Mười Năm 2001 – 2011

 

phỏng vấn
Vũ Hoàng Thư
phiến tản văn
ngân sang của chàng

thực hiện: Lê Thị Huệ

 

 

Lê Thị Huệ:  Vũ Hoàng Thư, một cây viết tản mạn trên Gió O. Anh có thể cho biết anh bắt đầu sáng tác từ bao giờ ?

 

Chào chị Lê Thị Huệ và Gio-O. Tôi bắt đầu viết khoảng hơn 10 năm nay nhưng viết rất ít.  Đó là sự trở về với những cảm hứng có từ thời mới lớn nhưng v́ hoàn cảnh chiến tranh và những bận rộn đẩy đưa theo đời sống tị nạn mà tôi không có th́ giờ để ghi lại.

 

 


Lê Thị Huệ:  Trên Gió O, tôi thích dùng từ "tản mạn" cho dễ "gặp gỡ" với bất cứ đề tài nào, cách viết nào không phải là nghiên cứu (có trích dẫn công phu từ những nguồn uy tí, đáng tin cậy). Nhưng nếu có tác giả nào yêu cầu ghi theo cách của họ, th́ tôi cũng làm theo yêu cầu. Tùy bút, tùy kư, tản văn, tạp văn, tạp ghi, tạp bút vvv ... anh thích dùng từ nào ? Và tại sao ?

 

Vậy th́ hăy thử “tản mạn” đôi chút về từ “tản mạn” nhé. Nói theo mấy cụ đồ th́ “tản” có thể là tan như mây bay, là rời rạc không quy tắc, lại cũng có nghĩa là nhàn rỗi. Rồi tản là hạt mưa rơi xuống gặp môi trường khí hậu đầy đủ đóng thành hạt đá nhỏ, gọi là mưa đá. Sự kết tinh khi gặp đúng nhân duyên ? Tản c̣n là cái dù che nắng, che mưa […đá nhỏ]. Cho nên khi nhàn th́ ta cứ “tản” một cách không cần quy củ, nói nôm na là rất cà khịa. Và cà khịa một cách rất chịu chơi các thứ. Bây giờ xoay qua chữ “mạn”. Một nghĩa của động từ “mạn” là khinh thường, tỉnh từ “mạn” là tràn đầy, bao trùm, sáng láng, phó từ “mạn” là thong thả, là phóng túng. Danh từ “mạn” cũng nói đến một thể từ đời nhà Tống. (“mạn” đôi khi cũng hàm ư [xấu] lười biếng). Ta sẽ chọn nghĩa nào khi kết “tản” và “mạn” cùng nhau ? Có lẽ sẽ nổ bung thế giới. Nổ bung trong ư nghĩa hủy diệt để tái tạo. Nó hàm chứa sự rộng răi, phóng túng, bao trùm, thông tuệ một cách rất là bất quy tắc. Như hạt mưa. Có khi là nước, có lúc là tuyết, những hạt sẽ theo ḍng tan vào đại thể, đại dương bao la kia… Tôi bỗng thích từ “tản mạn” của chị.



 

Lê Thị Huệ:  Tản mạn của Vũ Hoàng Thư trên Gió O là một trong những tác giả mà tôi thích đọc. Tôi t́m thấy sự tri âm về những rung động và nhận thức của một người sống ở ngoại quốc lâu năm nên có được một tầm  nh́n mang tính "thế giới" rộng, thoáng, nhưng có chắt lọc cái nh́n của người Việt kỹ ... xài chữ.  Những tính chất này tôi khó t́m ở những bài tản mạn của những người sống trong nước hay của những người chưa sống với người ngoại quốc ... nhăo nhừ ra. Có thể nhận xét của tôi sai?


Tôi vui v́ sự tri âm và cám ơn chị về những lời cổ động.

 

Chị không sai tí nào. “Ra sông, biết mặt trùng dương…” Lời Viễn Du của Phạm Duy có phần nào gần với nhận xét của chị. Rời con sông phía sau để trừng mắt nh́n đại dương lớn trước mặt. Vấn đề là mở mắt và không khép kín ḷng. Ôm khư khư chiếc vỏ tạo nên biên giới và tị hiềm. Thảm nạn Nhân Văn Giai Phẩm là hệ quả của bưng bít chật hẹp thôn làng trong vô sản luận ră rượi xác xơ nghèo. Nghèo ở tinh thần, ở suy tư, và sự rộng lượng. Thêm vào đó ḷng tự ti và sợ hăi với cái mới. Hy vọng sự kiện toàn cầu hóa bằng thế giới liên mạng sẽ đem giới sáng tác trong nước đến gần với thế giới bên ngoài hơn. Chúng ta đă thấy thành quả đó trong những năm gần đây, một điểm đáng mừng không chỉ trên lănh vực văn hóa mà c̣n ảnh hưởng đến chính trị và xă hội. Tṛ bưng bít khó c̣n là vũ khí hữu hiệu như đă có lần tác oai tác quái trong thế kỷ trước.

 

Và cũng quan trọng không kém, đừng quên cửa sông nơi khởi điểm của đời ḿnh. Thiếu con sông ấy, con thuyền chẳng thể phiêu lưu vào đại dương. Và thủy thủ nào lại không có giấc mơ một ngày về bến?

 

 

 

Lê Thị Huệ:  Sự lưu vong nằm ở đâu trong đời sống tinh thần của anh ? Quê Hương, t́nh trạng của từ này xuất hiện như thế nào trong đời sống hiện nay của anh.

 

Quê Hương gắn liền với nơi tôi sinh ra. Thời gian ở Mỹ của tôi dài hơn thời gian tôi lớn lên và sống ở quê nhà. Cho nên chẳng thể dùng thời gian để đo lường sự gắn bó.

 

Câu thơ Đỗ Trung Quân "Quê hương là chùm khế ngọt" thoạt đầu nghe chưa sến lắm. Dần dà câu thơ bị cọng sản việt khai thác thành sự ỡm ờ hợp lưu chiêu dụ, câu thơ đâm sến hẳn ra. Khế ngọt đă bị lạm dụng thành danh từ ru ngủ của chế độ [như bao điều tốt đẹp khác mà họ vẫn nhân danh] nhưng thật sự khế ngọt đă tội t́nh ǵ? Tôi c̣n nhớ mẹ tôi cất giú khế ngọt trong những vịm nước mưa để dành cho lúc trái trời, những khi “mưa mô gió nớ”, chợ búa không họp. Nước mưa năm cũ nơi lát khế thấm vào đầu lưỡi giữa mùa mưa năm nay. Cứ thế châu lưu huyết quản và hơi thở. Năm kế năm, mưa và khế, Quê Hương là như vậy. Ai có thể dứt bỏ được ra khỏi bộ nhớ ? Nhớ làm người không thấy lưu vong dù ḿnh ở phương trời nào. Vong bản làm con người lưu vong không chỉ trên lănh vực địa lư mà c̣n đến cả phương diện tinh thần, cho dù đang ở ngay trên Quê Hương.

 

 

 

 Lê Thị Huệ:  Anh có để ư về việc làm mới ngôn ngữ của ḿnh không ? Nhu cầu và kinh nghiệm dùng tiếng Việt của anh như thế nào ? Việc sống xa Việt Nam và vẫn sáng tác bằng tiếng Việt gây cho anh suy nghĩ ǵ về vai tṛ đời sống của tiếng Việt ngoài biên giới Việt Nam.

Không biết tôi có chú tâm đến sự làm mới khi viết hay không, chỉ thấy những khắc giây căng thẳng một cách tự nhiên khi sáng tác. Sự căng thẳng đó bùng phá ra chữ nghĩa, và tôi để cảm hứng dẫn chạy. Đôi khi t́m ra chữ vừa ư thấy có chút thích thú với cái bắt tay cùng thơ mộng, c̣n nếu không th́ xem đó như một sự đùa vui với chữ nghĩa vậy thôi.

 

Hiện tại ngoài việc thỉnh thoảng gửi bài cho Gio-O, tôi c̣n là chủ biên của trang mạng Văn Nghệ Biển Khơi (www.bienkhoi.com) với sự góp mặt của một số văn hữu và anh chị em cựu Hải Quân VNCH. Có thể nói thế giới liên mạng đă đem tiếng Việt đến nhiều ngơ ngách mà báo in trước đây đă không làm được, nhưng dù muốn dù không, lớp người tị nạn 1975 sẽ già lần và không c̣n nữa. Tiếng Việt có lẽ sẽ mất dần trong sinh hoạt văn hóa khi thế hệ thứ hai, thứ ba lớn lên. Hăy duy tŕ và cổ động một nền văn học hải ngoại như Gio-O và nhiều trang mạng, cơ sở khác đang làm. Hơn thế nữa, nền văn học hải ngoại phải quay đầu trở về quê mẹ. Trở lại để thổi luồng gió nhân bản và “văn hóa” hơn đến đầu óc của những kẻ đang cai trị tại Việt Nam hiện nay. Hồi đầu cũng là trở về phương đông. Bùi Giáng đánh đu với văn học Tây Phương nhưng ông về ngủ với Nguyễn Du. Nguyễn Du “Việt” hóa một câu chuyện Tàu khiến ta quên hẳn cái nguồn gốc Tàu của nó. Đó là tuyệt chiêu trong sự tiêu hóa đồ ngoại để sản sinh nên máu mủ Việt.



 

Lê Thị Huệ:  Anh từng là Trung Úy Hải Quân Miền Nam Việt Nam trước 1975, anh muốn nói một điều ǵ đó về Chiến Tranh Nam Bắc 1945-1975 ?

 

Nh́n lại cuộc chiến đó bao giờ cũng thấy buồn. Nam-Bắc phân tranh bây giờ đă thuộc vào thế kỷ trước nếu nói theo phép tính thời gian. Trên phương diện tâm lư, đó vẫn là một vết thương vừa mới xảy ra hôm qua. Gần bốn thế kỷ trước, thời Trịnh – Nguyễn người dân Việt nghĩ ǵ về sông Gianh ? Một sự tranh giành quyền lợi, thế lực trong gia đ́nh giữa anh em ? Cuộc chiến 1945 – 1975 diễn lại màn kịch cũ với sự đạo diễn của các thế lực ngoại bang. Thế hệ tôi bị xô đẩy vào cuộc chơi mà không có sự lựa chọn nào. Chúng tôi cầm súng và làm hết nhiệm vụ của ḿnh trên danh nghĩa bảo vệ Tự Do nhưng vui sướng ǵ trong sự chém giết giữa người Việt với nhau ? Cũng như thế, thanh niên miền Bắc hạnh phúc ǵ khi vùi thân ở Trường Sơn trên danh nghĩa Độc Lập?  Đối đầu với chủ nghĩa Marxist Tây phương là chủ nghĩa Tư bản phương Tây ngay trên đất nước Việt Nam. Lănh đạo của hai miền chưa bao giờ biết thế nào là Tự Do và Độc Lập. Họ chỉ là những con múa rối. Bao giờ họ mới chịu trở về với bản chất Việt của ḿnh?  Để hàng triệu người không phải hy sinh một cách oan uổng ? Thành tŕ Tự Do đă sụp đổ năm 1975. Cái gọi là thành tŕ Độc Lập kéo dài một cách ĺ lợm cho đến hôm nay để vuốt mặt không ngượng ngùng trước Hoàng Sa và Trường Sa. Ít ra Hải Quân Việt Nam Cọng Ḥa đă làm sống lại tinh thần Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn vào đầu năm 1974 trước bá quyền tàu cộng ở Hoàng Sa. C̣n hiện tại, ta chỉ thấy Hà nội thỏa hiệp và cúi đầu.



 

Lê Thị Huệ:  Anh cũng là người thành công với đời sống hàng ngày. Một công việc vững chắc, đời sống vật chất đầy đủ, đi du lịch khắp nơi trên thế giới, anh cho độc giả một cảm tưởng của anh về đời sống, nói một cách tổng quát.

 

Tỵ nạn đến Mỹ năm 1975, tôi bắt đầu từ bậc thang thấp nhất rồi sau đó vừa đi làm vừa đi học đồng thời phải lo cho gia đ́nh như mọi người tỵ nạn khác. Có gian khổ và cũng gặp may mắn, bây giờ th́ xem như tạm ổn. Qua những thăng trầm của đời sống, càng lúc càng thấy mọi sự chỉ là những thoáng mong manh. Quê hương, đất nước, kẻ thân yêu, bạn bè bỗng trong một ngày xa mất hút. Gặp gỡ trên đời là một sự kỳ diệu của nhân duyên. Như nh́n thấy một ngôi sao rơi trong đêm, sự hội ngộ giữa một sinh linh ở giây phút hiện tại với một thiên thể nào đó đă ră tan từ hàng tỉ năm trước, sẽ không xảy ra một lần thứ hai, hay biết đến bao giờ ? Cũng như thế, chúng ta gặp nhau trên cuộc đời, có khi gần gũi lâu dài, đôi khi hàng chục năm sau mới gặp lại hay sẽ không bao giờ, đố ai biết. Đời sống theo tôi là sự kết hợp của những nhân duyên đó trong ḍng luân sinh, xin mượn  danh từ này của Thi Vũ. Thoạt nh́n bên ngoài như hỗn mang nhưng bên trong là một hỗn mang có trật tự. Và chúng ta dự phần trong việc thiết lập nền móng trật tự kia. Hăy yêu quư lúc c̣n bên nhau. Giây phút gặp gỡ này có thể tái diễn mà cũng có thể là vĩnh viễn thiên thu.

 

 

Lê Thị Huệ:  Câu cuối cùng, có điều ǵ trong thế giới văn chương net Gió O làm cho anh thấy đáng ghi nhận ?

 

Lâu lắm trước đây, lần đầu tiên đọc Lê Thị Huệ qua Đà Lạt Mỵ Nương Sầu đă gây ấn tượng ở tôi về một tâm hồn thơ và sự lân cảm đối với thi sĩ của chị. Tôi rất thích. Vài năm sau nghe O Huệ lập gia trang nơi xứ ảo, ghé chơi tôi thấy được người chủ biên có biệt nhăn hiếm có. Tôi nghĩ những người có thao thức và muốn duy tŕ cũng như nối dài nền văn hóa nhân bản của miền Nam trước 1975 phải ghi nhận những đóng góp quan trọng của Gio-O. Thơ T́nh Nam 1975 trên Gio-O hiện nay là một thí dụ điển h́nh.

 

Gio-O là một trong những trang mạng đầu tiên chú trọng đến những lănh vực khác ngoài văn chương như nhiếp ảnh, âm nhạc, họa...  đối diện với gần hết năm tầng giác quan của con người. Một trang mạng do một nữ lưu bén nhạy cầm cán và có sự đóng góp của nhiều nữ lưu khác. Mười năm không phải là một thời gian dài trong văn học nhưng bước vững vàng ở hải ngoại cũng như gây tiếng tăm trong nước sau mười năm là thành tích rất đáng kể mà Gio-O phải hănh diện.

 

Tôi tin tưởng sự tiến dài và xa của Gio-O trong tương lai. Nếu lỡ mai thấy oải lắm rồi th́ cũng b́nh thường như mọi sự vốn vô thường trên mặt đất. C̣n bây giờ, c̣n sức hăy cứ vui và lộng gió nghe chị Lê Thị Huệ ! Chúc mừng 10 năm Gió-O...

 

Lê Thị Huệ:  Cám ơn nhà văn Vũ Hoàng Thư.

 

 

trang liên hệ: sinh hoạt Gió O Mười Năm 2001-2011

http://www.gio-o.com/GioOMuoiNamTQ.htm

 

 

© gio-o.com 2011