Nguyễn Tà Cúc



công tŕnh phiên dịch Kinh thánh Tin lành Việt ngữ
 của Phan Khôi và
một vụ nghi án văn học trong Văn học Miền Nam

biên khảo

 

                                                        Mặt trời khác nào người tân lang  ra khỏi pḥng huê chúc,

                                                       Vui mừng chạy đua như người dơng sĩ.

                                                       Mặt trời ra từ phương trời nầy,

                                                       Chạy ṿng giáp đến phương trời kia;

                                                      Chẳng chi tránh khỏi hơi nóng mặt trời được

                                                                                     (THI-THIÊN 19: 5,6)

 

Trong loạt bài Phan Khôi và Công tŕnh phiên dịch Kinh thánh Tin lành Việt ngữ, người viết đă xác định được một cách tương đối chính xác Phan Khôi đă dịch các sách nào trong Kinh Thánh Tin lành Việt ngữ dưới sự cố vấn của ông bà (nhất là bà) Mục sư W. C. Cadman. Theo những tài liệu mà chúng tôi thu thập và phân tích th́ Phan Khôi đă dịch từ sách Thi Thiên cho tới hết Cựu Ước (trang 637-1070) rồi sang qua Tân Ước (trang 1-327). Sự hợp tác giữa hai nhà truyền giáo và một cây bút Việt Nam không những đă góp phần vào lịch sử báo chí Việt ngữ thời c̣n phôi thai lúc bấy giờ v́ không những Hội thánh Tin lành Đông Pháp có một tờ báo in ngay ở ấn quán của họ, mà c̣n để lại những đoạn dịch hết sức thơ v́ dịch giả chính là một tác gia nổi tiếng, Phan Khôi. Chúng tôi đă viết ở đoạn kết một bài trước:

-“Có thể nói không ngoa, bản Cadman-Phan Khôi là một bản dịch văn chương, chứ không chỉ tuyền tôn giáo trong lịch sử phiên dịch của chúng ta, nhất là khi người dịch chính là Phan Khôi. Bởi thế, bản dịch này mới dẫn đến một vụ nghi án văn học của thế kỷ XX liên quan đến một nhà thơ Miền Nam..."  

Nhà thơ Miền Nam đó là bà Nhă Ca và hai bài thơ trong vụ nghi án văn học này là "Đàn bà là mặt trời” và Một đoạn Nhă Ca". Cả hai bài xuất hiện lần đầu trong cuốn Thơ Nhă Ca do nhà xuất bản Thương Yêu, Hiện Đại tổng phát hành, tháng bảy 1972, Sài g̣n. Năm 1999, Thơ Nhă Ca được Vietbook USA tái bản tại Hoa Kỳ với nhan đề Nhă Ca Thơ tại Hoa Kỳ mà trong đó  “Đàn bà là mặt trời” và Một đoạn Nhă Ca” tái xuất hiện.

Trước khi tŕnh bày chi tiết, có hai điều nổi bật mà một người có dịp đọc cả hai cuốn Kinh Thánh Tin lành Việt ngữ (từ nay sẽ gọi tắt là Kinh thánh) và Thơ Nhă Ca (gồm hết cả đời thơ của tác giả, tổng cộng khoảng 51 bài) sẽ nhận ra ngay. Thứ nhất, nhiều chữ đặc biệt của Phan Khôi bị lấy nguyên văn như “ái t́nh tôi”, “người nữ”, “kỳ mạng”, “lương nhơn” vv nghĩa là những chữ sẽ không thấy ở 49 bài c̣n lại. Thứ hai, đó chính là tâm điểm của vụ nghi án văn học như sẽ mở rộng ra sau đây: khi lấy chữ, câu và/hay ư của một tác giả/tác phẩm khác mà không ghi rơ xuất xứ, sự trùng hợp bất thường ấy có thể bị coi như cố ư, nghĩa là “đạo văn”.

Một người tự nhận là nhà thơ như bà Nhă Ca có lẽ không thể không thấy nhiều thí dụ của cái “lễ” bất thành văn mà giới cầm bút dành cho nhau khi lấy chữ người khác. Gần th́ có Tô Thùy Yên. Trong Thơ Tuyển (tác giả xuất bản, Minnesota, 1995), ông chú hai câu thơ của Nguyễn Gia Thiều mà ông đă dùng mấy chữ làm tựa cho bài thơ “Giấc hoành môn” (trang 175, sđd): “‘Cùng nhau một giấc hoành môn/Lau nhau ríu rít c̣ con cũng t́nh’, Nguyễn Gia Thiều”. Xa th́ có Hồ Dzếnh với bài “Mẫu đơn” mà ông liệt kê hai câu ca dao làm bằng “‘Mẫu đơn ở cạnh nhà thờ/Đôi ta trinh tiết đợi chờ lấy nhau’, Ca dao” (Hồ Dzếnh, Quê ngoại, II-Tiếng hát thiên nga, Thanh văn xuất bản, 1993, Hoa Kỳ). Cũng không xa lắm th́ có Đinh Hùng với cuốn Ngày đó có em... (Những bóng dáng đàn bà trong đời Bích-Khê) do Giao Điểm xuất bản tại Sài g̣n, 1967 mà ông chú mấy câu ngay trên đầu sách: "Ngày đó có em đi nhẹ vào đời/và đem theo trăng sao đến với lời thơ nuối/ ngày đó có anh mơ lại mộng ngời/ và se tơ kết tóc giam em vào ḷng thôi" của Phạm Duy.

Ngay trong Tạp chí Gió-O, người đọc cũng thấy ngay một thí dụ điển h́nh của truyền thống đáng yêu ấy qua một người thuộc thế hệ sau và viết sau thế hệ bà Nhă Ca: đó là Lê Thị Huệ với bài Hiểu thấu điêu tàn mà tác giả kèm 1 câu của nhạc sĩ Trần Quang Lộc ngay khi vào bài: "Làm sao em hiều thấu /trong ḷng anh điêu tàn." Hai chữ "điêu tàn" này rất phổ thông, có thể Lê Thị Huệ cũng không cần trích ra làm ǵ, nhưng chính v́ tác giả trích ra mà người đọc "hiểu thấu" hơn nỗi ḷng của người viết. Lê Thị Huệ cũng đă chứng minh rằng mượn một chữ không phải là v́ người ta thiếu chữ. Cái chữ ấy nó chỉ  khởi đầu cho một cái ư "mang mang thiên cổ lụy" để tác giả dẫn đến một nỗi sầu hận long đong trùm ngập cả đất trời trước khi báo cho người đọc biết cái "điêu tàn" này ngậm một ư ǵ trong tâm cảnh tác giả. Cái "điêu tàn" của Lê Thị Huệ đương nhiên không phải là cùng cái "điêu tàn" của Trần Quang Lộc, v́ ư đă khác mà chữ chính ra cũng đă khác. Cái "điêu tàn" của Lê Thị Huệ là cái "Điêu tàn Lành[...]Nó vạm vỡ cái Sống Sót [...] Nó hữu thể sự Lành..." Nó là một sự "điêu tàn" đầy nghĩa khí, một sức sống vượt lên từ bao nhiêu địa ngục gây ra bởi những cái mà người ta cứ tưởng là không "điêu tàn", như cái ḥm kính choáng lộn của ông Hồ Chí Minh vẫn c̣n nằm vật vă ở Ba Đ́nh.

Bởi thế, quả là một sự kinh ngạc khi người viết t́nh cờ nhận ra quá nhiều trùng hợp giữa hai bài "thơ" trên của bà Nhă Ca và Kinh thánh. Chỉ mượn dăm chữ mà c̣n phải cẩn thận như thế, huống chi không biết bao nhiêu là chữ, là ư, là câu mà đă không những không đặt trong ngoặc kép-- một thứ luật bất thành văn khác mà người cầm bút nào cũng phải tuân theo-- để biểu thị sự vay mượn mà lại c̣n không bao giờ có kê xuất xứ như trường hợp 2 bài trên?

 

I-Tài liệu kiểm chứng

Khi đưa ra vụ nghi án văn học này, người viết dư hiểu rằng cần có bằng chứng không những phải đầy đủ mà c̣n dư dả hơn nữa để công bằng cho bà Nhă Ca, hiện sinh sống tại Hoa Kỳ, nhắm cho bà ta nhiều hơn một cơ hội để phản bác. Người viết đă sử dụng các tài liệu sau đây để kiểm chứng khiến dẫn đến kết luận nói trên:

1) Thơ Nhă Ca (Nhă Ca, Thương Yêu xuất bản, 1972, Sài g̣n)

Tuy người viết cũng có cuốn Nhă Ca Thơ (Nhă Ca, Vietbook USA- tái bản Thơ Nhă Ca , 1999, Hoa Kỳ) nhưng người viết sử dụng cuốn trước giản dị chỉ v́ cuốn trước đă được Diễn đàn Talawas số hóa và do đó, độc giả có thể kiểm chứng các tài liệu do người viết đưa ra trong bài. Cần nói thêm là bà Nhă Ca đă có hoàn chỉnh một số bài thơ vào lần xuất bản sau, nhưng không đủ quan trọng để bàn đến trong lượt này. Thơ Nhă Ca gồm ba phần. Cả hai bài "Đàn bà là mặt trời" và "Một đoạn Nhă Ca" đều được xếp vào "Phần Ba-Thơ cho t́nh ta".  "Đàn bà là mặt trời" gồm 108 câu, trang 128-136. "Một đoạn Nhă Ca" gồm 126 câu, trang 137-147.

2) "CÁC SÁCH VĂN-THƠ- SÁCH của GIÓP (trang 594-636), THI-THIÊN (trang 637-743), SÁCH CHÂM- NGÔN (trang 744-779), SÁCH TRUYỀN ĐẠO (trang 780-789), NHĂ CA của SA-LÔ-MÔN (trang 790-796); Cựu Ước- Kinh Thánh Tin Lành Việt ngữ, Thánh thơ Công hội xuất bản, Saigon, In lần thứ tám, 1963)

Thơ Nhă Ca xuất bản vào năm 1972 nên người viết dùng cuốn Kinh thánh-Bản dịch Cadman& Phan Khôi (vẫn được tín hữu Tin lành gọi là Bản dịch Truyền thống hoặc Bản dịch 1926) cũng xuất bản tại Saigon để đối chiếu hầu công bằng cho bà Nhă Ca, dù rằng mọi cuốn tái bản sau đó, dù là ngoài nước (như cuốn xuất bản năm 1976 tại Hoa Kỳ mà người viết được tặng vào tháng 10. 1976) đều được chụp từ nguyên bản mà không sắp chữ lại nên mọi số trang đều giữ nguyên như cũ. Độc giả tại Việt Nam sau 1975 nếu không có phương tiện đọc trên Talawas hay không có các cuốn Kinh thánh do Thánh thơ Công hội hoặc Thánh kinh Hội Việt Nam xuất bản, vẫn có thể đọc Bản dịch Cadman&Phan Khôi nhưng chỉ khác số trang v́ đă được sắp chữ và tŕnh bày lại (Kinh thánh Cựu Ước và Tân Ước-Các Sách Văn thơ,  trang 470-636) do Liên hiệp Thánh Kinh Hội đảm trách, Nhà xuất bản Hà Nội, 1998, Việt Nam.

 

II-"Đàn bà là mặt trời" và Sách NHĂ CA của SA-LÔ-MÔN, Kinh thánh

Chính sự thiếu liêm khiết trí thức của bà  Nhă Ca mà đă dẫn đến một sự kiện khôi hài có thể coi như một giai thoại trong làng làm sách. Đó là việc một tuyển tập thơ Nữ lại có lọt vào chữ của một nhà thơ đàn ông (Phan Khôi). Không hiểu Thúy Bắc, Đoàn Hương, Đỗ Bạch Mai, Xuân Tùng, Bế Kiến Quốc, Nguyễn Trác—những người nhận trách nhiệm tuyển chọn cho cuốn Thơ Nữ Việt Nam Tuyển chọn: 1945-1995 (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1994, Việt Nam)--có đọc Kinh thánh hay không mà tuyển ngay bài “Đàn bà là mặt trời” vào tập này? Hăy đọc sơ vài thí dụ mà người viết có kèm thêm số trang từ cuốn Thơ Nhă Ca để người đọc tiện theo dơi:

1) Nguyên bản: “Người nữ nầy là ai, hiện ra như rạng đông, Đẹp như mặt trăng, tinh sạch như mặt trời, Đáng sợ khác nào đạo quân giương cờ xí.” (NHĂ CA của SA-LÔ-MÔN, 6:10, Kinh thánh Tin Lành Việt ngữ-Bản Cadman&Phan Khôi, trang 794)

-“Hỡi các chị, chúng ta đều đẹp như mặt trời/tinh khiết như b́nh minh.” (Bà Nhă Ca, “Đàn bà là mặt trời”, câu 3, 4, Thơ Nữ Việt Nam Tuyển chọn, trang 283-Thơ Nhă Ca, câu 3, 4, trang 128)

Trong cuốn Nhă Ca Thơ (tái bản) bà Nhă Ca đổi chữ "đẹp" thành chữ "sáng" (trang113) nhưng sự vay mươn không v́ thế mà giảm đi.

2) Nguyên bản: “Đôi má ḿnh đẹp với đồ trang sức; Cổ ḿnh xinh với hột trân châu.” (NHĂ CA của SA-LÔ-MÔN, 1:10, sđd, trang 790)

-“trân châu cùng ngọc bích/để trang điểm cho chúng ta đẹp đẽ.” (Bà Nhă Ca, câu 42, 43; sđd, trang 285- Thơ Nhă Ca, câu 42, 43, trang 131)

3) Nguyên bản: “[…] Ḷng ghen hung dữ như Âm phủ; Sự nóng nó là sự nóng của lửa.” (NHĂ CA của SA-LÔ-MÔN, 8:6, sđd, trang 795)

-“Tôi…nóng hơn lửa/Chúng ta có ḷng ghen mạnh như băo.” (Bà Nhă Ca, câu 58, 85, sđd, trang 285-286- Thơ Nhă Ca, câu 58-trang 132; câu 85, trang 134)

3) Nguyên bản: “Ái t́nh ḿnh ngon hơn rượu.” (NHĂ CA của SA-LÔ-MÔN, 4:10, sđd, trang 792)

-“Để tôi làm ra ái t́nh và rượu ngọt.” (Bà Nhă Ca, câu 102, sđd, trang 287- Thơ Nhă Ca, câu 102, trang 136)

Những thí dụ ấy dù sao vẫn có thể chưa thuyết phục được nên người viết sẽ tŕnh bày cặn kẽ về “Một đoạn Nhă Ca”, bài thứ hai trong nghi án này.

 

III - Bài “Một đoạn Nhă Ca” (Nhă Ca) và CÁC SÁCH VĂN-THƠ -Cựu Ước, Kinh Thánh

Như đă tŕnh bày trong các bài trước, ngoài các tín hữu Tin Lành Miền Nam, cuốn Kinh thánh ít được phổ biến ra ngoài nên sự trá h́nh ấy mới có dịp phát sinh một cách quá ngang nhiên. Phải nói rằng bà Nhă Ca hẳn phải đặc biệt yên tâm về sự thiếu phổ biến đó cho nên không những đă lấy nguyên văn mà c̣n cắt xén rồi lộn lạo trong nguyên bản suốt các cuốn được mệnh danh là “các sách văn thơ” như SÁCH của GIÓP, THI-THIÊN, SÁCH CHÂM- NGÔN, SÁCH TRUYỀN ĐẠO, NHĂ CA của SA-LÔ-MÔN của Cựu Ước- Kinh thánh để đem chúng vào “Một đoạn Nhă Ca”:

1 - Lấy nguyên văn từ Các Sách Văn thơ của Cựu Ước, Kinh Thánh

1) Nguyên bản: “Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời/…/Ngày nầy giảng cho ngày kia/Đêm này tỏ sự tri thức cho đêm nọ.” (THI-THIÊN, 19:1,2, Cựu Ước-Kinh Thánh, trang 647)

-“đang rao truyền sự vinh hiển của hạnh phúc/…/ ngày hăy giảng nghĩa cho đêm / ánh sáng rù ŕ cho bóng tối” (Bà Nhă Ca, “Một đoạn Nhă Ca”, câu 3,5,6, Thơ Nhă Ca, trang 137)

2) Nguyên bản: “Nguyện sự tối tăm mịt mịt…/…bế cửa ḷng hoài thai ta” (SÁCH của GIÓP, 3:6, 10, sđd, trang 596)

-“tôi nguyện sự tối tăm mù mịt/bế ḷng hoài thai (Bà Nhă Ca, câu 12, 13, sđd, trang 138)

3) Nguyên bản: “Và tôi rên siết trọn ngày” (THI-THIÊN, 32:3, sđd, trang 656)

-“tôi […]rên siết, rên siết  măi” (Bà Nhă Ca, câu 14,  17, sđd, trang 138)

4) Nguyên bản: “mạng sống tôi tiêu hao v́ cớ buồn bực/…/sức mạnh tôi mỏn yếu …/Thật một sự ô nhục lớn cho kẻ lân cận tôi…/Kẻ nào thấy tôi ở ngoài đều trốn khỏi tôi/Tôi bị chúng quên đi như kẻ chết” (THI -THIÊN, 31:10, 11, 12, sđd, trang 655)

-“Dẫu tôi sức yếu mỏng hao ṃn v́ buồn rầu/dẫu sự ô nhục bắt đầu vào lẩn trốn trong tôi/tôi bị quên đi như kẻ chết/ (Bà Nhă Ca, câu 27, 28, 29, sđd, trang 139)

5) Nguyên bản: “Nhưng trong ḷng có sự giặc giă…” (THI-THIÊN, 55:21, sđd, trang 674)

-“Tôi sẽ có trong ḷng đầy giặc giă” (Bà Nhă Ca, câu 32, sđd, trang 140)

6) Nguyên bản: “Từ bốn phía sự kinh khủng…” (SÁCH của GIÓP, 18:11, sđd, trang 611)

- “v́ mọi phía luôn luôn có sự kinh khủng” (Bà Nhă Ca, câu 35, sđd, trang 140)

7) Nguyên bản: “Đức Giê-hô-va là ḥn đá tôi…” (THI-THIÊN, 18:2, sđd, trang 645),

 “Kỳ mạng tôi…” (THI-THIÊN, 31:15, sđd, trang 655)

-“những ḥn đá kỳ mạng…” (Bà Nhă Ca, câu 40, sđd, trang 140)

8) Nguyên bản: “…chúng nó trở lại tru như chó” (THI-THIÊN, 59: 6, 14, sđd, trang 677)

-“…đôi khi tru điên như chó sói…” (Bà Nhă Ca, câu 89, sđd, trang 144)

9) Nguyên bản: “Môi chân thật được bền đỗ đời đời/Song lưỡi giả dối chỉ c̣n một lúc mà thôi” (SÁCH CHÂM- NGÔN, 12:19, sđd, trang 757) và “C̣n ân dịch người như sương móc xuống trên đồng cỏ” (SÁCH CHÂM- NGÔN, 19:12, sđd, trang 765)

-“Chồi chân thực sẽ mọc đời đời/nhưng lưỡi gian dối cũng sẽ đâm chồi măi/c̣n ân nghĩa là sương móc gieo xuống cánh đồng/” (Bà Nhă Ca, câu 109, 110, 111, sđd, trang 146)

2 -Cắt xén nguyên bản:

Ngoài nguyên bản, c̣n những chỗ bà Nhă Ca đă lấy những chữ của Phan Khôi hay thay đổi rất ít hoặc bẻ vẹo đi từ nhiều câu và ư từ nhiều nơi khác nhau để lấy chữ và ư rồi xén, rồi chắp, rồi luồn nhắm xen kẽ thêm với những ư khác của chính ḿnh nhưng vẫn không giấu được cái gốc của nguyên bản nếu người đọc quen thuộc với Bản dịch Cadman&Phan Khôi. Đây là vài thí dụ điển h́nh:

1) Nguyên bản: “Tôi thao thức, tôi giống như. Chim sẻ hiu quạnh trên mái nhà” (THI- THIÊN, 102: 7, sđd, trang 709)

-“dẫu tôi quạnh hiu như loài hưou trên núi cao/như con tê giác nhẵn sừng hùng hổ/hay con chim sẻ trốn trên mái nhà.” (Bà Nhă Ca, câu 21, 22, 23, sđd, trang 138)

Ở đoạn này, bà Nhă Ca đă xén chữ hiu quạnh và chim sẻ ra làm 2 câu khác nhau, rồi cộng thêm một câu xem ra rất vô nghĩa là “tê giác nhẵn sừng hùng hổ” chỉ v́ có lẽ đă thấy chữ “sừng” xuất hiện nhiều lần trong THI- THIÊN. Trong Kinh Thánh, “sừng” là một biểu tượng của cả xấu lẫn tốt tùy từng trường hợp, nhưng trong sách THI -THIÊN, “sừng” thường được sử dụng như một biểu tượng của sự ban ơn phước của Đức Giê-hô-va như trong ;“[…] Sừng người sẽ được ngước lên cách vinh hiển” (THI-THIÊN, 112: 9, trang 720, sđd ) hay một sự cảnh cáo cho những kẻ kiêu ngạo, gian ác: “Tôi nói cùng kẻ kiêu ngạo rằng: Chớ ở cách kiêu ngạo; Lại nói cùng kẻ ác rằng: Chớ ngước sừng lên; Chớ ngước sừng các ngươi cao lên…” (THI-THIÊN, 75: 4,5, sđd, trang 690). Theo ư nghĩa đó, đă “nhẵn sừng” (nghĩa là đă bị Chúa trừng phạt th́ không cách nào c̣n hùng hổ được). Nếu không, th́ h́nh ảnh một con tê giác “hùng hổ” cũng đi ngược lại h́nh ảnh của một con hươu “quạnh hiu” và một con chim sẻ đang “trốn” trong cùng một đoạn thơ. Sự mâu thuẫn và vô nghĩa của một con “tê giác nhẵn sừng” xuất hiện rất vu vơ như vậy càng chứng tỏ sự lệ thuộc vào những h́nh tượng thuộc Kinh Thánh mà người mượn không thấu triệt được ư nghĩa.

2) Nguyên bản: “V́ miệng kẻ ác và miệng kẻ gian lận […]Vây phủ tôi bằng lời ghen ghét” (THI -THIÊN, 109: 2,3, sđd, trang 718)

-“Hỡi những gian dối và kẻ ác/không ngừng vây hăm hạnh phúc tôi” (Bà Nhă Ca, câu 48, 49, sđd, trang 141)

Một lần nữa, người đọc có thể thấy bà Nhă Ca đă đảo các chữ “kẻ ác” và “kẻ gian lận” rồi thay chữ “phủ” bằng chữ “hăm”.

3) Nguyên bản: “Các kẻ làm ác há chẳng hiểu biết sao? Chúng nó ăn nuốt dân ta khác nào ăn bánh,” (THI-THIÊN, 53: 4, sđd, trang 673)

-“hạnh phúc nuốt tội ác ngon lành khác nào ăn/ chiếc bánh kem.” (Bà Nhă Ca, câu 83, 84, sđd, trang 143)

4) Nguyên bản: “Kẻ ác đă tra tay trên những người ở ḥa b́nh cùng nó; Nó đă bội nghịch giao ước ḿnh. Miệng nó trơn láng như mỡ sưă…” (THI-THIÊN 55: 20, 21, sđd, trang 674)

-“c̣n tội ác cứ ngọt ngào trơn lu chói sáng.” (Bà Nhă Ca, câu 85, sđd, trang 143)

5) Nguyên bản: “[…] Nhưng thật là những thanh gươm trần.” (THI-THIÊN 55: 21, sđd, trang 674)

-“đời sống có gươm dao” (Bà Nhă Ca, câu 87, sđd, trang 144)

6) Nguyên bản: “Và lưỡi chúng nó khác nào gươm nhọn bén…” (THI-THIÊN 57:4, sđd, trang 675)

-“và chiếc lưỡi nhọn hoắt” (Bà Nhă Ca, câu 88, sđd, trang 144)

-“ăn cả chiếc lưỡi nhọn hoắt…” (Bà Nhă Ca, câu 96, sđd, trang 144)

7) Nguyên bản: “Cũng hăy khoái lạc nơi Đức Giê-hô-va…” (THI-THIÊN 37: 4, sđd, trang 660)

-“khoái lạc chàng …” (Bà Nhă Ca, câu 113, sđd, trang 146)

Thậm chí đoạn kết bài “thơ” này cũng không tránh khỏi một sự vay mượn rơ ràng:

8) Nguyên bản: “Hỡi kẻ làm ác, hăy ĺa khỏi ta”  (THI-THIÊN 119: 115, sđd, trang 727)

-“Hỡi những kẻ ác […] chào vĩnh biệt nhé.” (Bà Nhă Ca, câu 123, 126, sđd, trang 147)

Sau khi chứng kiến sự lục lạo của bà Nhă Ca để dễ bề sử dụng từ nguyên bản cho tới ư và cả chữ của Bản dịch Cadman-Phan Khôi,  người viết lại càng kinh ngạc khi thấy 3 đoạn ngắn trích dẫn từ sách NHĂ CA của SA-LÔ-MÔN đặt ngay vào đầu cuốn Nhă ca mới (xuất bản năm 1964, Sàigon dưới tên Trần Thy Nhă Ca) lại có những lỗi lầm quá trầm trọng. Những lỗi ấy chứng tỏ bà Nhă Ca không hề có một sự t́m hiều nghiêm chỉnh nào về Kinh thánh khiến cái nghi án văn học kia càng đậm nét hơn. Người viết thí dụ bằng đoạn trích dẫn thứ ba (trang 23, sđd) có những chỗ sai lầm nói lên sự cẩu thả không nên có của một người không những mang danh là “nhà thơ” mà lại c̣n (cả gan) lấy tên của một sách trong đó làm bút hiệu. Đây là nguyên bản từ sách NHĂ CA của SA-LÔ-MÔN, Cựu ước:

-“Hăy để tôi như một cái ấn nơi ḷng chàng

Như một cái ấn trên cánh tay chàng;

V́ ái t́nh mạnh như sự chết,

Ḷng ghen hung dữ như Âm phủ;

Sự nóng nó là sự nóng của lửa

Thật một ngọn lửa của Đức Giê-hô-va” (NHĂ CA của SA-LÔ-MÔN 8:6, sđd, trang 795)

C̣n đây là đoạn  do bà Nhă Ca trích dẫn:

-“Hăy để tôi như một cái ấn trong ḷng chàng

"Như một cái ấn trên tay chàng;

"V́ ái t́nh mạnh mẽ như sự chết,

"V́ ḷng ghen tàn bạo như điạ ngục

"V́ đó là sức nóng của lửa

"Và v́ ngọn lửa đó của Đức Giê hô Va (Trần Thy Nhă Ca, Nhă ca mới, Sàigon, trang 23-Người viết in ngả những chữ sai hay thừa so với nguyên bản.)

Không những Nhă Ca-Trần Thy Nhă Ca đă không cần để tâm học hỏi cách trích Kinh Thánh (phải chỉ rơ số đoạn và câu) mà quan trọng hơn, đă làm hỏng Bản dịch Cadman&Phan Khôi một cách vô ư thức khi làm mất sức mạnh của nguyên bản v́ có những chữ thừa hay thay đổi hằn. Phan Khôi hẳn phải có lư do để chọn chữ “âm phủ” thay cho “điạ ngục” v́ ư nghĩa, h́nh tượng và âm thanh gợi ra của hai chữ này có khác nhau. Sau nữa, từ "Ḷng ghen hung dữ như Âm phủ" (Phan Khôi) sang đến "ḷng ghen tàn bạo như điạ ngục " (bà Nhă Ca) là một sự hụt hơi chỉ v́ bà Nhă Ca đă sử dụng những chữ quá tầm thường không chuyên chở nổi một trong những t́nh cảm dữ dội nhất của phụ nữ. Trên hết thẩy, vẫn là sự tôn trọng tuyệt đối nguyên bản dù là có trái với lối suy nghĩ thông thường. Nếu không, người khác sẽ khó thể ḍ theo để t́m hiểu thêm hay kiểm chứng tài liệu.

V́ nghi án này liên quan đến Văn học Miền Nam, người viết cũng nhân đây mở một dấu ngoặc để có một đề nghị cụ thể nhắm giúp thêm phần dễ dàng cho giới biên khảo và độc giả nhất là khi Văn học Miền Nam đang được giới nghiên cứu trong nước đặc biệt quan tâm: các nhà văn Miền Nam nào đă đoạt giải Văn học Nghệ thuật của Việt Nam Cộng Ḥa cần ghi rơ đă đoạt giải thứ mấy và năm nào. Trong các tác phẩm (như Nhă Ca Thơ, 1999) mà người viết có dịp đọc, Nhă Ca cho biết rất mơ hồ rằng đă được “trao Giải Thi Ca Toàn quốc” nhưng không nói rơ là giải thứ mấy và năm nào. Theo Hồ Trường An, Nhă Ca đoạt giải “đồng hạng” cùng nhà thơ Tuệ Mai và một người nữa về Bộ môn Thơ vào năm 1967 (Hồ Trường An, Giai thoại hồng-Kư sự văn học, trang 245). Theo những nguồn tin khác th́ năm đoạt giải là 1966 chứ không phải 1967. Về Bộ môn Văn th́ chắc chắn vào năm 1970, Nhă Ca được trao giải ba- 50.000 đồng với Giải Khăn sô cho Huế, sau giải nhất- 200.000 đồng Tuư Hồng với Những sợi sắc không và giải nh́-100.000 đồng Thụy Vũ với cuốn Khung rêu (Khởi Hành Bộ Cũ, “Thời sự Nghệ thuật”, trang 2, ngày 4.2.1971). Nếu đúng như thế, Nhă Ca không bao giờ đoạt giải nhất nào hết.

Trớ trêu thay, điều quan trọng nhất là dù có đoạt bao nhiêu giải thưởng hay đă viết bao nhiêu tác phẩm, từ nay trở đi, rồi ra một nghi án văn học sẽ đeo đuổi bút hiệu của Nhă Ca đời đời v́ nó chỉ rành rành vào ngay cái nguồn NHĂ CA của SA-LÔ-MÔN Kinh Thánh. Sách này là một trong những thiên tuyệt tác của nguồn trí tuệ mạnh mẽ mà vô cùng hoa mỹ ấy. Không riêng sách Nhă Ca mà mở bất cứ sách nào thuộc 5 cuốn văn thơ như các sách THI THIÊN hay TRUYỀN ĐẠO cũng thấy những ư tưởng sâu sắc được miêu tả bằng một thứ ngôn ngữ kỳ diệu đă được chuyển ngữ hầu như nguyên vẹn bằng tài dịch của Phan Khôi . Với Kinh Thánh Tin lành Việt ngữ, sự nghiệp của Phan Khôi đă có một khúc ngoặt làm cho ngôn ngữ thơ Việt Nam thêm bội phần diễm lệ rồi được tiếp nối bằng các nhà thơ, nhất là ở Miền Nam sau này.

Một vấn đề không kém quan trọng khác--khiến thúc đẩy người viết đưa nghi án này ra ánh sáng mặt trời--là cần có sự t́m hiểu nhiếu hơn cho xứng đáng với công lao của ông bà W.C. Cadman nói riêng cùng Hội thánh Tin lành Việt Nam nói chung. Họ đă chịu bao nhiêu khổ nhọc để, không những góp phần vào việc phiên dịch Kinh thánh, mà c̣n đi tiên phong trong lịch sử in ấn của Việt Nam ở buổi đầu đầy chật vật ấy.

Khi nh́n lại, thời đại của Phan Khôi chỉ đi trước thời đại của các nhà văn Miền Nam không lâu. Nhưng cũng như các đồng nghiệp trẻ tuổi hơn ấy, chúng ta có thể thấy bao nhiêu vật đổi sao dời khi ông mới bắt đầu tham dự làng văn một cách lẫy lừng mà rồi phải kết cục cuộc đời trong cái tang thương của một thời kỳ đầy những “kẻ làm chứng gian và nói đều dối” trong một chế độ làm “đổ huyết” bao người ‘vô tội”. Nhưng ít nhất lần này, mọi sự có cơ sáng tỏ. Nhưng không  phải tự nhiên mà sáng tỏ đâu. Đó là v́ “có kỳ than văn, và có kỳ nhảy múa ; có kỳ nín lặng, có kỳ nói ra” (Truyền Đạo, 3: 4, 7). Bổn phận chúng ta là nay đă hết “kỳ than văn” và hết “kỳ nín lặng”. Đă tới “kỳ nói ra”, để nói tiếp Phan Khôi ở cái phần ông chưa nói hết, và sau đó, sao cho Văn học Miền Nam được giữ ǵn trong lịch sử nước nhà.  [NTC]

 

Nguyễn Tà Cúc

 



Cuốn Kinh thánh Tin lành Việt ngữ in lần đầu tiên vào năm 1926
do Hội Tin lành Đông Pháp tặng cho Hội Truyền giáo Phước âm Liên hiệp
(The Christian Missionary and Alliance)





bản KINH-THÁNH
CỰU-ƯỚC VÀ TÂN-ƯỚC
in lần thứ Tám
Saigon
Thánh-Thơ Công-Hội
1963




http://www.gio-o.com/Chung/NguyenTaCucVoPhien.htm

 

© gio-o.com 2013