photo: Josh Last, sunset beach, ca, 8.2014

 

Nguyễn Tà Cúc

                                                      

Mặc Đỗ,

một đời không quy ẩn:

từ những năm Tiền-Bến Hải 

đến Văn học Miền Nam

và Văn học Biển-ngoài

 

Kỳ 3 (tiếp theo)

Kỳ 1 Kỳ 2, (bấm vào đây)

 

       Tổng chi, sau khi đă liệt kê một số những sáng tác cũ mới đă được phổ biến qua Phổ Thông, Văn, Thời Tập và Khởi Hành…, tôi có thể kết luận rằng Ngô Thế Vinh quả đă bất công với Mặc Đỗ khi đưa ra những mẩu thư không hẳn soi sáng được bao nhiêu mà chỉ gây thêm hiểu lầm trong khi tài liệu về đời văn Mặc Đỗ đă được ghi lại trên báo chí một cách trái ngược.  Hơn thế nữa, Ngô Thế Vinh càng bất công một cách cẩu thả hơn nữa khi gán 3 câu haiku của Mặc Đỗ Vào đời tràn háo hức/ Tiếp theo liền dằng dặc ưu tư/ Nhắm mắt c̣n ưu tư vào một lư do quá tầm thường: sự thất vọng về một tác phẩm không thể hoàn thành. Đây là nguyên văn sự bất công một cách đầy cẩu thả ấy từ Ngô Thế Vinh :

- "TÁC PHẨM LỚN KHÔNG THỂ VIẾT - Sau Lời Cuối trong tập truyện Trưa Trên Đảo San Hô c̣n có thêm một Phụ Lục Truyện Không Thể Viết, Mặc Đỗ tâm sự: “Với một người viết đáng buồn nhất khi thấy cần thành thật với chính ḿnh và quyết định không thể viết tác phẩm thèm viết[…] Tôi đă không thể viết[…]Kho tàng đó đang chờ những người Việt Nam dám lănh vinh dự và trách nhiệm là nhà văn.” [TTĐSH, lược dẫn Phụ Lục tr.219-230] Đó là nỗi buồn và cũng là cái giá rất đắt phải trả của một nhà văn lưu đầy. Không thể viết nhưng Mộng-ngày bao năm trước về một tác phẩm lớn vẫn cứ vất vưởng như một ám ảnh khôn nguôi đối với nhà văn Mặc Đỗ. Vào đời tràn háo hức/ Tiếp theo liền dằng dặc ưu tư/Nhắm mắt c̣n ưu tư…"

[Ngô Thế Vinh, sđd-Nguyễn Tà Cúc in đậm]

       Tôi dùng mấy chữ “bất công một cách cẩu thả” trong trường hợp này v́ Ngô Thế Vinh đă vô t́nh hay cố ư hiểu lầm Mặc Đỗ: Mặc Đỗ từng dành nguyên một trang sách nhắm báo cho độc giả biết ư nghĩa ba-câu đó [trang 451] vốn từ nông nỗi “cảnh mấp mé tái ngộ Annam Đô-hộ Phủ” in tiếp ngay theo sau [trang 452] trong cuốn Truyện Ngắn mà chính Ngô Thế Vinh cũng có nhắc đến qua bài thượng dẫn. Bất cứ độc giả nào đọc Truyện Ngắn cũng thấy ngay như sau:

[Trang 451, với chân dung Mặc Đỗ]

Vào đời tràn háo hức

Tiếp theo liền dằng dặc ưu tư

Nhắm mắt c̣n ưu tư

Ngay trang sau là "Giải thích ba-câu" [trang 452] do chính Mặc Đỗ viết lời giả thích:

"Hai người bạn thân Sàig̣n-Đàlạt từ mấy năm trước một dịp gặp ở Sàig̣n cuối năm 1944 ngồi cùng lạm bàn thời sự thế giới nhận thấy Thế-chiến sắp ngă ngũ cho nên cùng lạc quan: Nếu thành hôn gia đ́nh sẽ nở hoa trong thanh b́nh tự do. Đám cưới ngày 28.4.1945 rất sơ sài nhưng cũng có tế Tơ-hồng do anh Bs Ngô Quang Lư chủ lễ. Sau năm tháng chung sống tại Sàig̣n, tháng 9 quân Pháp, trà trộn trong quân Anh tới giải giới Nhật ở khu vực Nam bán đảo Đông- dương, cướp lại chủ quyền đă mất với Nhật tại Sàig̣n. Việt- minh cũng nổi lên giành quyền. Thanh b́nh ở đâu chưa thấy đă biến mất từ đó … cho tới nay già nửa thế kỷ sau. Bây giờ toàn đất nước từ “hữu nghị, môi hở răng lạnh” tới cảnh mấp mé tái ngộ “Annam Đô-hộ Phủ” dân Việt lúc nhắm mắt ai mà hết được ưu tư." [Mặc Đỗ-Nguyễn Tà Cúc in đậm và in ngả]

Nhà văn và Bà Mặc Đỗ

        “Hai người bạn thân này” chính là tác giả và bà Mặc Đỗ, c̣n ưu tư này chính là ưu tư về mộng xâm lược của Trung quốc, chẳng lẽ Ngô Thế Vinh đọc mà không hiểu nổi?! Khi tôi phỏng vấn Mặc Đỗ và xin một bức ảnh cùng đôi ḍng về thân thế bà th́ ông giao và cho phép tôi sử dụng bức ảnh dưới đây. Bà Mặc Đỗ là người rất quan tâm đến t́nh cảnh đất nước và lưu ư tới nữ quyền. Bà vẫn nhắn ông cho tôi biết ư kiến mỗi khi đọc xong bài tôi trên Khởi Hành. Bởi thế, ba câu Vào đời tràn háo hức/ Tiếp theo liền dằng dặc ưu tư/Nhắm mắt c̣n ưu tư…này biểu tỏ “nỗi ưu tư” của cả hai ông bà về một viễn tượng đen tối với người láng giềng Trung Quốc chưa bao giờ bỏ được mộng bành trướng đế quốc của họ.

       Sự suy diễn đầy ngộ nhận ấy đă dẫn đến một ngộ nhận khác sai lầm hơn nhiều: Ngô Thế Vinh đă nói sai về “cái giá rất đắt phải trả của một nhà văn lưu đầy.” Nếu phải trả một cái cái giá nào đó, Mặc Đỗ đă trả từ trước 1954 –chứ không phải khi bị “lưu đầy” sau 1975 — khi căn nhà tại Hà nội nơi có chứa 2 chiếc ḥm chứa đầy tài liệu khổ công thu thập “hơn mười năm” bị “bộ đội” cố t́nh thiêu hủy. Đó là lần phần thư thứ nhất khiến ông không bao giờ viết được "tác phẩm lớn" mà ông dụng công mô tả sau đây từ cách chuẩn bị đến lúc hy vọng tan tành, nhưng dù có thế nào, tác phẩm muôn đời trong hoài vọng ấy hay bất cứ tác phẩm nào vẫn không phải là mối “ưu tư” của đời ông:

"[...] Trở lại trước khi dời Hànội vào Nam nhận việc vấn đề lớn của người trai là thu gọn và cất giữ kho tài liệu dưới gầm giường ngủ. Người trai đến phố Hàng-Ḥm tính mua một cái thùng gỗ lớn bắt gặp hai cái thùng bề ngoài cũ nhưng rất chắc chắn lại có khóa tốt với đủ hai chiếc ch́a khóa của mỗi thùng. […] Tuy cũ nhưng khá rẻ người trai mua liền hai cái ḥm lính, đem về xếp vừa đầy chỗ cho mớ tài liệu. Hai chiếc ḥm được gửi lại nhà cha mẹ […] Bao nhiêu là thay đổi lớn đă xảy ra trên đất nước từ sau ngày người trai dời Hànội. Khi người trai trở lại bộ mặt thành phố thân yêu cũng không thay đổi mấy […] Về tới nhà bà Mẹ đă sẵn đợi. Con chưa kịp chào, mẹ chẳng nói, hai Mẹ con ôm nhau. Mẹ bỗng ̣a một tiếng khóc, bốn ḍng nước mắt chan chứa nặng muối mặn v́ chuyện mất mát do nửa ngôi nhà bị cố ư đốt cháy người con đă được cho biết từ trước. Đám cháy bạo tàn âm ỷ trong mấy ngày, khi bộ đội rút khỏi Hànội, đă thiêu rụi hai cái ḥm tài liệu cùng với những đồ vật quư khác của gia đ́nh. Mẹ từng quư báu lượng giá bao nhiêu năm công lao của con, trong khi con hiểu rơ chẳng c̣n cách chi viết ra được những ấp ủ, không riêng về thân phận những bà mẹ, những chị em gái khổ, nâng niu trong dự định viết. Sau nhiều kinh nghiệm đă học được, qua những tác phẩm đă đọc, người trai cần đề ra, với bao nhiêu chi tiết đă gom góp, những cảnh đời lớn trong đó thướt tha những bóng dáng nữ. Trong đầu hai mẹ con lúc đó chỉ c̣n thấy một rỗng không man mác đáng khóc hết nước mắt. Mộng một đời đă bay theo luồng khói đen trong đám cháy ác ôn. Sau đó người trai lo mưu sinh theo khả năng nhưng không bỏ ham mê từ khi chưa biết đọc và trải qua bao nhiêu năm học, tập. Mỗi khi in xong một tác phẩm người trai đều đem tới tŕnh Mẹ. Mẹ cầm cuốn sách trên tay ngắm nghía mặt b́a trước rồi lật lại ngắm b́a sau, ngước lên nh́n con với tia mắt xót xa thốt ba tiếng buồn ơi là buồn: Thôi cũng được! Cuối Thu Tân-măo 2011, tập truyện ngắn thứ ba, tác phẩm cuối đời, được in xong, một bịch 20 cuốn mới ra khỏi nhà in Viên Linh gửi từ Cali qua. Tôi cầm một cuốn trên tay, lật qua lật lại ngắm b́a trước b́a sau, mường tượng nghe ba tiếng yêu thương buồn Mẹ nhiều lần nhắc: Thôi cũng được!"        [Mặc Đỗ, “Mộng một đời”, Truyện Ngắn, trang 465-471]

       Sau nữa, khi Ngô Thế Vinh không nhắc đến sự cộng tác của Mặc Đỗ trên Khởi Hành, ông cũng đă bỏ qua một vấn đề đă phản ảnh trực tiếp vào đời văn Mặc Đỗ trong vài câu tâm sự trên. Đó là, dĩ nhiên, vấn đề phụ nữ: “Trong khi con hiểu rơ chẳng c̣n cách chi viết ra được những ấp ủ, không riêng về thân phận những bà mẹ, những chị em gái khổ, nâng niu trong dự định viết […] với bao nhiêu chi tiết đă gom góp, những cảnh đời lớn trong đó thướt tha những bóng dáng nữ…” [Mặc Đỗ, sđd]. Có thể tôi nhầm nhưng tôi vẫn tin rằng Mặc Đỗ đă xuất hiện trở lại qua nhiều bài cũ mới trên Khởi Hành, Hoa Kỳ cũng v́ tạp chí này rất quan tâm đến những vấn đề liên quan đến Phụ nữ. Cho tới nay, trừ những trường hợp đặc biệt, đa phần Khởi Hành vẫn dành số tháng 3 cho Chủ đề Phụ nữ. Thí dụ như Số 149, tháng 3. 2009 với hai bài phê b́nh cuốn tuyển tập thơ song ngữ Nàng Thơ ngạo mạn: Thơ Phụ nữ Việt Nam từ Thượng cổ đến Hiện đại do Lady Borton, Nguyễn Thị Minh Hà, Nguyễn Thị Thanh B́nh [Hà nội] đồng chủ biên và do Nhà Xuất bản Feminist Press thuộc “City University of New York” ấn hành. Khởi Hành luôn có nhiều bài phê b́nh về những sự kiện liên quan đến văn học và phụ nữ đă xẩy ra, thí dụ như bài “Nữ Quyền: Thái độ của Tự lực Văn đoàn với các Nữ đồng nghiệp Tiến bộ tại Miền Nam” [Nguyễn Tà Cúc]. Mặc Đỗ có nói rơ trong lúc được phỏng vấn và trong các bài tự sự, rằng tuy ông quen thân với Nhất Linh và quen biết vài người trong nhóm Tự lực Văn đoàn [Thế Lữ vv…], nhưng vẫn đồng ư với những nghiên cứu có chứng cớ dù có thể gây tranh luận, một sự tranh luận cần thiết cho bất cứ một sinh hoạt văn nghệ nào. Cũng v́ sự quan tâm đến phụ nữ, ông đă viết ba-câu sau đây:

Người nữ thèm giải phóng

Thời thế mở đường quang

Ra cửa thấy lóng ngóng

[Mặc Đỗ, “Đoạn 16”, ba câu ở biển ngoài, Khởi Hành, 2002]

 

       Tôi đang phỏng vấn ông về một vài vấn đề liên quan đến Phụ nữ th́ ông qua đời. Sau này, khi thuận tiện,  một tuyển tập quy tụ những phát biểu của ông về nhiều vấn đề từ Văn học Miền Nam tới Văn học Việt Nam Biển-ngoài, từ xă hội Việt Nam Cộng sản sau 1975 đến mấy vấn đề của Phụ nữ vv...sẽ được xuất bản để sử dụng như tài liệu bổ sung thêm vào cuộc đời sáng tác của Mặc Đỗ. Mặt khác, truyện dài Trăng Đỏ cũng sẽ được xuất bản theo ư nguyện của ông nếu mọi sự xẩy ra được như dự tính. Truyện ngắn "Trăng Đỏ" như chúng ta được đọc từ Sài g̣n thật ra là chương đầu của một truyện dài mà ông đă viết được ba chương rồi phải bỏ dở v́ bận công việc. Hai chương sau chưa kịp đăng th́ bị thất lạc trong lần bỏ nước ra đi.

Một trang bản thảo "Trăng đỏ", Mặc Đỗk

 

       Trước khi kết thúc phần này, tôi muốn nhắc tới bút hiệu “Mặc Đỗ” và, nhân thể, tới một kiểu sử dụng tài liệu của Ngô Thế Vinh mà tôi cho rằng cần phải xét lại v́ gây bất công cho các tác giả và hiểu lầm cho độc giả.

       Về bút hiệu của Mặc Đỗ, đây là nguyên văn của Ngô Thế Vinh, không có xuất xứ, bất kỳ từ thư riêng hay một thông tin công khai nào: Tên Mặc Đỗ được thân phụ đặt cho, có nghĩa là người họ Đỗ trầm lặng.” [Ngô Thế Vinh, sđd-Nguyễn Tà Cúc in đậm]. Câu đó hầu như lập lại nguyên văn một câu trong bài phỏng vấn của tôi: “Tà Cúc ơi, tôi đă được Thày đặt cho bút hiệu Mặc Đỗ (họ Đỗ trầm lặng, khiêm cung) tôi rất chịu và cố giữ măi như vậy…” [Nguyễn Tà Cúc, Khởi Hành, Số 98, trang 12-17, Tháng 12, 2004 và http://damau.org/archives/32050%5D. Theo tôi, “Thày” đó là một vị “lang y” [chữ của Mặc Đỗ] đă khai tâm và chỉ giáo về đạo Phật mà ông thuật lại khá rơ trong “Con đường tu”. Trong bài này, tất cả các chữ “Thày” đều được viết hoa. Tôi đặt nghi vấn rằng có lẽ Ngô Thế Vinh đă đọc bài tôi phỏng vấn rồi suy diễn từ chữ “Thày” dậy học hay thày hướng dẫn sang chữ “Thày”, tiếng xưng hô Miền Bắc với thân phụ. Ngô Thế Vinh có thể hiểu lầm như thế v́ càng không biết về gia thế [và ông thân sinh] của Mặc Đỗ.

       Nếu quả bút hiệu Mặc Đỗ là do thân phụ của ông đặt cho, tôi rất hân hạnh được Ngô Thế Vinh cho biết nguồn để bổ túc. Nếu không, tôi đề nghị ông phải trích dẫn nguồn tài liệu để, thứ nhất, không thể dựa vào công khó sưu tập hay công lao của một anh chị em khác rồi xoay vài chữ để độc giả tưởng nhầm đó là khám phá hay tư liệu của chính ḿnh. Ở trường hợp này, điều đáng nói thật ra cũng không phải việc tôi là người công bố tài liệu đó mà chính ra c̣n ở chỗ trường hợp tài liệu ấy được công bố như thế nào: Mặc Đỗ đă chọn để phát biểu trong một thời điểm có thể được xem là tối cần của Văn học Việt Nam Hải ngoại khi ông nhận ra sự im lặng lúc ấy có thể đồng nghĩa với khiếp nhược và/hay phó mặc các vấn đề của Văn học Miền Nam cho những người khác, nhất là những người ở thế hệ sau như tôi, chống đỡ. Bởi thế, chính sự lựa chọn trả lời và thái độ lên tiếng của ông một cách thành thực, có lúc sát phạt, cũng lại là một bằng chứng cho thấy ông không hề “quy ẩn” như Ngô Thế Vinh đă gán ghép. Thứ hai, chú thích một cách rơ ràng minh bạch không những  bầy tỏ thái độ liêm khiết trí thức mà c̣n là điều kiện tối thiểu để bạn đọc và các tác gia khác–nhất là những người nghiên cứu– kiểm chứng và/hay so sánh  sự chính xác của cùng một sự kiện.

       Tương tự, h́nh b́a cuốn tiểu thuyết Bốn Mươi của Mặc Đỗ trong bài Ngô Thế Vinh đăng trên nhiều diễn đàn trên mạng, ngay cả trong nước, chỉ chú thích nguồn "từ Internet ":

Chú thích của Ngô Thế Vinh: " b́a tiểu thuyết Bốn Mươi của Mặc Đỗ, Nxb Quan Điểm, Sài G̣n 1957 [nguồn: internet]- http://www.danchimviet.info/archives/96567/con-duong-mac-do/2015/06"

 

Tài liệu này chắc chắn ra có gốc từ một chỗ khác, không phải...vô chủ như lời chú thích kiểu "Trường phái Internet -Ở đời muôn sự của chung" như Ngô Thế Vinh đă làm.  Điều tôi muốn nhấm mạnh rất giản dị: chúng ta bên này nhiều khi không có đủ tài liệu, phải dựa vào tài liệu của các nhà sưu tập tại Việt Nam th́ khi sử dụng phải nêu rơ nguồn để tỏ ḷng công khai tri ân họ, những người đă v́ văn chương văn học mà sẵn sàng giúp đỡ dù có khi chính kiến trái ngược với chúng ta.

       Những bất cập ấy–dù là một thứ tai nạn hay một sự cố ư–cũng quan trọng như sự bất cập được đại diện bằng cách bỏ qua hay chỉ bàn rất sơ sài về tạp chí Phổ Thông, nơi lưu trữ những bài viết đầu đời của Mặc Đỗ và chứng kiến sự thay đổi về cảm quan chính trị của một nhà văn theo ḍng thời thế. Những sáng tác ấy không chỉ hé lộ hay quyết định khuynh hướng hay sinh hoạt văn nghệ, chúng c̣n cho thấy một sự nối tiếp giữa văn nghệ Tiền-Bến hải và văn nghệ tự do tại Miền Nam rồi Hải ngoại có khi qua cùng những đề tài mà giới nhà văn quan tâm đến: vấn đề chính trị. Nghĩa là từ thời Tiền-Bến Hải –một vùng báo chí và tạp chí tại Miền Bắc [lúc ấy vẫn c̣n tự do] khoảng mươi năm trước khi chia cắt mà nhiều người cầm bút cộng tác sau này quyết định di cư vào Nam– sang đến Văn học Miền Nam rồi Văn học Hải ngoại rơ ràng đă có một ḍng chẩy liên tục.

 

       IV-Tổng kết về một Mặc Đỗ không quy ẩn

 

       Tựu chung, bạn đọc, nếu được cung cấp tin tức, có thể đánh giá Mặc Đỗ một cách chính xác hơn là qua những mẩu thư được Ngô Thế Vinh tŕnh bày một cách rất khả nghi. "Khả nghi" v́ Ngô Thế Vinh là người trong cuộc, từng viết mấy bài xem ra rất chi tiết và rất công phu về vài nhà văn Miền Nam trước khi viết về Mặc Đỗ. Ông lại không xa lạ ǵ với sinh hoạt văn nghệ, giao thiệp rộng răi, xuất hiện khá thường xuyên trong các buổi quan hôn tang tế của giới văn nghệ. Một người như thế th́ không hiểu làm sao lại có thể bỏ quên hẳn một quăng mấy chục năm trong đời văn của một bạn văn mà ông nhận là thân thiết như Mặc Đỗ?

Tôi c̣n có thể nói chắc hơn nữa là không có biến cố quan trọng nào trong đời văn Mặc Đỗ mà chỉ t́m được qua những lá thư riêng ấy. Bằng cớ sau đây, nếu muốn sử dụng,  sẽ  rất công bằng cho nhà văn Ngô Thế Vinh khi muốn phản bác. Ông viết về bản thảo cuốn Bong bóng bay của Mặc Đỗ như sau:

"[...]  Trong sáng tác, Mặc Đỗ có quan niệm khá nghiêm khắc, cả với chính anh. Anh luôn luôn nhắc tới kỹ thuật là quan trọng nhất trong việc viết truyện [...] Khi viết về chính anh: “Riêng phần tôi, sau từng trải và đánh giá mọi khả năng c̣n lại, tôi bây giờ rất sáng suốt mà bi quan và tiêu cực. Thái độ này tôi giữ từ sau khi tự tay đốt cuốn truyện ‘Bong Bóng Bay’ kết quả của cả chục năm h́ hục.” [(Thư) Mặc Đỗ 01/11/1995] Cuộc “phần thư” lần này trên đất Mỹ là do chính tay anh, chứ không phải do kẻ bạo Tần của thế kỷ 21...." [Ngô Thế Vinh, sđd]

 

       Khác với vài câu trong lá thư trên, độc giả có thể biết đầy đủ chi tiết về nội dung cùng số phận Bong bóng bay và một phần lư do khiến phải tiêu hủy nó qua chính lời tác giả, đă đăng trên báo Văn, Số 102, Tháng 12.1990& Số 103, Tháng giêng. 1991. Mặc Đỗ giải thích hết sức cặn kẽ như sau:

"[...] Định rằng nghỉ viết nhưng hai ngón tay gơ máy vẫn ngứa ngáy. Cuối thập niên 70 tôi bắt đầu chuẩn bị tài liệu để viết một truyện dài về con người VN. Tựa đề truyện định là "hóa thân". Hai năm sau bước vào bố cục t́nh tiết rồi khởi sự viết. Viết khó lắm chớ không dễ dàng như xưa, khó không v́ máy chữ tàng mà v́ t́nh tiết trong truyện và tài liệu chồng chất thêm măi. Tôi viếtxong, khá đầy v́ tham súc tích chi tiết cần, từ ba năm nay. Khi viết xong, tựa đề của truyện không c̣n là "Hóa thân" và biến thành "Bong bóng bay". Theo thói quen, truyện viết xong th́ bản thảo và bao nhiêu ghi chép, tài liệu, được gom trong cái hộp giấy lớn đưa lên nóc tủ, chờ lâu lâu cho thật nguội rồi sẽ lấy ra đọc lại. Lần nầy, trong khi viết và khi viết xong, tôi không thấy thoải mái (Thanh Nam bảo là sảng khoái), mớ giấy đă bôi đầy chữ cứ ám ảnh. Một ngày mùa Đông năm ngoái tôi chợt t́m ra cái sự không ổn chữ nghĩa của ḿnh. Hộp giấy lớn được đưa thẳng từ nóc tủ vô cái miệng rộng của ḷ sưởi. Hàng xóm hỏi: "Đốt củi ǵ mà khói um?" Tôi nín lặng, thầm nghĩ: Không phải củi, nước mắt mồ hôi và máu; không phải khói, bong bóng bay! Vụ không ổn t́m ra: Môi trường tôi tưởng có thể là môi trường không phải là môi trường. Ông Chủ nhiệm hỏi, "điều ǵ đặc biệt muốn nói nhất về đời sống và kinh nghiệm sống của ḿnh, trong khung cảnh xă hội và đời sống ở Hoa Kỳ", tôi trả lời không đúng hẳn vào câu hỏi, v́ đời sống tị nạn của vợ chồng tôi cho phép rất ít tiếp xúc với xă hội Hoa Kỳ. Nhưng vụ đưa cái hộp giấy vô ḷ sưởi là biến cố nói lên nhất tâm tư tỵ nạn của tôi. Bây giờ tôi thấy sảng khoái lắm, như là ngồi uống với Thanh Nam. Tôi rất thú hai câu thơ Tuệ Sỹ:

Không phiền trược mong cầu chi giải thoát

Cứ thong dong như nước chẩy qua cầu.        "

[Mặc Đỗ, Trả lời cuộc "Phỏng vấn đặc biệt", Tạp chí n, Số đă dẫn, trang 18-20]

 

       Và sau hết, thế nào là "quy ẩn" sau khi tôi đă liệt kê khá đầy đủ những sáng tác và sinh hoạt tiêu biểu của ông trong cộng đồng di tản? Đây là định nghĩa của chính Mặc Đỗ về sự "quy ẩn"  sau khi ông rời Miền Nam:

"[...]Ngay từ khi c̣n ngồi trên máy bay dời khỏi đất VN, hai vợ chồng tôi đă bàn kỹ: Phải thảm hại bỏ chạy [...] mỗi đ̣n đánh Cộng đưa ra càng hữu ích hơn là ồn ào tham dự. Bài phỏng vấn của Tà Cúc và mỗi mỗi mỗi tôi đưa ra công khai đều bày rơ lập trường của tôi, bài viết cũng như sáng tác [...]Kết cục sáng kiến tái bản tập Truyện Ngắn không những in ra được hai bài Phụ lục, kèm theo những mũi dùi sắc như mảnh 'Giải thích ba câu'..."

[Mặc Đỗ, Thư gửi Nguyễn Tà Cúc, "Thứ ba 12 May 2015"-Nguyễn Tà Cúc in đậm]

       Bốn tháng sau khi tôi nhận được lá thư này, nhà văn Mặc Đỗ qua đời. Phải chăng với Mặc Đỗ th́ không "ồn ào tham dự" nhưng với Ngô Thế Vinh th́ "quy ẩn"?! H́nh như có một sự cực kỳ khôi hài khi một nhà văn như Ngô Thế Vinh nay hầu như không c̣n viết truyện nữa và đổi hẳn sang một lănh vực khác lại nhận xét về một nhà văn khác, vẫn sáng tác đến gần trăm tuổi, là ...quy ẩn? Cuối cùng, cảm tưởng của tôi sau khi đọc bài Ngô Thế Vinh viết về Mặc Đỗ là liên tưởng ngay tới một bài Ba-câu trong lá thư Mặc Đỗ gửi cho tôi vào ngày thứ năm 14. Tháng 11.2013:

 

"[...]            Hoành phi GANH GHEN GHÉT

       Treo cao giữa đại sảnh

       Của mỗi hội nhà văn

       Có viết về tôi đừng quên ba câu này. " [Mặc Đỗ, thư đă dẫn]

 

       Thật là tội nghiệp: Mặc Đỗ đă ...biết thân nên chủ trương cả đời không "ồn ào" mà đến khi gần hết đời vẫn không thoát khỏi cái họa phải đọc hoành phi do chính ông viết ra!

        

 

       V-Tưởng niệm các nhà văn chống Cộng sản

       Như đă nói trên, bài này được trích rồi hoàn chỉnh trong phần viết về Mặc Đỗ trong bản thảo cuốn Nhà văn Việt Nam và Văn học Việt Nam Hải ngoại: Những năm Tiền-Bến Hải  xuôi ḍng Văn học Miền Nam (1), một cuốn sách dự định sẽ xuất bản về hoạt động báo chí và văn nghệ trong khoảng mươi mười lăm năm tại Hà Nội trước khi đất nước bị chia cắt tại ḍng Bến hải. Diện mạo báo chí và nhà văn Miền Bắc khoảng mươi năm sau thời tiền chiến như thế nào? Diện mạo báo chí và nhà văn Miền Nam ngay sau khi Bến Hải trở thành biểu tượng phân ly ra sao? Và Miền Bắc? Tôi thường bị ám ảnh bởi mấy thắc mắc đó khi phải t́m hiểu về những vấn đề văn học xẩy ra trong quăng thời gian đầy biến cố chính trị bắt đầu từ năm 1945, một cái mốc lịch sử đă mở ra một cơi sống rạng rỡ cho Văn học Miền Nam nhưng đồng thời khép lại một cơi lắng tối ch́m cho Văn học Miền Bắc. Rồi ra, sau hai cuộc phần thư của người Cộng sản-- mà cuộc thứ nhất bắt đầu không phải bằng vụ Nhân văn-Giai phẩm [đó chỉ là một cuộc thanh trừng nội bộ giữa những người đă chọn cùng một chiến tuyến] nhưng lại từ quăng Tiền-Bến Hải tại Miền Bắc rồi cuộc thứ hai xẩy ra tại Miền Nam sau 1975-- tài liệu văn học chịu một một sự tuyệt diệt hầu như toàn diện tại cả hai miền Bắc-Nam, đặc biệt là sự tổn thất văn hóa nặng nề tại Miền Nam. Vào năm 1954, nếu tài liệu văn học như báo chí, ấn phẩm, tác phẩm được cứu vớt phần nào cùng với người di cư xuôi Nam lưu trữ trong các thư viện công cộng hay tư nhân th́ các tài liệu này sẽ bị thiêu hủy và phá hủy hầu hết sau 1975.

       Cuộc tuyệt diệt văn hóa ấy của người Cộng sản là một hành động công khai bầy tỏ sự thù hận khiến người ta nhớ lại những cuộc tuyệt diệt tương tự nhiều thế kỷ trước, chỉ khác những lần ấy là từ người Trung Hoa, nghĩa là không cùng một dân tộc,  sau các trận chiến tranh với Việt Nam. Dĩ nhiên người Cộng sản không chỉ thiêu hủy bằng chứng của một phần đất đă chống lại họ bằng văn chương và vũ khí suốt 20 năm, họ c̣n muốn lịch sử không lưu lại chứng tích [văn minh và văn học] ǵ của miền đất đó, khiến người nghiên cứu tương lai không có tài liệu tham khảo dẫn đến việc đặt giả thuyết hay trưng được bằng cớ hầu phản bác lư thuyết và bằng cớ do người Cộng sản đưa ra một cách độc quyền.  Riêng trong trường hợp này, quăng thời gian mà tôi quy vào thời Tiền-Bến Hải-- nghĩa là quăng thời gian khoảng mươi năm trước khi chia cắt đất nước lúc người Việt chống Cộng sản có trận thư hùng sinh tử với người Việt Cộng sản tại Miền Bắc trong khi vẫn phải lo chống kẻ ngoại xâm--là một thời gian rất phong phú tài liệu nhưng chưa được khảo cứu đúng mức.

 

       Trong khi chờ đợi, tôi thu thập, t́m tới tài liệu,  hay các nhà văn nhân chứng đă khởi đi từ thời Tiền-Bến Hải đế cố gắng vẽ lại một chân dung không những chỉ tuyền văn học mà c̣n phản ảnh hoạt động văn nghệ của nhà văn Việt Nam chống Cộng sản không chỉ bắt đầu từ 1954 tại Miền Nam mà c̣n từ Miền Bắc ra đến hải ngoại. Tôi c̣n tin những tài liệu như thế sẽ khiến tiểu sử văn nghệ của nhà văn Mặc Đỗ--một cộng tác viên thân thiết của tạp chí Khởi Hành, Bộ Mới khiến tôi có dịp hiểu rơ--dồi dào hơn và bớt đi  những ảo hoặc. [NTC]

 

 

Hết

 

 

CHÚ THÍCH

 

* Tất cả tư liệu hay h́nh ảnh liên quan đến Mặc Đỗ trong bài này, nếu thuộc về ông, đều được ông cho phép hay yêu cầu  tôi phổ biến.

 

(1)     Bản sơ thảo này đă được đăng trên website Người T́nh Hư Vô và Khai Phóng vào đầu tháng 11, 2015: https://nguoitinhhuvo.wordpress.com/2015/11/04/nha-van-viet-nam-va-van-hoc-viet-nam-hai-ngoai-nhung-nam-tien-ben-hai-xuoi-dong-nguyen-ta-cuc/

(2)      

 

 

Nguyễn Tà Cúc

 

http://www.gio-o.com/NguyenTaCuc.html

 

 

© gio-o.com 2016