Nguyễn Tà Cúc

một cuộc hợp tác hy hữu:

cuốn Kinh thánh Tin lành

của dịch giả Phan Khôi


biên khảo – kỳ 2

 

kỳ 1

 

PHẦN  II

Một vụ án văn học Thế kỷ XX

 

Trong Phần I trước đây, người viết đă đề cập đến 3 tài liệu mới mà tài liệu thứ nhất là cuốn Kinh thánh Tân ước xuất bản lần thứ 2 tại Hà nội vào năm 1923. Lẽ ra, trong Phần II này, người viết sẽ tŕnh bày về sự đóng góp của ông mục sư và bà William Charles Cadman;  nhưng thay vào đó, sẽ phân tích về sách Nhă ca của Kinh thánh Cựu ước và sự liên quan của nó đến vụ án văn học Thế kỷ XX đă từng đề cập đến trong loạt bài này. Sự phân tích ấy được trợ giúp bằng một tài liệu hết sức quan trọng. Đó là bản chụp ("scan")  của hơn 10 trang Kinh thánh Cựu ước và Tân ước từ chính cuốn Kinh thánh của Phan Khôi do ông Phan Nam Sinh, thứ nam của Phan Khôi, hiện ngụ tại Đồng Nai, Việt Nam, gửi sang theo lời yêu cầu của người viết vào tháng 5 năm nay.  Như thế, chúng ta sẽ, trước là so sánh với cuốn Kinh thánh mà người viết hiện c̣n giữ từ năm 1976 để xem có thay đổi nào khác, rồi sau nữa để  có thể kết thúc về vấn đề bà Nhă Ca-- người đă lấy hoặc là nguyên văn, hoặc là xào xáo nhiều câu trong mấy sách văn thơ của Kinh thánh Việt ngữ để đưa vào hai bài thơ  tổng cộng dài hơn 200 câu của ḿnh

 

Sở dĩ người viết có quyết định tŕnh bày về vụ án văn học này trước khi bàn đến vị trí của ông mục sư và bà William Charles Cadman trong những ngày phôi thai của Hội Thánh Tin lành Việt Nam như đă định v́ người viết đă hân hạnh được nhận nhiều thư từ hỏi han của độc giả và tác giả khác. Theo tinh thần chung của một số lá thư (trong nước) th́ có người chưa được đọc Sách Nhă Ca của Kinh thánh Tin lành Việt ngữ  mà lại càng không biết tới có một bà nhà thơ Nhă Ca thuộc Văn học Miền Nam. Sau nữa, việc một tuyển tập Thơ Nữ chọn nhầm bài Đàn bà là mặt trời (của bà Nhă Ca)-- đă được chứng minh là lấy từ Kinh thánh Tin lành Việt ngữ mà Phan Khôi là một dịch giả--cũng cần được tŕnh bầy đầy đủ hơn cho công bằng, trước là cho nhóm tuyển chọn & biên soạn (1), Nhà xuất bản Phụ nữ và sau nữa, cho văn sử. Cũng chính v́ khía cạnh văn sử ấy mà người viết đồng ư với sự nhận xét của số độc giả và tác gia này, rằng cần có sự tŕnh bày cặn kẽ hơn nữa để đúc kết  hai vấn đề liên quan trực tiếp đến người đương thời qua vụ án này.

 

Vấn đề thứ nhất là việc bà Nhă Ca lấy bút hiệu rồi lấy luôn cả ư tưởng hay nguyên bản từ bản dịch Cadman-Phan Khôi Kinh thánh Tin lành Việt ngữ làm thơ của ḿnh. Bởi thế, trước hết, người viết sẽ tŕnh bày sơ lược về sách "Nhă-Ca của Sa-Lô-Môn"-Kinh thánh Cựu Ước, nghĩa là bối cảnh của vụ án này. Sau đó, người viết sẽ đưa ra những chứng cớ lấy từ bài thơ Đàn bà là mặt trời mà bà Nhă Ca đă cho xuất bản trong cuốn Thơ Nhă Ca do nhà xuất bản Thương Yêu, Hiện Đại tổng phát hành vào tháng bảy 1972, Sài g̣n, rồi sau này lại được "Nhóm tuyển chọn và biên soạn: Lại Nguyên Ân, Ư Nhi, Ngô Thế Oanh, Mai Hương và Phạm Xuân Nguyên" đưa vào cuốn Tuyển Thơ Tác giả Nữ Việt Nam (Nhà xuất bản Phụ nữ, 2000, Hà nội).

 

Vấn đề thứ hai là việc Thụy Khuê gán sai cho Phan Khôi một đoạn Kinh thánh Tân ước do cố mục sư Lê Hoàng Phu phiên dịch mà mấu chốt của vấn đề này cũng liên quan đến bản dịch sách Nhă Ca của hai ông (Phan Khôi và Lê Hoàng Phu)

 

Sách "Nhă-Ca của Sa-Lô-Môn"- Kinh thánh Tin lành Việt ngữ-Cựu ước,  Bản dịch Cadman-Phan Khôi và bài Đàn bà là mặt trời của bà Nhă Ca

 

1- Sách "Nhă-Ca của Sa-Lô-Môn", Kinh thánh Tin lành Việt ngữ-Cựu ước

Sách "Nhă-Ca" là 1 trong 5 cuốn sách được coi là "sách văn thơ của Cựu Ước". Người viết lược dẫn phần giảng giải của mục sư W(illiam) C. Cadman về sách này để độc giả thông tỏ trước khi sang phần 2, là phần nói đến việc bà Nhă Ca lấy văn từ của Kinh Thánh. Một khi có được khái niệm sơ lược, người đọc sẽ dễ dàng theo dơi hơn phần kế, là phần so sánh và phân tích những câu mà bà Nhă Ca đă lấy ra hay cắt xén, xáo trộn từ sách Nhă Ca để cho vào "bài thơ" Đàn Bà Là Mặt Trời của bà.

-"Nhă Ca.   Cantique des Cantiques.

 Trong Kinh Thánh quốc văn, Nhă Ca là sách cuối cùng năm sách văn thơ Cựu Ước. Ấy là theo lối sắp đặt của bản Septante; song theo bản Hê-bơ-rơ, Nhă Ca có ở giữa Gióp và Ru-tơ, là một trong năm cuốn nhỏ thu họp thành một loại riêng để tiện đọc trong 5 ngày lễ trọng. Nhă Ca thường đọc ngày thứ tám trong lễ Vượt-qua và được giải theo nghĩa bóng chỉ về sự tích xuất Ai-cập. Nhă Ca của Sa-lô-môn cũng gọi là "Nhă Ca trong các bài ca" (1:1). Lối nói lặp lại hai lần của người Hê-bơ-rơ như Chúa của các chúa, trời của các từng trời, và hư không của sự hư không, v.v... . (Phục truyền luật lệ kư 10:17; I Các vua 8:27; Truyền đạo 1:2), cốt để thêm một sức mạnh tuyệt đối tỏ ra là một bài ca rất quí giá.
       I. Lối chia ra và giải nghĩa.-- [...]  Có người coi bài ca nầy như một bi kịch với bốn hồi, hoặc năm, hoặc sáu hồi[...] Thật ra, bài ca như có hiện nay là một bài liên tiếp nhau, và đại ư là sự yêu thương của Sa-lô-môn và tân phụ. [...] Dầu lối sắp đặt bài ca không hiệp với ư phương Tây v́ ưa giữ trật tự và lư cớ, nhưng hiệp hoàn toàn với lối làm thi ca của phương Đông.
       II. Sự dạy dỗ.-- Có ba phương pháp để dạy dỗ Nhă Ca: nghĩa bóng, nghĩa theo văn tự, và nghĩa h́nh bóng. Người Do-thái vẫn lấy Nhă Ca làm rất quí, thường coi như là một nghĩa bóng thuộc linh, chỉ có một ư định tức dạy dỗ về sự yêu thương của Đức Chúa Trời đối với Y-sơ-ra-ên xưa. Đức Chúa Trời là Lương nhơn, và Y-sơ-ra-ên là kẻ được yêu thương.  [...] Lối dạy theo văn tự th́ bài ca là một truyện trong lịch sử, là một sự tích về Sa-lô-môn yêu người nữ Su-la-mít. [...] Trong bài ca, t́nh yêu thương tự nhiên giữa vua lớn và nàng hèn hạ làm thí dụ về sự yêu thương lẫn nhau giữa Đức Giê-hô-va và dân sự Ngài. [...] Bởi thế, Nhă Ca tương tự với các Thi Thiên về Đấng Mê-si, là những bài nhờ sự từng trải riêng, hoặc chức vị của Đa-vít và Sa-lô-môn, và tỏ ra những lẽ thật về Vua lớn. Sự so sánh t́nh yêu thương lẫn nhau giữa Hội Thánh và Chúa làm Đầu ḿnh, với t́nh yêu thương giữa tân phụ và tân lang thường chép trong Tân Ước (Ê-phê-sô 5:25-33; Khải Huyền 19:7-9; 21:9).
       III. Niên hiệu và trước giả.-- [X]em xét chứng cớ về trước giả và niên hiệu, th́ bài ca (1:1) chép rơ "Sa-lô-môn đă làm". Trí khôn tác giả như được tỏ rơ trong bài ca rất thuận hiệp với mọi sự biết về Sa-lô-môn. Lời nghĩa bóng vẫn dùng trong những bài của vua chẳng những phản chiếu cơi thiên nhiên, song cũng đối diện với những sự ngoại quốc mà vua ưa thích. Suốt cả bài ca tỏ ra trước giả biết nhiều như Sa-lô-môn về cây cối từ cây hương nam đến chùm kinh giới, và về thú vật, chim chóc, loài ḅ sát, và cá, v.v... . Bài ca cũng vẽ bức tranh rất đúng về đời Sa-lô-môn. Bài ca tỏ ra được chép trong thời mà văn chương Hê-bơ-rơ rất phong phú, và một thời dân tộc rất thịnh vượng. Dầu khi nói với người nữ Su-la-mít dùng một vài tiếng Aramaique từ nguyên gốc Aryen, ấy không phải là lạ v́ Sa-lô-môn thường thông thương với các nước ngoài cách xa
...(Wm. C. Cadman, Thánh Kinh Từ điển- II, Quyển Hạ N-Y, trang 1151-1154, Nhà in Tin lành Sài g̣n, 1958, tái bản tại Hoa Kỳ, không đề năm) (2)

 

Sách "Nhă-Ca của Sa-Lô-Môn" là một trong những sách Kinh thánh được nghiên cứu nhiều nhất, nhưng đa số tác giả của chúng vẫn thuộc phái nam v́ dĩ nhiên phái nữ không có nhiều cơ hội được tự do viết sách, nhất là sách về thần học  trước đây, trừ Thánh Teresa-thuộc-Avila (Teresa Sanchez Cepeda Davila y Ahumada 1515-1582). Hồi c̣n là nữ tu, bà viết cuốn "Những điều suy niệm về Sách Nhă Ca của Sa-lô-môn" nhưng bị bắt buộc phải đốt bản thảo trước mặt viên linh mục bà vẫn đến "xưng tội" dù rằng trước đó đă được cho phép bằng chính linh mục ấy. May thay, các nữ tu đă chép ra nhiều bản khác và hiện "Những điều suy niệm về Sách Nhă Ca của Sa-lô-môn" vẫn c̣n được tái bản (3)

Như thế, nếu có dịp đọc "Nhă-Ca của Sa-Lô-Môn" --mà nội dung là những lời ca đối đáp giữa một "Thanh niên" và một "Thiếu nữ" (theo bản dịch Lê Hoàng Phu, trang 672-679) hay giữa "Cô dâu -'Nàng'- và các bạn của nàng", rồi giữa "Nàng" và "Chàng" (theo bản dịch Đặng Ngọc Báu, trang 762-768) --nhắm chỉ đến một ư nghĩa cao xa hơn theo sự chú giải của Cadman ("Lời giải thứ nh́ và rộng hơn là về Đấng Christ, là Con, và Tân phụ trên trời của Ngài tức là Hội Thánh") th́ người đọc sẽ có dịp nhận ra ngay những sự rập khuôn từ h́nh thức đến nội dung trong bài "Đàn bà là mặt trời" mà rất khó chối căi.  Không những bà Nhă Ca đă rập khuôn thể văn (tự do, không có vần), sự nhắn gửi của nhân vật "tôi" với các bạn gái, mà lại c̣n đă lấy nguyên văn chỉ xoay đi hay thay đổi rất ít hoặc cắt xén, xào xáo nhiều câu trong nguyên bản để ngang nhiên đưa ngay vào Đàn bà là mặt trời của ḿnh. Sau đây, người viết sẽ dùng bản "Nhă-Ca của Sa-Lô-Môn" do ông Phan Nam Sinh chụp (scan) từ chính cuốn Kinh thánh của Phan Khôi để so sánh với "bài thơ" này

2  -  Cuốn Kinh thánh của dịch giả Phan Khôi và Vụ án văn học Thế kỷ XX

Thật là đại hạnh mà người viết được nh́n thấy tận mắt những trang "Nhă-Ca của Sa-Lô-Môn" từ ngay chính cuốn Kinh thánh của Phan Khôi, gần 90 năm sau khi ông góp phần tích cực vào việc phiên dịch nó.  Được sự giới thiệu của học giả Đào Hùng (Phó Tổng Biên tập, Tạp chí Xưa&Nay, Hà nội), người viết đă chuyển cho ông Phan Nam Sinh loạt bài viết về Phan Khôi và Kinh thánh Tin lành Việt ngữ. Không những ông Phan Nam Sinh đă mau mắn trả lời mà c̣n, theo lời hỏi xin, gửi cho người viết bản chụp ("scan")  của hơn 10 trang Kinh thánh Cựu ước và Tân ước trong đó có nguyên sách "Nhă-Ca của Sa-Lô-Môn" để người viết, trước là so sánh với cuốn Kinh thánh hiện c̣n giữ từ năm 1976 (và 6 cuốn khác qua các lần xuất bản sau đó), để xem có thay đổi nào chăng, mà sau nữa, mà cũng để  có thể có một kết thúc đích xác hơn về vụ án văn học này.

 

Trước hết, đúng như theo sự dự đoán của người viết trong các bài trước, Kinh thánh Tin lành Việt ngữ/Bản dịch Cadman-Phan Khôi (c̣n được gọi là bản truyền thống hay bản 1926) vẫn được Hội thánh Tin lành Việt nam giữ nguyên bản sau hơn gần một thế kỷ. Qua đó, người viết t́m ra được một số câu hay ư mà bà Nhă Ca đă lấy, sau đây:

 

V́ ḱa, mùa đông đă qua, Mưa đă dứt hết rồi; Bóng hoa nở ra trên đất (NHĂ-CA của SA-LÔ-MÔN 2:11-12-Cựu Ước, Bản dịch Cadman-Phan Khôi, 1925)

-  Vườn hoa nào cũng ở trước mặt chúng ta/Mùa xuân nào cũng nở cho ta những bông hồng (Bà Nhă Ca, "Đàn bà là mặt trời"-Thơ Nhă Ca, Tủ sách Thương Yêu xuất bản, 1972, Sài g̣n, trang 128, câu 1-2) Để những bông hoa của mùa xuân (trang 133, câu 66) Mùa xuân và hoa hồng đều nở v́ chúng ta  (trang 130, câu 32)

-  Người nữ này là ai hiện ra như rạng -đông, đẹp như mặt trăng, tinh- sạch như mặt trời, đáng sợ khác nào đạo- quân giương cờ- xí? (NHĂ-CA của SA-LÔ-MÔN 6:10)

 

-  Hỡi các chị, chúng ta đều đẹp như mặt trời /Tinh khiết như b́nh minh (Bà Nhă Ca, sđd, câu 3-4, trang 128) Tôi sẽ mát như trăng nhưng cũng nóng hơn lửa (câu 58, trang 132) Chúng ta có sự tinh khiết trong như trăng (câu 86, trang 134)

-  Hỡi công -chúa, chơn nàng mang giày, xinh- đẹp biết bao! (NHĂ-CA của SA-LÔ-MÔN 7:1) Hỡi bạn t́nh ta, người đẹp của ta ơi (2:10) Hỡi bạn t́nh ta, nầy ḿnh đẹp- đẽ thay, ḿnh đẹp -đẽ thay [...]Hỡi bạn ta, ḿnh vốn xinh- đẹp mọi bề (4:1,7) Hỡi người xinh- đẹp hơn hết trong các người nữ, lương- nhơn của chị có ǵ hơn các lương -nhơn khác (5:9) Hỡi bạn t́nh ta, ḿnh xinh-đẹp như Thiệt -sa (6:4)

 

-  Chúng ta, mỗi người phải là một công chúa /Người đàn bà nào cũng đẹp (Bà Nhă Ca, sđd, trang 130, Câu 30-31) Bởi chúng ta đẹp đẽ và xinh tươi (câu 15, trang 129) Chúng ta luôn luôn xinh đẹp và ở trên cao (câu 70, trang 133) Hỡi các chị, chúng ta sẽ nối tiếp nhau đẹp măi (câu 65, trang 133)

 

-  Nguyện người hôn tôi bằng cái hôn của miệng người. V́ ái- t́nh chàng ngon hơn rượu[...]Chúng tôi sẽ nói đến ái- t́nh chàng hơn rượu  (NHĂ-CA của SA-LÔ-MÔN 1:2-4) Hỡi em gái ta, tân- phụ ta ơi, ái- t́nh ḿnh đẹp là dường nào! Ái -t́nh ḿnh ngon hơn rượu,Và mùi thơm của dầu ḿnh tốt hơn các thức hương! Hỡi tân- phụ ta, môi ḿnh nhỏ mật ong xuống, Dưới lưỡi ḿnh có mật ong và sữa; (4:10-11) Ăn tàng mật ong với mật ong ta, Uống rượu với sữa ta (5:1)

 

-   Chị có ái t́nh ngọt như mật ong (Bà Nhă Ca, câu 23-trang 130)  Những sữa, kem và mật   để làm nên rượu ngọt/ để pha hương thơm trên thân thể măi măi /trên thịt da tôi mà        chàng yêu dấu (câu 96,97,98-trang 135) Để tôi làm ra ái t́nh và rượu ngọt (câu102-trang             136)

 

-  Đôi má ḿnh đẹp với đồ trang -sức; Cổ ḿnh xinh với hột trân- châu. (NHĂ-CA của SA-LÔ-MÔN 1:10) Hơĩ em gái ta, tân-phụ ta ơi, ḿnh đă cướp lấy ḷng ta, V́ một cái liếc mắt, v́ một ṿng trân -châu nơi cổ ḿnh, ḿnh đă cướp lấy ḷng ta. (4:9)

 

-  Trân châu cùng ngọc bích/ để trang điểm cho chúng ta đẹp đẽ (Bà Nhă Ca, sđd, câu 42-          43, trang 131)

 

-  Hỡi các con gái Giê-ru-sa-lem[…]Chớ kinh -động, chớ làm tỉnh- thức ái -t́nh ta (NHĂ-CA của SA-LÔ-MÔN 2:7) Ấy là tiếng của lương -nhơn tôi gơ cửa (5:2)

 

- Tôi sẽ gơ các cánh cửa im lặng thật nhẹ /để chàng kinh hoàng nhận ra tôi (Bà Nhă     Ca, sđd, câu 48,49, trang 131)

 

-  Hỡi người xinh- đẹp hơn hết trong các người nữ (NHĂ-CA của SA-LÔ-MÔN 5:9)

 

-  Chúng ta là những người nữ xinh đẹp/Xinh đẹp hơn mọi loài trên trái đất (Bà Nhă Ca,          sđd, câu 83, 84, trang 134)

 

-  Mắt nàng khác nào các ao tại Hết-bôn (NHĂ-CA của SA-LÔ-MÔN 7:4) Ḿnh là mạch nước trong vườn, là giếng nước sống, là ḍng nước chảy tại Li-ban! (4:15)

 

-  Chị có đôi mắt sâu như giếng nước phương Nam (Bà Nhă Ca, sđd, câu 20, trang          129)

 

- Tôi là một tường thành, Hai nương long (4) tôi như những ngọn tháp (NHĂ-CA của SA-LÔ-MÔN 8:10) G̣ má người như vuông đất hương-hoa, Tợ khóm cỏ thơm ngát; Môi người tỉ như hoa huệ ướm chảy một-dược ṛng (5:13)

 

-  Các chị có đôi vú ngọc bích /Có da sữa, tóc dài /Có má hiền, môi mật (Bà Nhă Ca,     sđd, câu 71, 72, 73, trang 133)

 

-   Ḷng ghen hung- dữ như Âm- phủ (NHĂ-CA của SA-LÔ-MÔN 8:6)

 

-  Chúng ta có ḷng ghen mạnh như băo (Bà Nhă Ca, câu 85, trang 134)

      

-  Một v́ vua bị lọn tóc nàng vấn vít. Hỡi ái t́nh ta, ḿnh xinh đẹp thay ((NHĂ-CA của SA-LÔ-MÔN 7:5-6)

 

-  Tôi cũng có một ông vua cho ái t́nh tôi (Bà Nhă Ca, câu 91, trang 135)

 

-  Hỡi các con gái Giê-ru-sa-lem, tôi đen, song xinh -đẹp […]Chớ ḍm xem tôi , bởi v́ tôi đen (Sách NHĂ-CA của SA-LÔ-MÔN 1: 5-6) Lương nhơn tôi trắng và đỏ (5: 10)

 

-  Hăy đến nh́n tôi coi /Tôi đang đỏ đang đen (Bà Nhă Ca, sđd, câu 106, 107, trang 136)

 

Như đă nói trên, chỉ những chứng cớ này cũng đă đủ cho thấy một cách cụ thể bài "Đàn bà là mặt trời" chỉ là một sự rập khuôn rất vụng về từ NHĂ-CA của SA-LÔ-MÔN-Cựu Ước. Sự rập khuôn này càng rơ ràng hơn nữa khi tác giả lấy bút hiệu là "Nhă Ca"! Như thế, thêm vào bài "Một đoạn Nhă Ca" (Bà Nhă Ca, sđd, trang 137-147), đă được người viết chứng minh từ trước là cũng đă lấy từ quá nhiều các sách văn thơ khác (Gióp,Thi Thiên, Châm Ngôn vv), vụ án văn học này coi như không c̣n ǵ để bàn căi thêm.

 

Nay tới vấn đề thứ hai là sự nhầm lẫn của Thụy Khuê.

 

Vấn đề nhầm lẫn của Thụy Khuê từ bản Lê Hoàng Phu sang bản Cadman- Phan Khôi

 

Cũng theo bản chụp trang 1 trong sách "Tin lành theo Ma-Thi-Ơ" từ cuốn Kinh thánh của Phan Khôi mà Phan Nam Sinh gửi cho người viết th́ chắc chắn Thụy Khuê đă nhầm bản dịch Kinh thánh Diễn ư của Lê Hoàng Phu sang bản dịch Cadman-Phan Khôi như người viết đă bàn đến trong bài trước. Việc nhầm lẫn này cần sửa đổi v́, không những để công bằng cho dịch giả Lê Hoàng Phu (cùng vài người đă giúp ông phiên dịch), mà lại c̣n để đưa việc bà Nhă Ca lấy thơ văn Kinh thánh ra ánh sáng. Đây là một vài đoạn trích trong Kinh thánh Bản Diễn Ư để độc giả (và Thụy Khuê) tiện theo dơi sự khác biệt rất lớn giữa hai bản dịch khi Lê Hoàng Phu chỉ dịch ư và chuyển hẳn sang thơ lục bát:

 

Bản Lê Hoàng Phu

 

NHĂ -CA

- Hôn em đi, miệng ngọc ngà!

T́nh anh dịu ngọt hơn là mật ong[...]

Hỏi nhau: Cô ấy là ai?

Xinh hơn tố nữ, lấn vai Chị Hằng

Tâm hồn trong trắng như băng

Tươi hơn gương mặt Thái dương rạng ngần [...]

Xin anh đừng kể hén sang

Coi em như chiếc ấn vàng trong tâm,

Ái t́nh mạnh tợ tử thần

Ḷng ghen bốc cháy như Âm phủ kề .

T́nh yêu đám lửa thật ghê,

Phừng phừng cao ngọn tứ bề cháy thiêu

Dù sông biển nước thật nhiều

Cũng không dập tắt t́nh yêu được nào;

Dù ai tiền bạc chất cao,

Ái t́nh không thể mua vào được đâu ...

 

Bản Cadman-Phan Khôi

 

NHĂ-CA của SA-LÔ-MÔN

- Nguyện người hôn tôi bằng cái hôn của miệng người.

V́ ái- t́nh chàng ngon hơn rượu[...]

       Người nữ này là ai hiện ra như rạng đông, đẹp như mặt trăng, tinh -sạch như mặt trời,           đáng sợ khác nào đạo- quân giương cờ- xí?[...]

       Hăy để tôi như một cái ấn nơi ḷng chàng

       Như một cái ấn trên cánh tay chàng;

       V́ ái- t́nh mạnh như sự chết,

       Ḷng ghen hung- dữ như Âm- phủ;

       Sự nóng nó là sự nóng của lửa

       Thật một ngọn lửa của Đức Giê-hô-va.

       Nước nhiều không tưới tắt được ái- t́nh,

       Các sông chẳng nhận ch́m nó được;

       Nếu người nào đem hết tài- sản nhà ḿnh,

       Đặng mua lấy ái -t́nh,

       Ắt người ta sẽ khinh-dể nó đến điều...

 

Tổng chi, câu hỏi cuối cùng được đặt ra đây là tại sao bản dịch Cadman-Phan Khôi vẫn được tín hữu Tin lành yêu thích từ bao nhiêu năm nay dù có thêm nhiều bản dịch khác, như Bản Nhuận chánh do cố mục sư Olsen và vài mục sư Việt khác hoàn chỉnh vào khoảng cuối những năm 1950 tại Sài g̣n? Câu trả lời không khó: đó là bản dịch tương đối sát nguyên bản lại có cách hành văn và chọn chữ rất thơ v́ nó đă được sự tiếp sức rất lớn của nhà lư luận uyên bác Phan Khôi. Ông cũng từng làm thơ (T́nh già) nên sự sáng tạo chữ hay âm điệu trong văn không phải là điều khó khăn. Bằng cớ là cách đây gần một thế kỷ mà sự dùng chữ trong NHĂ-CA của SA-LÔ-MÔN phải kể là đi trước nhiều thi sĩ đời sau, thí dụ như  "ái t́nh chàng". Ngôn ngữ ấy bầy tỏ những ư tưởng phi phàm, khiến Kinh thánh vẫn là nguồn cảm hứng cho bao nghệ sĩ từ đời này qua đời khác: "Người nữ ấy là ai[...]Đáng sợ khác nào đạo quân giương cờ xí", "Chớ kinh động, chớ làm tỉnh-thức ái-t́nh ta cho đến khi nó muốn" hay "Vua Sa-lô-môn làm cho ḿnh một cái kiệu bằng gỗ Li-ban. Người làm các trụ nó bằng bạc. Nơi dựa lưng bằng vàng. Chỗ ngồi bằng vật màu điều, C̣n ở giữa lót bằng ái- t́nh của các con gái Giê-ru-sa-lem" vv

 

Dĩ nhiên, cho đến nay, chưa ai, kể cả người viết, dám quyết đoán về vấn đề phiên dịch nhưng có thể nhiều phần kết luận, như người viết sẽ chứng minh ở phần III là phần viết về ông bà Cadman và sự hợp tác hy hữu với Phan Khôi, rằng Kinh thánh Tin lành Việt ngữ mang dấu ấn rơ ràng của cả hai người.

 

Nguyễn Tà Cúc

 

CHÚ THÍCH

1) "Chính sự thiếu liêm khiết trí thức của bà  Nhă Ca mà đă dẫn đến một sự kiện khôi hài có thể coi như một giai thoại trong làng làm sách. Đó là việc một tuyển tập thơ Nữ lại có lọt vào chữ của một nhà thơ đàn ông (Phan Khôi). Không hiểu những người nhận trách nhiệm tuyển chọn cho cuốn Thơ Nữ Việt Nam Tuyển chọn: 1945-1995 (Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, 1994, Việt Nam)-- Thúy Bắc, Đoàn Hương, Đỗ Bạch Mai, Xuân Tùng, Bế Kiến Quốc, Nguyễn Trác --có đọc Kinh thánh hay không mà tuyển ngay bài “Đàn bà là mặt trời” vào tập này?" (Nguyễn Tà Cúc, Công tŕnh phiên dịch Kinh thánh Tin lành Việt ngữ của Phan Khôi và một vụ nghi án văn học trong Văn học Miền Nam). Người viết cần đính chính rằng, đúng ra, "Nhóm tuyển chọn và biên soạn" cho tuyển tập này  gồm có: "Lại Nguyên Ân, Ư Nhi, Ngô Thế Oanh, Mai Hương và Phạm Xuân Nguyên" chứ không phải các tác gia đă nêu tên trong bài. Thêm nữa, Nhà xuất bản Phụ nữ mới là nhà xuất bản cuốn này vào năm 2000. Người viết xin trân trọng cáo lỗi cùng Thúy Bắc, Đoàn Hương, Đỗ Bạch Mai, Xuân Tùng, Bế Kiến Quốc, Nguyễn Trác và Nhà xuất bản Hội Nhà văn.

2) Bộ Thánh Kinh Từ Điển, hơn 2.000 trang, do cố mục sư W(illiam) C. Cadman soạn trong 10 năm là một công tŕnh đồ sộ và công phu vẫn được tín hữu và mục sư sử dụng để tra cứu, học hỏi hay biên soạn bài giảng, đă được tái bản nhiều lần. Theo lời tựa của cố mục sư Lê Văn Thái th́ Cadman đă "khởi soạn từ năm 1938" và "kết thúc bản thảo trong hai năm 1945 và 1946 trong trại giam tù binh đồng minh của người Nhựt tại Mỹ Tho, Nam phần. (Giáo sĩ bị cầm giữ với tánh cách công dân một nước nghịch.)" (Lê Văn Thái, Đà lạt, ngày 1 tháng chạp 1953). Bộ này gồm 2 cuốn: cuốn Thượng (từ A-M, trang 1-trang 988) và cuốn Hạ (từ N-Y, trang 989-trang 2101). Độc giả có thể đặt mua, giá 80 mk,  tại Tiệm sách "Văn phẩm Tin Lành", 2275 W. Lincoln Avenue Anaheim, CA 92801 , E-mail: vanpham_giaohat@yahoo.com, P.O. Box 2468, Fullerton CA 92837 , Phone: (714) 999-9507 & 491-8007 - Fax: (714) 491-8912 hay trên mạng tại http://www.thuvien.eu/book/kt/tu_dien_kt.php

3) "[...]Teresa's most extended application of her feminist hermeneutic appears in her Meditations on the Song of Songs , a commentary written between 1566 and 1571 on several verses of the Song. Teresa's division of the tropological sense serves to demonstrate that the Church confines women's experience to the spiritual realm, denying them a history in any other sphere, and that her own fulfillment of the moral imperative of Scripture depends on an additional promise from God in mystical experience. Of all Teresa's works, the Meditations on the Song of Songs provoked the most hostile reaction from the Inquisition. Although Domingo Báñez signed one of the manuscripts of the Meditations to indicate his approval on 10 June 1575, in 1580, Diego de Yanguas, another of Teresa's confessors and a theologian of the Inquisition, ordered her to destroy the manuscript and all copies[...]Teresa is said to have burned the manuscript in his presence, but some of the numerous copies already made by her nuns survived in convent libraries...." (Carole Slade, St. Teresa of Avila -Author of a Heroic Life, trang 50-51, University of California Press, California, 1995)

 

4) "Nương -long" (mà bản dịch 2011 Đặng Ngọc Báu cũng dùng cùng một chữ  thay v́ "ngực" như trong Kinh thánh- Bản dịch mới của Hội Kinh Thánh Việt Nam, 2002, Hoa Kỳ) có nghĩa là vú theo cách hiểu thông thường. Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ, trong Việt Nam Tự điển, Quyển Hạ, trang 1006, định nghĩa chữ này là "ngực" và có dẫn thơ của Hồ Xuân Hương "Yếm đào trệ xuống giữa nương long". Nương -long", cũng theo hai ông, c̣n có nghĩa khác là "ḷng dạ" như trong "Lửa ưu phiền nung nấu nương long". Nghĩa thứ hai này ("cạnh sườn, ḷng dạ") cũng được Huỳnh Tịnh Của chú trong cuốn Đại Nam Quấc Âm Tự vị (trang 780). Trong Bản dịch Cadman-Phan Khôi, người đọc, kể cả bà Nhă Ca, nhận thấy rất dễ dàng "nương long" chính là đôi vú của phụ nữ v́ luôn được tả thành một cặp, thí dụ như trong: "Lương nhơn tôi giống như một chùm hoa phụng-tiên cho tôi. Nằm ở giữa nương -long tôi" (1:13)

 

 

Thánh-Kinh Từ-Điển, cuốn II (Wm. C. Cadman)

 

Một trang trong cuốn Thánh-Kinh Từ-Điển giảng về sách Nhă Ca (Wm. C. Cadman)

 

 

 

Sách NHĂ -CA -Cựu Ước, Lê Hoàng Phu dịch (Bản Diễn Ư, 1994, Hoa Kỳ)

 


Thánh Kinh Cựu Ước và Tân ước, Bản Diễn Ư, Lê Hoàng Phu dịch, Thánh Kinh hội Quốc tế xuất bản, Văn phẩm Nguồn sống phát hành, 1994, Hoa Kỳ

(Bản Tân ước đă xuất bản năm 1987, Hoa Kỳ)

 

 

 

"Nhă-Ca của Sa-Lô-Môn"-Kinh thánh Cựu Ước và Tân Ước, Bản dịch Cadman-Phan Khôi, khổ 14cmx21.5cm, b́a da mềm.

[Liên Hiệp Thánh Kinh hội (United Bible Societie) tái xuất bản 25.000 cuốn& Tổng hội Hội Thánh Tin lành (Miền Bắc) "chịu trách nhiệm nội dung", Hà nội, Việt Nam, 1998]

 

 

 

 

"Nhă-Ca của Sa-Lô-Môn"-Kinh thánh Cựu Ước và Tân Ước, Bản dịch Cadman-Phan Khôi, khổ 11.5cmx17cm, b́a cứng

[Thánh Kinh hội Mỹ quốc tái bản với đặc số "A(merican) B(ible) S(ociety)-1976-5000-D1", 5.000 bản, Nữu Ước, 1976]

 

 

(c̣n tiếp)

 

Nguyễn Tà Cúc
 

http://www.gio-o.com/Chung/NguyenTaCucVoPhien.htm

  

© gio-o.com 2013