Nguyễn Tà Cúc


BA BÀI THƠ RẮN

 

BÀI CA CỦA RẮN

 

Có những linh hồn không cần cứu rỗi
bám riết vào tội lỗi từ thời Sáng-Thế
những tội lỗi mở mắt trừng trừng trong đêm tối.

Những thời khắc tư tách rơi
như hạt cát trong chiếc lồng thủy tinh kín mít
người cũng tư tách rơi
trong khung đời úp ngược.

Bao nhiêu năm
người đi biệt tuyệt tích
mà trái tim tai ngược vẫn đuổi máu b́nh sinh
chạy tuôn về vết thương mở hoác.

Trí nhớ như một tên thích khách
chăm chắm xoáy mũi dao vào tâm tưởng
những tâm tưởng rách

 tuột mất cả bóng người thất tung.

 

Em là Phạm Công, là chàng Orphée
mà anh là Cúc Hoa, là nàng Euridyce
ngoảnh lại ngóng t́m anh khi cửa địa phủ chỉ gần đóng hết
mà sự nhân từ của mặt trời chưa kịp với tới anh
nên anh lại bị nuốt trọng vào cửa họng thần chết.

Trong ḷng bể chẽn như ṿng eo một nàng trinh nữ
tối như đêm dầy như đất
phục sẵn giống thuồng luồng đầy thịnh nộ
quấn siết cho tới khi linh hồn anh ĺa mất.

Làm sao em không thấy em là kẻ tật nguyền
như con rắn mái góa chồng bị truất khỏi hang ổ của nó
bởi sự giận dữ và ghê tởm
cuồng nộ như nước sôi của người dương thế
mà không thể trả thù.

Ôi em nào có đủ sức trả thù nổi số mạng.

 

Ḷng yêu anh sẽ chẳng thể lột ra khỏi tim em
mà không thay trở lại bằng một ḷng yêu đắm đuối hơn.
tựa con rắn
lột da ḿnh để sống.

Ḷng yêu đó là giềng mối của sự trung thành
tợ con rắn ngậm lấy đuôi ḿnh
thành ṿng tṛn toàn vẹn.
phục sinh bằng chính nọc độc của nó

Em không thiếu thốn ǵ
Em thành rắn
vừa là đực vừa là mái; vừa là anh vừa là em.
dẫu có giông gió tuôn nước hay sấm sét nháng lửa
em tự che đầu bằng chiếc bóng của anh
mà không phải đụt mưa
bằng bóng một người đàn ông tạm bợ nào đó.

“Ái t́nh mạnh như sự chết” *
nên sự chết chẳng phân ĺa được anh và em.
mở toang cánh cửa âm ty
bửa tung đêm tối vào thung lũng của sự chết

Ánh sáng lên, ánh sáng lên tưng bừng chói lóa
những giọt nắng như những nụ hoa
nẩy mầm từ đêm khuya
từ trăng trong gió mát.
khởi đầu một đời sẽ khác.

————————————–

Chú thích:

*Kinh Thánh Việt ngữ Tin Lành-Cựu ước, "Sách Nhă ca",  [Bản dịch (Cadman-) Phan Khôi, Đông Pháp Phước Âm Ấn quán (dưới sự điều khiển của Mục sư W.C.Cadman) hoàn tất tại Hà nội, 1925; Thánh thơ Công hội (Thánh kinh hội Anh quốc&Hải ngoại) bảo trợ và phát hành tại Thượng Hải, 1926)]

 

 

 

TỬ SINH

 

Rắn ơi, về ở với em

Quấn trong tâm sự  nỗi phiền tử sinh

Thịt da phô cuộc điêu linh

Đời giong những bước u t́nh chiêm bao

 

 

 

NGUYỄN THỊ LỘ và RẮN

 

(Tặng rắn feminist Lê Thị Huệ nhằm Năm Rắn&Tuổi Rắn 2013)

 

Roi vung. Huyết  liệm vệt quật

Ngẩng mặt, tṛng khô, lộ cổ xiết ṿng gông

Không một vành khăn tang chồng.

Nguyễn Trăi hẳn đương dơi ta từ tử huyệt

Gió ngàn say thớ nắng loe lóe

Dằn vặt tử thi ba đời họ Nguyễn oằn oại trên băi cỏ khan sóng bên sông,

 

Đường kinh thành lụi dần trong mây vẩn

Ḷ sát sinh sắp vắng một kiếp người

Kẻ bạc phước hiến cốt tủy cho cuộc duy tân

Hồn tân ṭng liệu tiếc đời dương thế?

 

Ôi ai áo xanh ai khanh tướng

Ai trầm luân ai mũ măo

Ai lầm than ai màn trướng

Ai cô tịch ai hát xướng

(Đại vương uy vơ, hoàng hậu truy hoan

Dân đen oan khuất, linh thần ẩn mặt)

Một nhát gươm lia, thiên địa trùng phùng

Thương ḿnh tợ thương chàng.

 

Vẩy oan phục? hay nọc oán độc?

Ta, Nguyễn Thị Lộ, chưa bao giờ kêu oan

Oan chăng tẩu tán giọt huyết đế vương?

Oan chăng dấu giếm một bà diệm phi thất sủng đương xoan?

Dẫu thân treo tuốt ngược, dẫu thịt bằm xương tan

Sẽ  không bao giờ kêu oan.

Từng có gan áo vải nằm đất chống giặc Minh cùng hảo hớn

Đă không hổ phấn son dấn gót đỡ  triều đ́nh cạnh chồng yêu

Lẽ nào chịu uốn lưng lậy van lời oan khốc? 

 

Mấy trăm năm sau bá tánh kể chuyện đời xưa cớ sao c̣n  ủ ê đ̣i chiêu tuyết?

Mà kẻ thất phu c̣n phun khói u mê, toan giật bút thư sinh, hung hăng đem chữ nghĩa treo lên hành quyết?

 

Thôi, xá chi mấy ngọn nến ôi đốt cho bà Lễ nghi học sĩ âm thầm trên phần mộ

Họa Trung quốc vẫn c̣n tươi , hăy sống dơng dạc mà hăy chết mạnh dạn như Nguyễn Thị Lộ

 

 

***Phụ chú của tác giả

 

Thông thường, người viết sẽ không chú thích một bài thơ mà ḿnh là tác giả. Thơ vốn là lời cô đọng. Lời thơ vốn là cảm xúc cô đọng. Nhưng qua kinh nghiệm của một người phê b́nh, lần này người viết phá lệ ấy.

 

I-Sự thiếu thốn tài liệu về Nguyễn Thị Lộ dẫn đến những kết luận cần xét lại về tác phẩm của bà

 

Năm 2009, khi có dịp nghiên cứu về trường hợp của những học giả hay tác gia ngoại quốc tuy mang tiếng chuyên về Văn học Miền Nam và Văn học của Phụ nữ Việt Nam mà không có một chút kiến thức căn bản nào về văn hóa Việt Nam --chứ chưa nói đến văn chương vội--người viết đă có dịp đơn cử một thí dụ điển h́nh là bà Lady Borton. Bà Lady Borton, một giáo sư Đại học Hoa Kỳ thiên Cộng sản Việt Nam, cư ngụ hẳn tại Hà nội sau những năm 70 và tham dự những công tŕnh đồ sộ về ông Hồ Chí Minh, đă được coi là người phụ nữ ngoại quốc đầu tiên  đă đưa chân dung thi ca của phụ nữ Việt Nam ra tŕnh diện với thế giới qua cuốn song ngữ Anh -Việt có tên The Defiant Muse: Vietnamese Feminist Poems from Antiquity to the Present (The Defiant Muse Series). Cuốn này do Nhà Xuất bản Nữ quyền thuộc hệ thống Đại học của Thành phố New York (The Feminist Press at City University of New York") hợp tác với Nhà Xuất bản Phụ nữ, Hà nội ấn hành tại Hoa Kỳ vào năm 2007.

 

 Bà Lady Borton là một trong ba chủ biên, bên cạnh hai quư bà Nguyễn Thị Minh Hà và Nguyễn Thị Thanh B́nh. Đây là một cuốn sách hết sức tệ hại. Điều tệ hại thứ nhất là những lỗi lầm dịch thuật bầy ra cái vốn thê thảm của bà Borton về văn hóa Việt Nam khiến người ta phải đặt dấu hỏi về khả năng biên tập liên đới  của hai bà Minh Hà và Thanh B́nh. Những lỗi lầm này càng đáng xấu hổ v́ cho thấy một sự tùy thuộc văn hóa rất "nhược tiểu" vào khả năng của người ngoại quốc khi  hai bà đồng chủ bút người Việt dành cho bà Borton quyền viết lời giới thiệu (dài 30 trang). Lời giới thiệu này cũng đầy những sai lầm hết sức căn bản về lịch sử và văn chương Việt Nam, như dám "phát kiến" rằng Hai Bà Trưng là những nhà thơ đầu tiên làm thơ lục bát mà lại trích dẫn nhầm từ Thiên Nam Ngữ lục! Ấy là chưa kể đến việc tên họ các tác giả đều không được đánh dấu tiếng Việt trong phần Anh ngữ, như "Nguyen Thi Lo" hay "Dam Phuong". Không một nhà làm sách song ngữ chuyên môn nào mà dám phạm phải cái lỗi bất kính đó, trừ "đế quốc Mỹ Lady Borton", nhất là khi các tác phẩm khác trong cùng một loạt "The Defiant Muse Series" này về các nữ tác gia Pháp hay Đức đều có bỏ dấu đầy đủ, nếu cần (như Renée  Vivien trong The Defiant Muse: French Feminist Poems from the Middle Ages  to the Present, 1986).

 

Điều tệ hại thứ hai là , trong một cuộc phỏng vấn của một kư giả Hoa Kỳ sau khi cuốn sách này ra đời, bà Borton đă chê bôi người Miền Nam tỵ nạn hải ngoại không đủ kiến thức và hiểu biết về văn hóa và văn chương Việt Nam để soạn thảo một tuyển tập tương tự (!!!) Phải chăng v́ thiên Cộng và có mặc cảm với người Việt chống Cộng nên tuyển tập này cũng đă loại ra nhiều nữ tác gia xứng đáng khác? Nhưng điều tệ hại thứ ba mà đối với người viết, cũng cần phải được bàn luận là thái độ thiếu thận trọng của Lady Borton khi đưa ra giả thuyết liên quan đến những nữ tác gia mà, cho đến nay, chúng ta chưa được rơ cho lắm về thân thế và tác phẩm. Một trường hợp điển h́nh là Nguyễn Thị Lộ, một tác gia mà ngay cả năm sinh cũng chưa xác định được.

 

Theo Đại đức Thích Đức Thiện (Hà nội) th́ bà sinh vào năm 1389, tuổi Kỷ Tị. Tuy là vợ thứ  nhưng bà vẫn được coi là người đồng đội với Nguyễn Trăi, từng cùng ông tham dự việc chống quân Minh, từng được phong làm Lễ nghi Học sĩ, từng cùng ông che chở  và hoàn thành một công việc nguy hiểm là đưa bà ( phi) Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao--lúc ấy có mang hoàng tử Lê Tư Thành (sau này là vua Lê Thánh Tông)-- đi ẩn ở chùa Huy Văn (Hà nội) rồi lẩn sang Quảng yên, tránh được cái chết có thể đến từ những  thế lực tranh chấp quyền bính trong triều đ́nh lúc bấy giờ mà Thần phi Nguyễn Thị Anh (thân mẫu của vua Lê Nhân Tông) là một. 

 

Trong tác phẩm thượng dẫn, ba bà biên tập đă trích một đoạn trong một bài thơ tương truyền là của Nguyễn Thị Lộ khi đối đáp với Nguyễn Trăi. Trong đoạn này có những câu như "Anh hùng gắng sức, anh hùng chí/Phận gái đào tơ, phận gái t́nh." Một đoạn khác mà họ không trích có những câu như: " Có kẻ t́nh ngoại giết chồng, nào sợ tuổi xanh lồng lộng" vv và vv

 

Dĩ nhiên quyền tuyển chọn là quyền của người biên tập, nhưng lẽ ra họ phải chú thích là một số học giả đă từ chối không công nhận bài thơ này là của Nguyễn Thị Lộ. Học giả Nguyễn Đổng Chi nhận xét như sau trong một chú thich về hai bài thơ tương truyền là thơ đối đáp ấy mà một là bài thơ "Bỡn cô hàng chiếu" và bài này:

 

-“Hai bài thơ trên kia theo ư chúng tôi, xét về h́nh thức th́ không phải là loại thơ xuất hiện thời Nguyễn Trăi, và mang so sánh với thơ Nguyễn Trăi th́ càng thấy đó không phải là thơ của Nguyễn Trăi làm. Chắc chắn là măi sau này, thế kỷ thứ XVII, XVIII, người nào đó làm ra và gán ghép cho Nguyễn Trăi và Nguyễn Thị Lộ làm để thi vị hóa cuộc t́nh duyên đó mà thôi.” (Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Trăi-Nhà văn học và chính trị thiên tài, Nhà xuất bản Văn-Sử-Địa, 1957, trang 44)

 

Mới đây, trong một cuốn sách có tựa Các nữ tác gia Hán Nôm Việt Nam do một số học giả có thẩm quyền hợp soạn xuất bản vào năm 2010 cũng không có Nguyễn Thị Lộ trong 12 người mà họ giới thiệu. Đó là Lư Ngọc Kiều, Lê Thị Yên, Ngô Chi Lan, Đoàn Thị Điểm, Trương Thị Trong, Phạm Lam Anh, Lê Ngọc Hân, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Thị Hinh, Nguyễn Trinh Thận, Nguyễn Tĩnh Ḥa và Nguyễn Thị Nhược Bích.

 

Riêng đối với người viết, sở dĩ những câu trong bài thơ này được chú ư và đặt dấu hỏi v́ cho dù Nguyễn Thị Lộ có là tác giả bài thơ này đi chăng nữa, nó cũng chỉ nói lên một phần quá ít về bà mà phần ấy, tiếc thay, lại bầy ra một chân dung mà người viết có cảm tưởng rằng không giống ngoài đời cho lắm.

 

 II- Nhân danh lịch sử để đàn áp quyền tự do tư tưởng và sáng tác tại Việt Nam

Người viết nhận thấy cho đến nay, chân dung Lễ nghi Học sĩ Nguyễn Thị Lộ vẫn gắn liền với vụ án Trại Vải (Lệ Chi viên) nơi Lê Thái Tông qua đời đột ngột, dẫn đến cái chết thảm khốc của gia đ́nh Nguyễn Trăi và ông bà.  Nhưng sự thiếu tài liệu cả về thân thế Nguyễn Thị Lộ lẫn nguyên nhân cái chết của Lê Thái Tông h́nh như đă dẫn đến mấy phản ứng sau đây của một số người thời sau: sẵn sàng chấp nhận mọi tài liệu (như trường hợp Lady Borton và Nhà Xuất bản Phụ nữ, Hà nội) hay  hạ bà xuống một thứ nhân vật phụ trước là chỉ theo Nguyễn Trăi sau là chỉ được chú ư đến v́ cái án tru di tam tộc kia hoặc sùng bái quá đáng.

 

Trước hết, sự sùng bái quá đáng ấy dẫn đến một kết quả đáng tiếc: phỉ báng hay kết án những tiểu thuyết gia nào dám đưa ra một cái nh́n khác về Nguyễn Thị Lộ dù đúng hay sai. Một việc phi văn hóa lại nặng tính đàn áp như thế đă xẩy ra. Ngày 20 tháng 10 năm 2008, hội viên của "Hội những người yêu kính Nguyễn Trăi và Nguyễn Thị Lộ" (do ông Hoàng Đạo Chúc nhận là Hội trưởng) đă cho phổ biến rộng răi một lá "Đơn kiến nghị xử phạt nghiêm minh vụ xúc phạm danh nhân Nguyễn Trăi, Nguyễn Thị Lộ" để xin "Các đồng chí lănh đạo Đảng và Nhà Nước" trừng phạt nhà văn Thúy Ái bằng luật pháp. Thúy Ái là tác giả truyện ngắn Tột đỉnh t́nh yêu mà hội này cho là "hạ nhục cực kỳ thô bạo, hiểm độc đối với Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ..." (https://vanhacyb.wordpress.com/tag/nguyen-thi-lo/). Nhưng thâm ư thực ra không chỉ là Thúy Ái. Cứ đọc thêm một câu trong đoạn kết  sẽ rơ: "Hiện nay ngày càng khó kiểm soát t́nh trạng in chui, photocopy phát tán tràn lan đủ loại văn hóa phẩm xấu..." Hóa ra cái tinh thần "cải cách ruộng đất" ở những khu ruộng chữ nghĩa vẫn c̣n tồn tại cho tới ngày nay ở mảnh đất mang tiếng ngàn năm văn vật.

 

Nhưng những người kết án Thúy Ái hẳn cố t́nh quên rằng nếu buộc tội như thế th́ cả nhà văn Trúc Khê Ngô Văn Triện (1901-1947), người đă tiểu thuyết hóa cuộc đời Nguyễn Trăi trong cuốn Nguyễn Trăi-Anh hùng dân tộc (Nhà Tân dân xuất bản lần đầu, 1940) lẫn nhà văn Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (1902-1977), người viết lời giới thiệu khi cuốn này được Trúc Khê Thư xă tái bản (1953) cần bị đem ra Ṭa trước hơn ai hết thẩy. Trúc Khê đă viết như sau về Nguyễn Trăi, Nguyễn Thị Lộ và vua Lê Thái Tông:

 

-"Trong năm Thiệu B́nh, vua Thái Tông nghe thấy tiếng hay chữ của Nguyễn Thị Lộ, bèn vời vào cung, giao cho việc dậy các cung nhân. Rồi vua mê say về sắc đẹp của nàng có khi giữ nàng luôn trong cung, ngày đêm hầu hạ bên cạnh ḿnh, và phong cho nàng chức Lễ nghi Học sĩ. Từ đấy Nguyễn Thị Lộ ra vào ở nơi cung cấm, th́ giờ về với Nguyễn Trăi thường khi lại ít hơn th́ giờ ở trong cung với vua Thái Tông. Việc đó ở đời xưa chẳng lạ ǵ. Ở nước Tàu, thủa xưa người ta thường dùng tỳ thiếp làm món quà trao tặng nhau, địa vị người tỳ thiếp rất rẻ rúng. Ở Tàu như thế, ở nước ta cũng không khỏi có cái phong ấy. Nguyễn Trăi đối với Thị Lộ, tuy không coi khinh rẻ như hạng nữ tỳ có thể dùng để trao tặng nhưng nay thấy vị thiếu quân đă có cử chỉ như vậy, vả thấy Thị Lộ cũng ham vui cùng thiếu quân lắm, ông bèn coi nàng hạ thấp xuống một bậc, và nhân thế có thể điềm nhiên trước sự không trong sạch của nàng. Nàng lui tới trong cung, đă từng bàn nhiều việc khiến vua phải nghe theo, v́ thế mà chẳng khỏi mất ḷng với nhiều người[...]Ngày mồng 4 tháng tám, xa giá về đến huyện Gia định [...] trụ tất lại ở Lệ Chi Viên[...]Lệ Chi Viên tức là một cái trại vải, nguyên xưa là chốn ly cung cả các triều Lư, Trần. Sau một thời kỳ xa vắng, hom ấy vị hoàng đế trẻ trung lại gặp Lễ nghi Học sĩ, người con gái tươi đẹp như hoa. Bởi thế người ta thấy thâu đêm Thị Lộ được triệu vào bồi rượu  chầu hầu chăn gối luôn trong ngự doanh, nhành hoa thược dược đă thấm được dồi dào dưới cơn thuỵ vũ. Song đến khoảng gần sáng ngày mồng 5,  bỗng  thấy Thị Lộ từ màn ngự nổi tiếng kêu thất thanh[...]hỏi Nguyễn Thị Lộ th́ nàng nói là thấy Thánh thượng đương nằm bỗng cựa đạp mấy cái rất mạnh, nàng vội đốt sáp lên soi..." (Trúc Khê,  Tuyển tập Trúc Khê Ngô Văn Triện, sđd, Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin, 2003, trang 99-101-Ngô Văn Trưng sưu tầm và chú thích& Vũ Quần Phương giới thiệu và tuyển chọn)

 

Đoạn viết trên đây của Trúc Khê --dù chỉ tuyền tưởng tượng nhưng v́ cuốn tiểu thuyết của ông dựa trên những cột mốc lịch sử và ghi lại nhiều phần trích ra từ ngay tác phẩm của Nguyễn Trăi nên đă khiến có người sau nhầm là ông lấy ra từ sử cổ-- cũng cho thấy không phải chỉ có ông mới chú tâm rất nhiều vào mối liên hệ nhục dục và chưa chắc đă có thực giữa Nguyễn Thị Lộ và vua Lê Thái Tông, thậm chí ám chỉ rằng chính bà đă gây ra cái thảm họa ấy v́ " Nàng lui tới trong cung, đă từng bàn nhiều việc khiến vua phải nghe theo, v́ thế mà chẳng khỏi mất ḷng với nhiều người" (sđd).

 

Khiến dẫn đến một giả thuyết khác, khiến dẫn đến bài thơ Nguyễn Thị Lộ và Rắn của người viết: phải chăng Nguyễn Thị Lộ mới đúng là một phụ nữ đi trước thời đại, mà đă đi quá xa khiến từ sử gia đến nhà văn cũng có những quyết đoán không có mấy phần thuyết phục về bà. Chính ra, theo ngu ư, nếu căn cứ theo những chi tiết ít ỏi trong sử, Nguyễn Thị Lộ lại là một phụ nữ đă bầy tỏ rất rơ nữ quyền của ḿnh.

 

III- Từ con rắn Kỷ Tỵ nữ quyền Nguyễn Thị Lộ tới các con rắn nữ quyền hậu sinh khác

 

Người viết đă căn cứ vào hai chi tiết có trong sử để đặt giả thuyết rằng Nguyễn Thị Lộ có đủ khả năng để sống và hành động không khác ǵ một người đàn ông. Đó là sự can dự trực tiếp vào việc ẩn giấu ấu chúa và có lúc phải ở lại triều đ́nh một ḿnh mà không có Nguyễn Trăi bên cạnh. Nguyễn Trăi hẳn phải tin và Nguyễn Thị Lộ hẳn phải biết rơ bản lănh của bà nên hai người mới có thể đồng ư để cho bà ở lại một nơi hang hùm nọc rắn mà có lần bị thất sủng và tù oan, Nguyễn Trăi đă phải kêu lên: “Tục cảnh kinh tâm suyễn nguyệt ngưu-Cơi tục ghê ḷng như trâu suyễn khi thấy trăng lên” (Nguyễn Huệ Chi, “Niềm thao thức lớn trong thơ Nguyễn Trăi”, Nguyễn Trăi-Về Tác gia và Tác phẩm, trang 454, Nhà xuất bản Giáo dục, 1999).  Cho tới nay, nhiều phụ nữ vẫn c̣n phải đương đầu với nhiều thành kiến bất công tương tự  hay lời ong tiếng ve khi họ tham dự việc chung mà có lối hành xử hệt như đàn ông. Người viết vẫn thường nói đùa với các bạn quư ông rằng họ vẫn được trọng đăi hơn: người ta vẫn thông cảm, thậm chí ca ngợi khi Nhất Linh hy sinh đời ḿnh cho văn chương và cách mạng nhưng chưa chắc bà Nhất Linh có thể bỏ con thơ để bôn ba!

 

Cho nên, người viết làm bài thơ này trên giả thuyết rằng lẽ ra không cần kêu oan cho Nguyễn Thị Lộ: khi bị bắt và bị giết, bà đă rơ lư do v́ chính bà biết trước sự nguy hiểm của công việc bà tham dự. Việc các sử gia viết những lời không đẹp về bà chẳng qua là v́ họ không vượt qua nổi cái thành kiến, rằng bà cũng chỉ là một thứ "nhi nữ thường t́nh" chứ không phải là một người đồng đội với Nguyễn Trăi. C̣n cái án giết vua th́ nay người ta chẳng c̣n tin sử gia hoàn toàn như xưa nên không c̣n cần bàn đến nữa. Vậy, cuối cùng, bài thơ này được dành tặng cho Lê Thị Huệ của Diễn đàn Gió-o, người có chủ trương rất rơ về Nữ quyền. Nhân thể, các cô bà tuổi Rắn (và cả mười một con giáp khác) cũng có thể coi bài thơ này dành cho họ, những phụ nữ đă tranh đấu cho sự thật, cho quyền sống và phát biểu như một con người, bất kể là Nam hay Nữ dù là bản thân có lúc bị thiệt hại đến đâu.  Khác với thơ t́nh mà có khi người ta tưởng lầm ḿnh là  người được tặng, là "người ở trỏng" (mượn lời Tô Thùy Yên); sẽ không có sự nhầm lẫn nào nếu một phụ nữ sống như chữ nghĩa của họ.

 

 

Nguyễn Tà Cúc

 


Từ trái qua phải: nhà thơ Viên Linh, nhà văn Hoàng Khởi Phong , nhà thơ Nguyễn Quốc Thái (người sống sót duy nhất của nhóm Tŕnh bày)
Nguyễn Tà Cúc, Chị Nguyễn Đ́nh Thuần, họa sĩ Nguyễn Đ́nh Thuần, họa sĩ Phan Diên. (8.2011)




http://www.gio-o.com/Chung/NguyenTaCucVoPhien.htm

 

© gio-o.com 2013