu Thỉnh-Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam hầu tham dự "cuộc hội ngộ" (sic) của "Hội Nhà văn Việt Nam với các nhà văn Việt Nam đang sống và làm việc tại nước ngoài" (sic). Cuộc "hội ngộ" tại Hà Nội chứ không phải một cuộc tao ngộ chiến tại An Lộc nhé! Lời mời tới Tô Thùy Yên cũng  được rao truyền trên báo Người Đô Thị ngay trong khung kèm vào bài viết thượng dẫn của Ý Nhi:

          -"... Tô Thùy Yên là một trong số các nhà văn hải ngoại vừa nhận được lời mời về nước tham dự  'một cuộc gặp mặt nhẹ nhàng và ấm áp'  với các nhà văn trong nước dự định tổ chức vào hạ tuần tháng 10 tại Hà Nội." [Ngày 7.10.2017, https://nguoidothi.net.vn/to-thuy-yen-thuc-cho-xong-bai-tho-10186.html]

          Đúng là "Giặc đánh lớn - mùa mưa đã tới" [Tô Thùy Yên, Qua sông] !Tôi không hiểu Tô Thùy Yên vấn đáp ra sao nhưng chắc lời mời cũng tương tự như "cùng ngồi lại với nhau trong tình đồng nghiệp" của Hữu Thỉnh. Hai chữ  này chỉ định "đồng nghiệp nhà văn", có lẽ không thể ám chỉ "đồng nghiệp đang ngồi tù mút mùa lệ thủy" hay "đồng nghiệp Miền Nam còn ở lại Việt Nam" hay "đồng nghiệp lính cũ Miền Nam ngồi tù còn ở lại Việt Nam". Bức thư của Hữu Thỉnh có những lý luận kiểu "Nói điều ràng buộc thì tay cũng già" [Nguyễn Du, Truyện Kiều], khéo nhân danh mọi sự tốt đẹp trên đời, nhưng hình như ông chưa đọc Tù Binh và Hòa Bình. Phan Nhật Nam đã hiểu quá rõ Đảng Cộng sản và những người thừa hành của Đảng.

          Mở đầu bức thư, Phan Nhật Nam tự giới thiệu "nguyên là một sĩ quan cấp Đại Uý Hiện Dịch Thực Thụ thuộc Sư Đoàn Nhảy Dù Quân Lực VNCH". Bởi thế, ông phúc đáp "Từ vị thế một quân nhân thuộc đơn vị tác chiến của Quân lực Miền Nam". Nghĩa là ông triệt tiêu hy vọng của Hữu Thỉnh-Nhà nước Cộng sản khi phản bác luận điệu nhân danh "Dân tộc" (sic), "thiên chức nhà văn" (sic), "giá trị bền vững của tâm hồn Việt" (sic)  bằng cách nhân danh một người lính Việt Nam Cộng hòa hầu công khai chất vấn Hữu Thỉnh về cách đối xử bạo ngược với "nhà văn", với "ngụy quân", với dân- tộc Miền Nam còn sống đã đành mà cũng không tôn trọng giá- trị- bền- vững-của- tâm- hồn -Việt khi truy diệt thương phế binh và tử sĩ Việt Nam Cộng hòa.

          Ông xác nhận một lần nữa về tư cách "Người Lính-Viết Văn. Cũng bởi tôi chưa hề nhận Chứng Chỉ Giải Ngũ của Bộ Quốc Phòng/VNCH cho dù đã không mặc quân phục từ 1975." Y sĩ Đại Úy Ngô Thế Vinh chỉ chút nữa thì biến thành quân sư quạt giấy một cách oan uổng khi góp ý: "...nhưng Hữu Thỉnh mời Nam với tính cách một Nhà Văn chứ không phải một người lính của Miền Nam." [Ngô Thế Vinh, Phan Nhật Nam và những chấn thương không chảy máu, Ngày 30. 7.2018,https://www.voatiengviet.com/a/phan-nhat-nam-mua-he-do-lua-ngo-the-vinh/4505848.html (4) ]

          Ôi, tưởng thế thì dễ lọt hầm Củ Chi quá. Cái vòng hoa "Nhà Văn" do Hội Nhà Văn quàng lên cổ thì có đáng gì mà quan tâm. Cái mà Hội  Nhà Văn quan tâm  ở đây là bộ quân phục người lính Việt Nam Cộng hòa của Đại Úy nhiệm chức Phan Nhật Nam. Bức thư phản bác này còn xác định một điều mà tôi đã chắc chắn từ đầu. Người Miền Nam không hề có lòng hận thù:       

          -"Xin hãy 'Hòa Hợp Hòa Giải' với những người đã chết. Với những người đang sống sau thảm hoạ Formosa, Nghệ An. Hãy hoà hợp hoà giải với “Khúc ruột ở trong nước” trước. Khi ấy không cần mời, chúng tôi “Khúc ruột ngàn dặm” sẽ về. Về rất đông. Người Viết Văn–Lương Tri và Chứng Nhân của Thời Đại sẽ về. Tất cả cùng về Việt Nam." [Ngô Thế Vinh, "Thư Phan Nhật Nam trả lời Chủ tịch Hội Nhà Văn Hữu Thỉnh", Phan Nhật Nam và những chấn thương không chẩy máu]

          Chính Hữu Thỉnh cũng công nhận nhà thơ Thụy Kha sang Hoa Kỳ có gặp Phan Nhật Nam "cùng nhau uống bia vui vẻ. Đây quả là một sự kiện bất ngờ thú vị." Có gì mà bất ngờ, thú vị hay không? Thỉnh thoảng, chính tôi cũng gặp anh chị em "ở bển" sang đây tìm gặp. Có ...đổ máu hồi nào đâu?! Toàn là đổ rất nhiều rượu và rất nhiều cà phê thôi. Tôi thấy có vẻ nhà thơ Hữu Thỉnh cũng như nhà thơ Ý Nhi không hiểu gì mấy về dân Miền Nam, nói chi tới lính Miền Nam.


 

1.1.2 Mang lời thề lên miền sơn khê/từng đêm địa đầu hun hút gió sâu-

Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh/ca sĩ Nhật Trường

 

          Chiến tranh Việt Nam in đậm trong Văn Học Miền Nam và Tô Thùy Yên không phải là một trường hợp ngoại lệ.

          Phần hiện hữu của Tô Thùy Yên như một người lính và hậu quả của đời lính đó, đều đặn hiện ra khi tỏ khi lu, nhưng không thể từ chối được. Do đó, rất khó để kết luận một cách rất giản dị và ung dung như Ý Nhi đã quả quyết: "Chắc chắn, nếu không có cuộc 'khai giải' trong tâm tưởng ấy, không có cuộc khai giải tự lòng mình ấy, không thể có hình ảnh người tù..." [Ý Nhi, sđd]

          Thú thật, tôi rất muốn mà chưa được thuyết phục vì hai bài thơ thượng dẫn khác nhau xa, cả từ hoàn cảnh chiến tranh, hậu quả sau chiến tranh lẫn ý nghĩ của tác giả lúc đó. Điểm nổi bật ở đây: Hai người lính thù địch đại diện cho hai vị trí cá nhân nhưng cân bằng lực lượng cũng cá nhân trong Chiều trên Phá Tam Giang. Ngược lại, Ta Về nghiêng hẳn theo vị trí sinh sát của một tổ chức nắm quyền tuyệt đối trên một tập thể bị-sinh sát trong đó có tác giả. Ở trường hợp thứ nhất, cái chết của bất cứ bên nào cũng có thể kết thúc cuộc gặp gỡ không do họ quyết định. Ở trường hợp thứ hai, sự tàn phá vượt qua cái chết Ở đây địa ngục chín tầng sâu/Cả giống nòi câm lặng gục đầu/ Cắn chết hàm răng, ứa máu mắt,/Chung xiềng nhưng chẳng dám nhìn nhau hay những sự kiện như Cho đeo bảng dong đi khắp phố/Bắn bỏ bên đường, cấm nhận thây là những sự kiện thuộc về lịch sử.

          Khi đọc Chiều trên Phá Tam Giang, đó là tôi đọc Thiếu Tá Tâm Lý chiến Tô Thùy Yên--mặc quân phục, đeo lon, đội mũ sắt, ngồi trên trực thăng--làm thơ. Thế nên hai chữ "bay là" trong Chiếc trực thăng bay là mặt nước thật đắc vị. Máy bay phản lực thì không cách gì "bay là" được, trừ phi bị trúng đạn rồi cố "bay là mặt đất". Tôi đã được phép tháp tùng Thiếu Tá Bộ Binh V. Kh.--người hùng Rừng Sác, cao 1m80, có đôi mắt rất đẹp mà bọn tôi gọi đùa là "mắt phượng", sau 1975 bị chính phủ Cộng sản giam hơn 10 năm, hiện định cư tại Miền Đông Hoa kỳ--trên một chiếc trực thăng khoảng năm 1973. Tôi còn đã "quá giang" một chuyến máy bay quân sự, (nghe đâu) bị bắn trúng và phải quay lại đáp xuống khẩn cấp, nên có thể bàn về 2 trường hợp này. Tôi còn nhớ cảm giác lúc ấy: Chiến tranh tràn ngay vào một khoảng không gian rất nhỏ trong trực thăng. Hãy tưởng tượng đang ngồi trong một khối sắt rỗng, đại diện cho nền văn minh cơ khí; với tiếng động của cánh quạt và súng đạn ngay bên cạnh, đại diện cho nền văn minh phá hủy. Tôi không phải người yếu bóng vía vì đã tới những nơi giao tranh có giao thông hào nhưng lập tức nghĩ ngay đến một cách chết, hoặc rơi từ trên độ cao vô cùng xuống độ sâu thăm thẳm; hoặc vì bom đạn bất dung hệt như Tô Thùy Yên đã có cảm tưởng. Sự mỏng manh của con người da mềm thịt nóng trực diện với nỗi chết bằng sắt lạnh theo tốc độ trong một tích tắc. Nghĩa là tác giả của nó đã làm thơ từ một phần sống khi mặc áo lính.    

          Bài Chiều trên Phá Tam Giang cũng bầy tỏ sự bất lực của con người dù chân thành tới đâu trước một thiên nhiên bất biến hầu như thách đố sự trực diện sống mái giữa 2 kẻ thù nghịch. Bài thơ này xuất hiện năm 1974 trên Thời Tập của Viên Linh nhưng tháng năm ghi dưới bài thơ--cả trong cuốn Thơ Tuyển, Hoa Kỳ, Thu 1995--là tháng 6, năm 1972.

          Lúc ấy, ván cờ chưa ngã ngũ. Quân đội Việt Nam Cộng hòa, với sự hỗ trợ của Không quân và đầy đủ đạn dược với sự hợp tác của dân chúng, đã phản công vào năm 1972 trên nhiều mặt trận, khiến đoàn quân hùng hậu của Tướng Võ Nguyên Giáp và Bộ Tham mưu cùng xe tăng, đại pháo bị tan tành không còn mảnh giáp. Riêng trận An Lộc đã kéo dài khoảng 3 tháng, bắt đầu tháng 4 và chấm dứt vào đầu tháng 7. 1972. An Lộc vẫn đứng vững. Lần tấn công và bại trận một lần nữa của Miền Bắc sau vụ Mậu Thân cho thấy sự thắng thế của họ vào 3 năm sau (tháng 4 năm 1975) không nhờ sức mạnh hay tài điều quân khiển tướng mà giản dị chỉ nhờ Miền Nam đã bị trói tay khi không còn vũ khí đạn dược.

 

Tô Thùy Yên, Chiều trên Phá Tam Giang, Tháng 6.1972, trang 38-39 (trang 35-trang 39),

Thời Tập [Viên Linh chủ trương], Ngày 14.2.1974, Sài gòn

 

            Nếu căn cứ trên Thời Tập, bài thơ này dài khoảng 4 trang, trong đó có hẳn 1 trang về một người tình tại Sài Gòn. Ông không phải là một người lính hiện dịch, nhưng cung cách vẫn là của một người lính chuyên nghiệp trong 12 năm "ở lính". Như đã chứng minh, Nguyễn Bắc Sơn đã đi trước và được xem như nhà thơ của Chiến tranh Việt Nam. Tô Thùy Yên nhận xét về thơ chiến tranh của ông như sau: "Tôi có làm vài bài thơ về chiến tranh và những bài thơ đó thật sự chẳng nói được bao nhiêu so với những điều tôi đã thấy và muốn nói" [Nguyễn Mạnh Trinh thực hiện, "Nói chuyện với Tô Thùy Yên", Hợp Lưu số 24, trang 168, Tháng 8&9. 1995-Chủ biên: Khánh Trường & Phụ tá: Phan Tấn Hải]

          Kế đó, khi đọc Ta Về, đó là tôi đọc người tù Tô Thùy Yên làm thơ. Gần đúng 13 năm sau Chiều trên Phá Tam Giang. Tháng 7.1985, Tô Thùy Yên trở lại với Ta về.  Mười năm tù. Rã rời. Không còn ảo tưởng về một cuộc cầm cự bất phân thắng bại. Cuộc đối đầu đã phân định ai nắm sinh mạng ai. Cuộc sinh tồn thảm thiết trong tù và ngoài tù Đã mấy năm quằn quại đói thay đổi giọng thơ từ một người hầu như bất cần sống Chuyện cũng thành vô ích, tới một kẻ nuối tiếc quá khứ Mười năm, cây có nhớ người xa, tri ân sự sống long lanh trên từng sinh mạng quanh mình. Ta Về dành cho chính ông sau khi đã đối mặt chủ nghĩa Cộng sản trên thực tế, không cần phải tưởng tượng nữa. Ông đã học bài đó, sau khi "tai ương" (nhân tạo!) -- mượn lời "con oanh học nói trên cành mỉa mai" Ý Nhi-- ập xuống, không chỉ cho riêng ông mà cho toàn dân Miền Nam. Ở Chiều trên Phá Tam Giang, cùng lắm thì chỉ thân ông thiệt mạng. Nào có chi đáng kể. Sau 1975, cái tai ương nhân tạo ấy đã khiến hàng trăm ngàn người thiệt mạng và cả triệu triệu người khốn đốn, neo lại một chấn thương dân tộc đến nay vẫn chưa giải quyết xong và hằn một vết sẹo khi ông tự tử không thành lên cườm tay Tiếng rú hãi dung nham lũ đọng trong chàng một vùng sẹo bất an.

          Bởi thế, ông có thể thay đổi nhân sinh quan từ một người lính kiêm một nghệ sĩ chiến đấu chống Cộng Sản sang một nhà thơ an phận không rao giảng chống cường quyền hay không thể "kiểm duyệt" Thành phần Thứ Ba nữa. Chính vì thế, tôi cảm thấy rất khó mà liên kết hai (trong nhiều) bài thơ thượng dẫn giúp phần tôn vinh nhà thơ thành hành giả-kiêm tri cảm của một người lớn (một- người -lớn?!) kiêm một nhà thơ lớn. Ông chỉ có thể Giải oan cho cuộc biển dâu này cho bản thân. Cuộc biển dâu của bao nhiêu sách vở hay tác giả Miền Nam thì sẽ không bao giờ giải oan được. Hai bài thơ đó cũng không thể tẩy trắng hết những "tai ương" gieo trên Miền Nam. Và không chỉ từ người lãnh đạo Cộng Sản mà đừng quên rằng còn cũng từ một số người tập kết, nằm vùng. Họ cùng nhau chia phần làm thực dân mới trên toàn Miền Nam, từ kinh tế, đất đai, giảng đường đại học tới diễn đàn văn nghệ.

          Tôi chỉ cần đưa một thí dụ: Ai đã thay thế Linh mục Thanh Lãng tại Đại học Văn Khoa? Đã chiếm Đại Học Văn Khoa? Đã ngăn ông giảng dậy và soạn sách  trong bao nhiêu năm, cho tới khi ông qua đời? Đã trầm hà bao nhiêu tác phẩm và tài liệu nghiên cứu của ông? Vâng, tôi chẳng cần giấu giếm mà đặt những câu hỏi này cũng để tưởng nhớ một vị thầy tận tụy và lỗi lạc. Thanh Lãng đặt tên cho tôi là Nguyệt Lãng, rồi hết lòng hướng dẫn vào ngành phê bình một cách gián tiếp dù không học Văn Khoa. Giáo sư Hoàng Như Mai, Chủ tịch Hội Nghiên cứu và Giảng dậy Văn học thuật lại nguyên văn lời thê thiết của Thanh Lãng sau nhiều năm bị đẩy sang một lãnh vực khác:

          -"Tôi khi ở Pháp chỉ chuyên nghiên cứu văn học Việt Nam; về nước, tôi dồn tất cả công sức vào công việc viết sách và đào tạo sinh viên Văn khoa. Nhưng 14 năm qua, tôi không có điều kiện làm văn học nên sang làm ngôn ngữ học. Nay quý anh gọi tôi ra làm văn học chẳng khác nào đã chôn dưới đất lại được moi lên, quý anh cần dùng vào công việc gì tôi xin tận lực." [Thanh Lãng, 13 năm Tranh luận Văn học, "Lời nói đầu-Giáo sư Hoàng Như Mai", Nhà Xuất bản Văn Học, Sài gòn, 1995]

          Nhà nước Cộng sản đã thành công trong việc xóa tan dấu vết của Thanh Lãng, một nhà biên khảo và phê bình, hoạt động văn hóa xã hội lừng danh của Miền Nam. Ngày nay, rất khó tìm được tin tức của ông hay về ông. May mắn thay, sách biên khảo của ông đã được nhiều người tại hải ngoại cho lên mạng, nhưng tiểu sử tác giả thì vẫn còn thiếu. Ngay cả ngày qua đời của ông cũng bị viết nhầm. Điều cay đắng và đau đớn ở đây là tất cả những điều đó đã xẩy ra cho một người từng tố cáo Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa hầu cứu vớt những cán bộ văn hóa nằm vùng, nghĩa là rất lịch sự với Miền Bắc. Chỉ một câu hỏi ấy thôi đã quá đủ.

          Bởi vậy, tôi muốn lập lại: Đừng lãng mạn hóa văn chương khi ngay chính văn chương là nạn nhân. Cũng đừng nhập nhằng tình huynh đệ thế giới hay tình nhân ái nhân loại với tội ác Cộng Sản. Tô Thùy Yên đã phát biểu như sau tại Tòa soạn Khởi Hành-Bộ Mới, 2004:

          -"Những người như Dương Thu Hương, Trần Độ chỉ muốn làm chế độ đẹp hơn, xây cái nhà Cộng sản cho hấp dẫn hơn để dụ người khác vào, chớ chẳng phải là phá xập nó đi, mà theo họ là lầm. Dĩ nhiên khi mình đứng ngoài căn nhà Cộng sản đó khi thấy họ chống đối thì cũng phải vỗ tay nhưng đừng nhầm phản kháng Cộng sản với family squabbles..."

 

Từ trái qua phải:
nhà văn Trang Luân, nhà phê bình Trần Văn Nam, nhà thơ (Thiếu Tá Không quân-17 năm tù) Trần Thúc Vũ, nhà thơ (Thiếu Tá Tâm Lý chiến-10 năm tù) Tô Thùy Yên

Họp mặt [có thêm Viên Linh Nguyễn Tà Cúc] tại Tòa soạn Khởi Hành-Bộ Mới, Santa Ana, California, 2004

 

            Thế nên, viết về một nhà thơ rất phức tạp như Tô Thùy Yên không phải dễ, nhưng giải mã được các mâu thuẫn hay biến chuyển theo từng giai đoạn thượng dẫn cho công bằng sẽ là bước đầu cho một thành công không nhỏ của bất cứ ai muốn nghiên cứu riêng Thơ ông. Ngoài ra, Bút ký chiến trường & Văn cùng 3 tập thơ do tác giả phát hành sau 1975, bên cạnh tiểu sử quân nhân song hành với nhà thơ, sẽ giúp giới phê bình tương lai quyết định vị trí của ông trong Thơ Miền Nam một cách chính xác. Sự chính xác ấy sẽ tùy thuộc phần nào vào tiểu sử với Cục Tâm lý chiến, nghĩa là với Quân lực cùng vô số binh sĩ Việt Nam Cộng hòa đã hy sinh cho một nền văn nghệ từng nuôi dưỡng nhà thơ. Phần Tiểu sử ấy không dễ gì bỏ qua, thí dụ như truyện ngắn "Người bạn đồng hành". Ông ca ngợi người lính Việt Nam Cộng hòa có "nét thần thánh của một pho tượng Hy La" qua nhân vật "hắn" (học cao đọc rộng) khoảng 23, 24 tuổi trên một chuyến xe đò về Sài gòn. Giữa đường, hành khách bị một nhóm Việt Cộng chặn lại khám xét. Nhân vật "hắn" tuy không mặc áo lính kèm một căn cước giả, nhưng rơi vào bẫy của gã trưởng toán Việt Cộng nên bị lộ. Đoạn kết của truyện như sau:

          "[...] Viên sĩ quan vẫn bình thản, thật khó lòng đoán được hắn đang nghĩ gì lúc đó. Thỉnh thoảng một vài gã Việt cộng lại đến đứng trước mặt chúng tôi lên đạn rắc rắc. Có tiếng một bà cụ già lâm râm khấn vái Phật Trời cho tai qua nạn khỏi. Thời gian bất tỉnh trong sự chờ đợi hãi hùng. Bỗng gã trưởng toán Việt cộng bất thần hô to như một tiếng sét ran: 'Nghiêm'. Hành khách không hiểu chuyện gì, phản ứng lại bằng sự ngơ ngáo. Duy có viên sĩ quan giựt mình vì tiếng hô đó, và như một cái máy, đứng dụm đôi chân lại, hai chiếc giày đánh cụp vào nhau. Cử động chớp mắt đó không thoát khỏi cái nhìn chờ đợi của gã trưởng toán. Gã bước sấn lại gần người thanh niên, mỉm cười tinh quái và vỗ vai khen: Đúng là một quân nhân kiểu mẫu.  Rồi gã đẩy hắn ra khỏi hàng. Hai tên khác xông lại chỉa súng vào người hắn. Gã trưởng toán hỏi với một giọng đắc chí, bề trên 'Cấp bực gì?' Tôi nghe như một khối nặng đè lên lồng ngực. Người thanh niên ngẫm nghĩ không lâu rồi đáp, giọng chắc nịch: 'Thiếu úy'. Lúc nói, hắn đứng thẳng người, mặt hơi ngửng lên và ánh sáng đỏ thẫm cuối cùng của buổi chiều vỗ vào mặt hắn những đường nét thần thánh của một pho tượng Hy La. Trong đời tôi, tôi chưa từng gặp người trai trẻ nào đẹp như hắn chiều hôm đó." [Tô Thùy Yên, "Người bạn đồng hành", Văn Nghệ, Số 18, trang 37-38, Tháng 11.1962-Chủ nhiệm Lý Hoàng Phong]

          Đó cũng là quân nhân Tô Thùy Yên, người tường thuật về "Trận đánh mở màn Chiến dịch Đông Xuân" của Việt Cộng tại Lộc Ninh vào năm 1967. Lần khác, trong quân phục Việt Nam Cộng hòa, ông cùng nhà văn-phóng viên chiến trường Dương Nghiễm Mậu tới thăm Thới Bình, U Minh Thượng, Cà Mau vào khoảng 1965-1966:

Tạp chí Nghệ Thuật, Số 45, Tháng 8. 1966

 

            Lộc Ninh rồi U Minh, tương tự như  huyện Thới Bình, U Minh Thượng...mang danh các đấu trường giữa toán Việt Cộng võ trang với viên sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa trẻ tuổi. Những địa điểm hẻo lánh khác, đại diện không chỉ cho chiến tranh Việt Nam, mà còn đại diện cho Văn học Miền Nam ở hai điều Đảng Cộng sản không muốn nhắc đến. Thứ nhất, sự thất bại trong việc lôi kéo người dân về phía họ. Họ tràn tới đâu, người dân bỏ chạy tới đó dù có đắp mô phục kích hay bắn xả vào. Thứ hai, Văn học Miền Nam chứa rất nhiều tác phẩm chống Cộng Sản từ nhiều văn nghệ sĩ quân nhân. Nhóm Sáng Tạo không phải là nhóm duy nhất hội đủ 2 điều kiện này.

          Theo tôi, bức thư gửi nhà văn  Miền Nam tỵ nạn tại hải ngoại của Chủ tịch Hội Nhà Văn Hữu Thỉnh và bài "Thức cho xong bài thơ" về Tô Thùy Yên của nhà thơ Ý Nhi có khác gì nhau lắm đâu. Theo tôi, họ lại còn rất giống nhau ở chỗ cố tình hay vô ý đồng hóa thảm kịch của dân Miền Nam trong tay Chính quyền Cộng sản thành những bi kịch cá nhân.

 

 

1.1.3      Chinh chiến quả là thêm tiếc hận/Hòa bình liệu có hết thương đau-

Nguyễn Sỹ Tế

 

          Mọi tác phẩm, gồm cả hồi ký của thường dân, ghi lại chính sách của Cộng Sản dành cho dân Miền Nam sau 1975 thì không chỉ chứa đựng kinh nghiệm riêng của tác giả nữa. Khúc hát Gia Trung (Nguyễn Sỹ Tế-Ông bị giam tại Gia Trung, trại tù dành cho quân cán chính VNCH sau 1975), hay các bài Mùa Hạn, Nỗi Đợi đều ghi lại dấu vết một thời đại trong lịch sử nước nhà. Đó là lý do khi đọc những bài như bài thượng dẫn của Ý Nhi, tôi vẫn cảm thấy có mấy điều không ổn. Có lẽ điều-không-ổn ấy nằm ở chỗ đã bàn đến: Tô Thùy Yên không chỉ có Thơ, và không chỉ cầm bút mà còn cầm súng.

          Khi mới quen, Tô Thùy Yên và tôi đều có một ấn tượng rất mù mờ về nhau. Khi ông có vẻ đối xử với tôi như một thiếu phụ tập tễnh vào văn nghệ nên dễ bị rù quến bằng lời thơ, tôi phải "cảnh cáo" bằng cách thuật lại kinh nghiệm về chiến tranh. Tôi đã ghé qua những thành phố bị tàn phá, nhìn thấy những hố bom ngập nước, yên lặng trước xác đàn bà trẻ con gục chết trong hầm. Vài lần, có mặt ở xã ấp xa xôi, thức cả đêm nghe tiếng khóc rú của vợ con người lính khi nghe tin chồng cha tử trận. Tôi lại có một thứ ác-cảm-phản-xạ với các anh thi sĩ "dài lưng tốn vải ăn no lại làm thơ" phó mặc chuyện kiếm tiền cho người khác. Tôi càng không thuộc loại người vợ hiền-kiêm người mẹ hiền- kiêm Bà Bồ Tát càng [giả vờ] hiền hơn hầu phục vụ các ông nhà thơ. Vì lỡ thi sĩ Bùi Giáng mà biết được cái kiểu Mẹ-Con ấy mà giáng cho 2 câu: Con về giũ áo đười ươi/Nực cười ...Tà Cúc ngậm ngùi mẫu thân thì hết đường làm thơ Anh sẽ vì em làm thơ tình ái [Trần Thiện Thanh]

          Phần tôi, tôi cứ tưởng ông thuộc loại lính kiểng nên ... khinh thường ra mặt. Một người như tôi, từng nhẩy lên trực thăng không cần đỡ và từng thoát thân khỏi một chiếc máy bay bốc khói khét lẹt, thì rất khó mà bị qua mặt như các "nàng thơ" đầu 2 thứ tóc mà vẫn tin Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng (Nguyễn Bính). Ông hiểu ra nên kể cho tôi nghe mấy lần "đụng trận" có lẽ suýt chết. Khi không còn "đụng trận" ở chiến trường, ông vẫn "đụng trận" tại một nơi khác: Cuộc chiến tuyên truyền. Đó chính là nơi ông đã "kiểm duyệt" Trịnh Công Sơn một cách rất khéo léo.   

          Bài thượng dẫn của Ý Nhi còn là một trường hợp điển hình khi xây dựng hình ảnh Thơ của ông một cách quá giản dị bằng cách "bình giảng" theo những câu thơ được chọn sẵn hầu  phù hợp với một tiêu đề nào đó. Như tiêu đề thứ 3:

          -"3. Câu thơ soi mệnh viết mà khóc

          Vào năm 1972, trong bài thơ Bất tận nỗi đời hung hãn đó, nhà thơ từng cầu ước được một lần thấu suốt Định mệnh của mình, được một lần nhìn thấy toàn cảnh những con đường mình sẽ đi. Nhưng, vẻ như, ông đã không được toại ước, không thể biết rằng, chỉ vài ba năm sau đó, đã phải đặt chân lên đoạn đường tàn khốc của đời mình: “Đất ta, ta giẫm mà ghê chân”... Đó là thời của những Mùa hạn: mùa hạn của trời đất, mùa hạn của thể xác, của tâm tưởng [...] Có thể vị Hành giả đã không thể hiểu hết những dòng lược sử của mình (Thoáng nhớ có lần ta đọc trộm / Lược sử ta trong bí lục nào / Vănnghĩa mơ hồ không hiểu trọn / Thiên thu lóe tắt vệt phù du) để biết được rằng: Định mệnh buộc người phải trải qua những khổ nạn này, như một thử thách. Một lò luyện. Nhưng, ông đã đi qua, tự giác đi qua. Với con người ấy, những oan khiên, những mất mát, những khổ lụy của cá nhân không làm lụi tắt tình yêu thương bất tận với đồng loại, không làm lụi tắt nỗi lo âu nhân thế. Chính trong cái Mùa hạn kinh hoàng ấy, trong cảnh tù đày khốn khổ ấy, những câu thơ vẫn bật lên ánh sáng nhân ái kỳ diệu nhất mà con người có thể có được..." [Ý Nhi, sđd]

          Tôi phải mạn phép tác giả và độc giả in đậm những câu trên để cho thấy những điều suy nghĩ sau đây về "định mệnh" mà bà sử dụng để giải thích Thơ Tô Thùy Yên.

          Trước hết, có chắc ông phó mặc vào "định mệnh" như cách diễn giải nêu trên không? Chưa chắc. Tôi không cần nói tới cách nhìn thơ ông theo ý tôi. Tôi chỉ cần trưng dẫn một trong vài thí dụ nhắm cho thấy chính ông muốn hy sinh "mạng sống"--nghĩa là quyết định của chính ông chứ không phải của "định mệnh"--hầu bảo vệ nhân phẩm bằng Thơ dù tuyệt vọng:

      -"[...] Đặc biệt, trong những tình huống cực kỳ chông chênh, nghiệt ngã, sinh tử mà chính con người đã bị đày đọa dìm đắm vào đó, bị đặt để trước nguy cơ thường trực của sự trấn lột chính cái nhân phẩm còn sót lại của mình, thơ, hơn bao giờ hết, đã chứng tỏ một cách mãnh liệt cái khả năng siêu tuyệt gần như là tôn giáo của thơ. Trong những tình huống đó, rất nhiều con người đã nương tựa vào thơ, để mà gìn giữ lấy mình, để mà sống sót với tư cách là con người, gầy dựng cho chính mình và cho cả bằng hữu cùng cảnh ngộ một thế giới ánh sáng, một thế giới niềm tin giữa một thế giới tối tăm, cùng mạt và hủy diệt. Ở đây, tôi không hề muốn nói gì thêm về cái thế giới tù đầy mà chúng tôi đã đau đớn đi qua. Ở đây tôi chỉ muốn nói thêm về cái bản chất của thế giới tù đầy đó. Trong thế giới đó, những con người thất trận của một cuộc chiến, một cuộc chiến đã tạm thời phải ngã ngũ như vậy đó, những con người bất hạnh đã bị tước đoạt gần như tất cả mọi sở hữu tối thiểu của mình từ đất đứng danh vị, thậm chí đến cả sinh mạng của mình, chỉ còn lại mỗi một phần duy nhất tạm thời chưa thể bị tước đoạt hoàn toàn, đó là nhân phẩm, và niềm tin của chính mình. Chúng tôi, mỗi người một cách, đều phải ý thức một cách rõ ràng rằng đó mới chính là nỗi sinh tử cốt tủy, đích thực của chính mình, rằng không thể để cho con người trong chúng tôi bị bức tử ô nhục, rằng đó chính là cái phần mà chúng tôi bắt buộc phải gìn giữ bảo vệ bằng mọi giá, kể cả bằng mạng sống của mình...[Tô Thùy Yên, "Tâm thức khuất dạng của thơ"* Bài nói tại Seattle Public Library ngày 26 -7-1997. Nhan đề và phân đoạn do Khởi Hành đặt, Khởi Hành số 22, trang 8, Tháng 8. 1998)]

          Do đó, Ý Nhi có thể bàn tới "định mệnh", nhưng tôi nghĩ quả là một sự vô nghĩa nếu so sánh với chính lời chứng của Tô Thùy Yên, khi ông xác nhận được "nỗi sinh tử cốt tủy"  khiến "không thể để cho con người trong chúng tôi bị bức tử ô nhục" không chỉ cho riêng ông " mà còn "gầy dựng cho chính mình và cho cả bằng hữu cùng cảnh ngộ". Hậu quả của "một cuộc chiến đã tạm thời phải ngã ngũ như vậy đó" rất khó được trùm lên bằng hai chữ "định mệnh", kiểu "Định mệnh buộc người phải trải qua những khổ nạn này, như một thử thách. Một lò luyện...." [Ý Nhi, sđd]

          Sau nữa, nhiều đoạn thơ tố cáo tội ác của Cộng sản và cực tả thảm kịch Miền Nam, như trong Mùa Hạn Tàu Đêm do chính bà dẫn ra, không chỉ dành cho tác giả mà dành "cho cả bằng hữu cùng cảnh ngộ". Đó là 2 bản cáo trạng tố cáo tội ác Cộng sản với dân Miền Nam:

Ở đây địa ngục chín tầng sâu

Cả giống nòi câm lặng gục đầu

Cắn chết hàm răng, ứa máu mắt

Chung xiềng nhưng chẳng dám nhìn nhau

…Nước khe, cơm độn, thân tàn rạc

Sống chẳng khôn, cầu được thác thiêng

…Sông hồ nẻ đáy, giếng vô vọng

Muôn thú điên lầm lũi bỏ đàn

          Không, một địch thủ quá nhiều thủ đoạn được Khối Cộng Sản Thế giới giúp đỡ tận tình mới buộc được người Miền Nam bó tay chứ không phải "định mệnh". Vài câu trong hồi ký của sử gia Tạ Chí Đại Trường sẽ góp phần cho biết như thế. Ông bị tù sau 1975, có lúc cùng chỗ với Nguyễn Sỹ Tế:

          -"[...] Khi dần dần chúng tôi đọc thấy được ở đâu đó trong những bài báo, sự thú nhận về số tiền, số gạo viện trợ từ khối xã hội chủ nghĩa, những điều nói về các nhà máy được Liên Xô xây dựng dùng đến 80, 90 % nguyên liệu từ Đông Âu đưa đến thì chút ảo tưởng còn sót lại đã tan vỡ hẳn và từ sự khinh miệt 'Vương quốc lừa dối'..." [Tạ Chí Đại Trường, Một khoảnh Việt Nam Cộng hòa nối dài, trang 179, Thanh Vân xuất bản, 1993, California, Hoa Kỳ]

          Dĩ nhiên tôi không ám chỉ Ý Nhi thuộc "Vương quốc lừa dối" [có hay không sẽ trở lại ở một bài khác với tài liệu cho công bằng], nhưng, bởi thế, Không, không chỉ Tô Thùy Yên mà mấy chục triệu dân Miền Nam đã "phải đặt chân lên đoạn đường tàn khốc của đời mình".

          Không, đó không là "mùa hạn của trời đất" mà phải là "mùa hạn" lòng nhân của một chính quyền hà khắc Treo ngược con đen trên lửa đỏ khiến tạo thành "mùa hạn của thể xác" Máu bung từ mỗi lỗ chân lông, khiến gây nên "mùa hạn" của "tâm tưởng" Đầu ta như chiếc đầu lâu cổ/Trống rỗng không khô khốc nặng nề

          Không, không phải "Định Mệnh" mà Chính quyền Cộng sản đã giam giữ nhà thơ cùng hàng trăm ngàn dân, đầy đọa họ ra Vùng Kinh tế mới, chia lìa gia đình, bức bách đến nỗi họ phải vượt biển vượt biên rồi chết oan, bị hãm hiếp hàng loạt.  

          Định mệnh nào hay Chính quyền Cộng sản đã liên tiếp giáng xuống Miền Nam những đòn trí mạng:

Người mẹ trẻ buồn đôi mắt trũng

Thân gầy nhom, tóc cháy, da cằn

Địu con, một nhúm thịt nhăn nhúm

Ra ruộng khê tìm mót cái ăn

…Làng mạc giờ đây đã trống trơn

Con dê, con chó cũng không còn

Người đi bỏ xác nơi bờ bụi

Miếu sạt, thần hoàng rũ héo hon [Tô Thùy Yên, Mùa Hạn]

          Hay đã khiến bao nhiêu người dân Miền Nam mất người thân trên biển:

Trăm họ lần lượt bỏ xứ trốn.

Biển thì hung hãn, thuyền mong manh

[Tô Thùy Yên]

Cúi trông cố lý mây vô xứ

Ngầu trắng u mông táp mạn thuyền

Ngút ngọn triều dâng vách sụt lở

Bọt xóa thiên thanh dấp sóng quên

[Thanh Tâm Tuyền, "vượt biên", trang 87, Thơ ở đâu xa, Trầm Phục Khắc xuất bản, Cơ sở Văn phát hành, 1990]

          Hãy đọc lại Tô Thùy Yên để xem trước 1975, có những câu thơ nào như: Chỉa súng đuổi người ra khỏi đất,/Đày đi biền biệt miệt thiên thu./Đuổi cả người chết ra khỏi mộ,/Cày nghĩa trang, trả vói thâm thù. [Nỗi Đợi] Không riêng gì ông mà cả Miền Nam đã vực nhau dậy, nhưng những gì đã xẩy ra cho họ, qua những câu thơ, thì muôn đời vẫn còn đó. Mà không chỉ những câu thơ: Ông nhiều lần nhắc đến sự ghê tởm chế độ Cộng sản, hơn thế nữa còn mong ước chế độ này bị tiêu diệt. Nói một cách khác, ông có thể kính trọng người lính Miền Bắc vì họ chiến đấu cho lý tưởng của họ cũng như ông đã chiến đấu cho lý tưởng của ông, nhưng vẫn phân biệt họ với chế độ Cộng sản. Đó lại thêm một điều-không-ổn trong Thức cho xong bài thơ [Ý Nhi]. Cũng trong bài trả lời Nguyễn Mạnh Trinh, ông phát biểu về xã hội Miền Nam sau khi bị Cộng sản chiếm:

          -"Nguyễn Mạnh Trinh: Anh đã sống một thời gian khá dài ở trong nước sau 1975. Vậy anh có thể nào nói và mô tả xã hội mà anh phải sống với và những nỗi niềm ray rứt đã có trong thời gian ấy?

          "-Tô Thùy Yên: Nói ngắn gọn, đó không phải là một xã hội dành cho con người. Ray rứt bức xúc ghê gớm nhất là sống trong xã hội đó, liệu mình còn là con người cho đến lúc nào đây…"[sđd, trang 169]

          Và diệt "tập đoàn Cộng Sản":

          -"Nguyễn Mạnh Trinh: Nhìn lại nửa thế kỷ vừa qua, anh có nghĩ chiến tuyến Quốc Cộng vẫn còn giữa những người Việt Nam? Hay nghĩ rằng đó là chuyện quá khứ và bây giờ là hiện tại và tương lai?

          "-Tô Thùy Yên: Trong thâm tâm chúng ta, những con người Việt Nam, thật sự chúng ta có chút nào hài lòng về cuộc chiến tranh Việt Nam vừa qua không? Nếu không thì tại sao chúng ta cứ phải duy trì và duy trì cho đến bao giờ cái điều mà chính chúng ta không hài lòng đó. Nghĩ như vậy không có nghĩa là chúng ta nhắm mắt làm ngơ cho bất kỳ thế lực tối tăm ngu muội nào muốn làm gì thì làm trên đất ước chúng ta. Từ hai mươi năm qua, những người Cộng sản đã toàn thắng nhưng chính sự toàn thắng đó đã hàm chứa cái mầm móng đương nhiên của sự thất bại hiện giờ và vĩnh viễn của họ. Điều tiên quyết hết sức đơn giản là chúng ta phải tách ra khỏi, trong cái nhìn của chúng ta một bên là dân tộc Việt Nam dù ở miền Bắc hay ở miền Nam, dù ở trong nước hay ngoài hải ngoại, một dân tộc từ lâu mòn mỏi kêu cầu được xót thương nhau, vỗ về nhau, tha thứ nhau, với một bên là tập đoàn Cộng sản thống trị ngăn trở. Từ đó, có thể chúng ta sẽ tìm ra được cái cách thức hữu hiệu nhất, nhẹ nhàng nhất nhằm xóa bỏ hoàn toàn chế độ Cộng sản. Tôi đặt một hy vọng lớn lao vào những tiếng nói văn hóa." [sđd, trang 169]

          Phần trả lời trên đây hầu như vô hiệu hóa toàn bài của Ý Nhi. Bà đã phí công viết một bài vô ích về những điều Tô Thùy Yên đã bầy tỏ và bầy tỏ nhiều hơn, rõ ràng hơn từ năm 1995, nghĩa là từ 20 năm trước đây. Điều bầy tỏ "nhiều hơn, rõ ràng hơn" mà bài Ý Nhi không hề có chính là ý muốn "xóa bỏ hoàn toàn chế độ Cộng sản". 

          Thế nên, tuy không nghiên cứu riêng về ông nhưng tôi sẽ có một kết luận sơ khởi sau khi đọc và trình bày tài liệu đã được dẫn chứng trong bài này: Cuối cùng, nhiệm vụ người chép sử tương lai [Tôi] mới cứu rỗi nhà thơ Tô Thùy Yên, dù ông có thể không công nhận bằng cách không tuyển bài thơ ấy vào các tập thơ xuất bản sau 1975. Là một Thi sĩ từng phải tự vẫn trong tù, ông đã thực sự trải qua cảnh Tôi chạy cắm đầu trên sợi kinh hoàng/Giăng qua đôi bờ vực lạnh hư vô. Ông có thể là một nhà thơ quan trọng của Miền Nam nhưng không thể vượt qua Nguyễn Bắc Sơn về Thơ Chiến Tranh Việt Nam hay không thể vượt qua Thanh Tâm Tuyền về Thơ Tự Do. Ông đã bỏ mộng thúc giục đám đông nổi loạn chống cường quyền [Tôi]. Có lẽ ông muốn thực hiện việc xóa bỏ hoàn toàn chế độ Cộng sản bằng những tiếng nói văn hóa nên đã trở về Hà Nội năm 2014, đã đi chung ngồi chung với vài người trong hệ thống dẫu sao cũng thuộc hệ thống cường quyền ấy. Ông đã là đề tài nghiên cứu của bài "Làng ta, ngựa đá đã qua sông", 1 trong 4 bài xuất hiện trên bìa tờ Văn Nghệ thuộc Hội Nhà Văn Việt Nam, Số 42, Ngày 21.10.2017. Chủ đề của số báo này:   

          CHÀO MỪNG CUỘC GẶP MẶT LẦN THỨ NHẤT

          NHÀ VĂN VỚI SỰ NGHIỆP ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

          HÀ NỘI THÁNG 1O NĂM 2017

          Nhưng có lẽ ông phải nhận ra chưa ai Miền Nam được nói tiếng nói nào.

          Khác với Phan Nhật Nam, không ai biết ông ngư tiều vấn đáp  thế nào với Hữu Thỉnh.

          Như vậy, sau khi nhìn lại, ông còn gì đáng kể với văn chương? Ngoài mấy bài thơ trước 1975 và Ta Về, Mùa Hạn, Tàu Đêm hay Nỗi Đợi vv. ghi lại một phần lịch sử Miền Nam sau khi bị Cộng sản chiếm? Ngoài vị trí của một người viết cùng bị cầm tù và cùng lên tiếng như bao nhiêu người cầm bút hay người dân và người lính Miền Nam khác?

          Qua trường hợp Tô Thùy Yên và Phan Nhật Nam, cả Ý Nhi lẫn Hữu Thỉnh cần học lời khuyên từ Dương Nghiễm Mậu cách đây gần nửa thế kỷ: Hãy "phải chăng". Nay xin thêm lời đề nghị của tôi: Hãy sòng phằng. Bởi thế, xin quý bạn tha cho "dân tộc", "thiên chức nhà văn", "trời đất", "định mệnh", "tiên tri", "khai giải", "nhà thơ lớn","người lớn" vv và vv nếu không thể [hay không dám?] nói đến nguồn gốc gây ra tang thương ấy. Quý bạn có còn sống trong thời chiến nữa đâu? Hãy áp dụng lời khuyên đó vì không bao giờ có thể chuyển những liên hệ hay kinh nghiệm cá nhân sang những thứ cao trọng hơn như Hữu Thỉnh đã từng lầm và có lẽ Ý Nhi cũng thế:

          -"[...] Tôi mới gặp Thụy Kha vừa ở bên ấy về, cho biết có gặp anh và hai người đã từng cùng nhau uống bia vui vẻ. Đây quả là một sự kiện bất ngờ thú vị. Với dư âm của các cuộc gặp ấy, tôi viết thư này thăm anh và bày tỏ nguyện vọng 'tái bản' cuộc gặp ấy, và di chuyển nó về quê nhà với quy mô rộng hơn, thời gian dài hơn trong khuôn khổ một cuộc gặp mặt của Hội Nhà văn Việt Nam với các nhà văn Việt Nam đang sống và làm việc tại nước ngoài..."

          Tôi không có ý chế diễu nhưng mỗi lần đọc lá thư này, tôi lại bật cười. Sao Hữu Thỉnh lại có thể hớ đến thế nhỉ: "Bày tỏ nguyện vọng 'tái bản' cuộc gặp ấy, và di chuyển nó về quê nhà với quy mô rộng hơn..."?! Từ một tình thân cá nhân đến bước-tiến-nhẩy-vọt qua...đất gài mìn đắp mô nhanh thế a? "Tái bản"?!!! Bỏ trường hợp Phan Nhật Nam ra, Hữu Thỉnh vẫn cứ  là một thứ Hồ Tôn Hiến tân thời, nhưng không có Từ Hải  nào chết đứng. Vì Từ Hải tân thời đã sẵn sàng ứng chiến. Một trăm, ông Hữu Thỉnh ơi!/Chiều nay, một trăm phần trăm!Một trăm, ông Hữu Thỉnh ơi!/Chiều nay, một trăm phần trăm! Người ông chiếu cố giờ đây lại cắm trại rồi" [mượn 100 phần/100, Ngọc Sơn & Tuấn Hải] .

          Nếu tôi là Phan Nhật Nam và ưng thuận lời cố vấn tối cao của quân sư Ngô Thế Vinh để trả lời "theo một văn phong... style télégraphique / đánh điện tín" [Ngô Thế Vinh, sđd], tôi sẽ trả lời lập tức cho Hữu Thỉnh:

          -"'TÁI BẢN' DẤU BINH LỬA, MÙA HÈ ĐỎ LỬA, DỌC ĐƯỜNG SỐ1 VÀ TÙ BINH và HÒA BÌNH TRƯỚC KHI NGƯỜI LÍNH-VIẾT VĂN VIỆT NAM CỘNG HÒA XÉT CÓ  THAM DỰ. 'TÁI BẢN' TÁC PHẨM CỦA NHÀ VĂN MIỀN NAM quy mô rộng hơn. DÙNG Thiên chức nhà văn TẠ TỘI với dân tộc vì đã THIÊU HỦY VĂN HÓA PHẨM VÀ GIAM CẦM TÁC GIẢ MIỀN NAM. TẠ TỘI ĐẤY ẢI VÀ BUỘC HÀNG TRĂM NGÀN QUÂN DÂN MIỀN NAM VỀ VÙNG KINH TẾ MỚI HẦU CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN. CẤP DƯỠNG CHO THƯƠNG PHẾ BINH VNCH. NGƯNG NGAY HAI CHỮ GIẢI PHÓNG."

          Đấy, tôi rất tiếc Đại Úy Nhẩy Dù Phan Nhật Nam đã không vấn kế em gái hậu phương Nguyễn Tà Cúc. Không đùa nhé.

          Tôi cũng muốn nhân dịp này để công khai mấy điều. Thứ nhất, lá thư trả lời của Phan Nhật Nam làm nhiều người, trong đó có tôi, rất cảm động. Ông đã không quên đồng đội vì chút bả danh vọng. Thứ hai, cũng đã đến lúc cần góp ý về một người trong văn giới trong trường hợp này. Trong bài thượng dẫn, Ngô Thế Vinh viết:

          -"[...] Với một chút dư vị cay đắng, Nam nói: “Chỉ có bác nghĩ về tôi như vậy, nhưng đó không phải cái nhìn của văn giới và ngay cả với những bạn Võ Bị của tôi nữa.” Bản thân Nam đã bị đối xử khá bất công, không phải chỉ với trong nước mà kể cả với các cộng đồng ở hải ngoại..." [Ngô Thế Vinh, sđd]

          Không, tuy không luôn luôn đồng ý với Phan Nhật Nam, nhưng tôi sẽ không bao giờ quên xương máu (đúng nghĩa) của ông đã thấm vào hàng ngàn trang trong các tác phẩm về chiến tranh, nhất là trước 1975. Sẽ không quên bức thư công khai nhân danh người lính trong khi người khác thì không. Sẽ không quên nỗ lực tranh đấu với bản thân để viết-cho-người-chết. Sẽ không quên ông và các thành viên trong Ban Liên hợp Quân Sự 4 Bên & 2 Bên phải chống đỡ cho phẩm giá Việt Nam Cộng Hòa khi đồng minh rút lui, thế giới ngoảnh mặt cùng nhau đẩy Miền Nam vào cửa tử chỉ chưa đầy 2 năm sau.

           Đằng khác, chúng ta cũng không thể quan tâm đến sự "bất công" từ bất cứ ai vì thứ nhất, Viết không phải là một cuộc chạy đua lấy lòng độc giả & bạn bè & gia đình/Writing is not a popular contest. Thứ hai, chính chúng ta phải tôn trọng ý kiến của người đọc, dù người đọc ấy là ai. Nghe hay không là chuyện của mình, phản bác hay không là chuyện của mình, giải thích hay không cũng là chuyện của mình; nhưng không thể cứ ai không đồng ý là giáng cho cái tiếng "bất công". Còn bọn "lưu manh văn nghệ" [mượn lời Thanh Lãng] thì đáng gì nói đến? Thứ ba, cầm bút là đồng thời ôm vào một nỗi cô độc vô phương cứu chữa. Bạn bè người thân rồi già đi, rồi mai một. Tôi đã mất dần Nguyễn Sỹ Tế, Thái Tuấn, Mặc Đỗ, Cao Tiêu, Tô Thùy Yên rồi Duy Thanh. Hãy tin vào điều chúng ta đang làm. Rồi sẽ có người tri kỷ. Tử Nha nào mà không có Bá Kỳ. Chưa gì mà đã toan...đập đàn, hỡi (các) người bạn của tôi?

 

Nhà văn-Người lính VNCH Phan Nhật Nam và Nguyễn Tà Cúc, Thư ký Tòa soạn Khởi Hành

Buổi Ra mắt Thắp Tạ, Tô Thùy Yên, 2004 - Tòa soạn nhật báo Người Việt-

 Little Sài gòn, Wesminster, California, Hoa Kỳ

 

 

          Tôi sẽ chuyển sang phần người lính Việt Nam Cộng hòa một cách sơ lược, qua một khía cạnh mà tôi chú ý, trước khi nhập vào phần họa sĩ Duy Thanh, người góp mặt suốt 20 năm Việt Nam Cộng hòa hiện diện trên bản đồ thế giới  .-

 

-----------------------

* Như thường lệ, loạt bài Duy Thanh sẽ có quá nhiều tài liệu nên xin quý bạn đọc cho biết khi có lỗi lầm để sửa chữa. Xin đa tạ trước.

* Loạt bài này rồi ra sẽ đề cập đến nhiều thành viên Nhóm Sáng Tạo nên tôi lấy hiệu Lệ Nam từ 4 câu thơ của Nguyễn Sỹ Tế để kỷ niệm họ.

Lệ Nam Kinh

Gửi đồng bào Miền Nam và cố đô Sài gòn

 

Máu đào nhỏ lệ Nam Kinh

Giấy hoa bay đẹp ân tình Lệ Nam

Đắng cay nát ngọc siêu phàm

Một thôi cát bụi nguyện làm mây bay!

 

 1)    Độc giả có thể xem lại đoạn Đinh Quang Anh Thái phát biểu về Tô Thùy Yên trong bài “'Ta Về' thăm lại cố đô Sài gòn cùng Thiếu Tá Tâm lý Chiến Tô Thùy Yên [Nguyễn Tà Cúc,

http://www.gio-o.com/Thiếu Tá Tâm lý Chiến Tô Thùy Yên]

2)    Một đoạn trong bài i, Tô Thùy Yên, Tháng 8.1957

Tôi là Tô Thùy Yên là thi sĩ là người chép sử tương lai [...]
Nghĩa là ngợi ca loài người hiền hậu
Nghĩa là thúc giục đám đông nổi loạn chống cường quyền
[...]Nghĩa là có mặt trong mọi hành vi lớn nhỏ của đời mình
Nghĩa là giúp mọi người sống đủ hai mươi bốn giờ mỗi ngày nghĩa là giúp họ tìm thấy họ.

 

3) "Thơ giải thoát chớ không chỉ đơn thuần là giải sầu, giải muộn hoặc giải tỏa..." [Tô Thùy Yên phát biểu- Phan Nhiên Hạo-LitViet, "Thảo luận Bàn tròn..."]

 

4)  Ngô Thế Vinh viết: "Phan Nhật Nam cũng là bút hiệu, Rốc là tên gọi ở nhà; sinh ngày 9/9/1943, tại Phú Cát, Hương Trà, Thừa Thiên, Huế; nhưng ngày ghi trên khai sinh 28/12/1942, chánh quán  Nại Cửu, Triệu Phong, Quảng Trị." Những tin tức này đều đúng nhưng thiếu một chi tiết. Tên đầu tiên của Phan Nhật Nam là Phan Ngọc Khuê.

            Phan Nhật Nam giải thích lý do có 2 cái tên đó như sau: "Tên  đầu tiên,  Phan Ngọc Khuê [...] Đổi thành Phan  Nhật Nam (hẳn vì an ninh lý lịch gia đình khi thân phụ thoát ly vào chiến khu...) với ngày sinh mới..." [Phan Nhật Nam, Mùa hè đỏ lửa- tái bản lần thứ 30, trang 262, Tổ hợp Nắng mới Miền Nam xuất bản, Garden Grove, California, Hoa Kỳ, 2003]

 

  Lệ Nam Nguyễn Tà Cúc

http://www.gio-o.com/AN/NguyenTaCuc.html

2020