
ĐOÀN NHĂ VĂN
Tâm Trạng Của Thanh Niên Miền Nam
Trong Thời Ly Loạn
Đọc Lại Mùa Biển Động của Nguyễn Mộng Giác
Nguyễn Mộng Giác là tác giả của nhiều tập truyện ngắn, tiểu thuyết và hai bộ trường thiên. Nh́n vào những tác phẩm sáng tác ở ngoài nước, tiểu thuyết “Mùa Biển Động” có thể được xem là tác phẩm chính của ông.
Chiều dài thời gian trong bộ trường thiên kéo dài từ cuối 1963 đến 1981. Một số sự kiện chính xảy ra trong giai đoạn này, có thể tóm tắt như sau.
Miền Trung với những vụ biểu t́nh, xuống đường của Phật Giáo, năm 1966.
Mậu Thân với những tàn sát ở Huế.
Cơn lốc lịch sử tháng 4, 1975 dẫn đến sự di tản và ly tán của hàng trăm ngàn gia đ́nh quân dân cán chính miền Nam.
Lớp lớp người bị đưa vào trại “cải tạo” v́ gia nhập quân đội hay làm việc cho chính quyền miền Nam Việt Nam.
Cao trào vượt biển của người Việt bất chấp mọi hiểm nguy đang giăng trước mặt.
MBĐ gồm nhiều tuyến nhân vật, nối kết biết bao nhiêu sự kiện xảy ra. Tuy nhiên, có thể tóm gọn vào ba gia đ́nh, khởi đầu tại Huế.
Gia đ́nh ông bà Thanh Tuyến, và ba người con: Tường, Quỳnh Trang và Quỳnh Như.
Gia đ́nh ông bà Văn và bốn người con: Ngữ, Nam, Quế và Lăng.
Gia đ́nh ông bà Bỗng và ba người con: Ngô, Ngọc và Diễm.
Điểm đặc biệt là thế hệ đầu trong ba gia đ́nh không mấy thân thích ǵ nhau, nhưng thế hệ thứ 2 có một sự gắn bó kỳ lạ. Tường, Ngữ và Ngô là ba người bạn thân từ lúc c̣n nhỏ, tánh t́nh khác biệt nhau nhưng lại dung ḥa để thân nhau. Những người con gái của ba gia đ́nh lại cũng quen khá thân, và có thể chia xẻ với nhau nhiều điều. V́ thời cuộc, mỗi người lại rơi vào những hoàn cảnh khác nhau, có khi đối nghịch, và có lúc gặp nhau trong những hoàn cảnh dở khóc dở cười. Bên cạnh ba gia đ́nh này, nhiều nhân vật khác có xuất hiện, nhưng chỉ là những nhân vật phụ, nối kết những sự kiện, làm nên những mảng nhỏ trong chuỗi dài lịch sử, góp phần thêm trong việc dựng lại tâm trạng của một thế hệ trong thời loạn ly của đất nước.
Điều cốt yếu mà NMG nhắm tới, qua Mùa Biển Động, là tạo dựng lại tâm trạng của một thế hệ trong một giai đoạn lịch sử cực kỳ rối ren ở Miền Nam. Với tham vọng này, NMG chủ tâm đặt văn chương của ḿnh trong một cách thế dễ tiếp cận nhất: dựng truyện theo lối “truyền thống”. Ở lối viết này, NGM khởi đi từ những nhân vật, mà mỗi nhân vật mang một tín hiệu khác nhau, kết nhịp với từng biến đổi của thời thế, những đợt sóng của lịch sử, để bẩy lên những chuyển đổi trong tâm trạng của họ. Trong một cuộc phỏng vấn, ông cho biết: “Sau khi quyết định viết, tôi chú trọng đến nhân vật nhiều hơn cả. Tôi cho rằng nhân vật như người mang tín hiệu, anh ta có đáng tin th́ tín hiệu mới thuyết phục người đọc. Nhân vật mà giả th́ dù có nói hay đến đâu người ta cũng không tin.” (1)
Từ quan niệm đó, NMG cố tạo cho nhân vật của ḿnh mang những nét hao hao giống những con người thật ngoài cuộc đời. Nghĩa là từ những cái ăn, cái mặc, cái suy nghĩ, đến chuyện giao tiếp v.v. phải chở những nét thật của cuộc đời. Và để bảo đảm cho tính “thật” đó, ông thường lấy thẳng những người bằng xương thịt để đỡ phải nhọc công “bịa” và nhiều lúc c̣n tránh được sai sót. Quan niệm chuyên chở cái “thật” trong tác phẩm văn chương không phải là một điều xa lạ; thậm chí, có thể nói, đó là một điều khá cũ mà rất nhiều nhà văn bỏ phiếu đồng t́nh, bằng tác phẩm của họ, cả trong lẫn ngoài nước.
Điểm nổi bật nhất ở Mùa Biển Động là dù quăng thời gian của tiểu thuyết khá dài, nhiều nhân vật khác nhau lần lượt xuất hiện, bao nhiêu tác động của thời thế bên ngoài dồn ép lên mỗi mảng đời, nhưng cá tính của những tuyến nhân vật chính trong ba gia đ́nh rất rơ ràng, không hề có chuyện nhân vật này lẫn vào nhân vật khác. Tường tiêu biểu cho lớp người đầy hăng hái, quyết thay cũ, đổi mới, dù chưa biết cái mới có khá hơn không, vẫn quyết đặt bàn chân vào chỗ chênh vênh. Không những thế, anh c̣n là một mẫu người tự mâu thuẫn với chính ḿnh trong suy nghĩ và trong hành động. Ngữ là h́nh ảnh của điềm đạm, chững chạc, nh́n sự việc ở những góc canh khác nhau trước khi quyết định. Nếu ở Ngô là cái lừng khừng không dứt khoát, th́ ở Quế là sự nhạy bén với thời cuộc, hiểu rơ sự “ở bầu th́ tṛn, ở ống th́ dài”. Nếu ở thế hệ bà Bỗng, bà Thanh Tuyến ngại ngùng với cái mới, th́ Quỳnh Như bất chấp, đạp trên dư luận mà sống, kết hôn với người ngoại quốc. Nếu ở ông Văn cái đẹp là những án văn xưa, những triết lư cũ, an phận với công việc của ḿnh, hay ông Thanh Tuyến ngần ngại với những khó khăn trong việc đấu thầu với người Mỹ, th́ ở Lăng là cái xốc tới của tuổi trẻ, ngang nhiên trước những nơi chốn hiểm nguy, dù đó là hiểm nguy của việc tranh giành quyền lợi trên thương trường hay hiểm nguy nơi chiến trường. Nếu ở Nam, âm thầm chịu đựng, th́ ở Diễm v́ ghét cái nghèo, nên sẵn sàng bước tới, lấy một người chồng giàu có, không phải v́ t́nh thương, và cũng là một người “biết sống” trong một xă hội nghẹt thở sau tháng 4, 1975. Nếu ông đại tá biết sử dụng chiến thuật “half and half” để chia đôi danh vọng, để củng cố quyền lực th́ trung tá Thanh quá liêm khiết nên đường đi lên bị tắc nghẽn, đến đại úy Vinh bộc trực, và trung úy Huy coi đời như cái ...củ khoai v.v. Mỗi nhân vật là một mảng đời tiêu biểu và nhiều mảng đời tiêu biểu làm nên một xă hội đa dạng trong thời kỳ chiến tranh. Sự sắc nét của mỗi nhân vật trong vai tṛ của ḿnh, đánh dấu sự thành công trong vai tṛ “phân thân” của tác giả.
Trong số những nhân vật của MBĐ, tôi tự chọn cho ḿnh hai nhân vật để đi sâu hơn vào nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Mộng Giác: Tường và Ngữ. Đây là hai nhân vật đầy cá tính, mỗi người tự chọn cho ḿnh một con đường, và con đường tự chọn đó đưa họ vào hai chiến tuyến khác nhau, đẩy họ vào những hoàn cảnh căng thẳng, dù là hai người bạn thân, và sau này sự liên hệ giữa họ càng phức tạp hơn khi Tường lấy Nam (em của Ngữ) và Ngữ thành hôn với Quỳnh Trang (em của Tường).
Tường là một trong vài nhân vật hiếm hoi mà NMG vẽ nhiều hơn một nét, ở vóc dáng bên ngoài. Từ những đường nét bên ngoài đó, NMG dẫn người đọc đi sâu hơn vào cá tính của Tường: là một thầy giáo, dạy triết, lại mang nhiều nét ngỗ nghịch của một người con trong gia đ́nh khi gằn giọng với bố ḿnh:“Thầy không muốn nghe người trong nhà nói th́ cũng phải có lúc người ngoài phố chận thầy lại, sau khi đập nát cửa kính, đốt cháy chiếc Toyota trắng của thầy, họ sẽ quát vào mặt thầy: “Ê, xuống đi. Thằng nhà giàu bần tiện. Mày đổ chính máu tụi tao, mồ hôi tụi tao vào cái xe của mày để làm nhiên liệu, mày biết không?”” (Trang 20). Hơn nữa, anh “giở chứng đăm đăm suốt ngày, xem tiện nghi và sự giàu sang đang hưởng là một thứ chất độc làm ung loét tâm hồn, một nỗi ô nhục nên giấu đi mà hưởng chứ không nên khoe ra.” (Trang 21). Và từ cách nghĩ đó của Tường, những đợt sóng ngầm xuất hiện, gió đă bắt đầu cho những cơn băo tới. Và cơn băo đầu tiên đă bay qua miền Trung trong vụ xuống đường, làm một miền Trung vốn khắc khổ, càng tiêu điều hơn. Ở Tường là một loạt những mâu thuẫn, chẳng hạn: chối bỏ sự giàu sang của gia đ́nh nhưng lúc nào cũng phải nhờ vào đó mà có điều kiện để tổ chức các hoạt động, đểø xúi giục, và xách động người khác xuống đường. Mâu thuẫn thứ hai: nhận lương hàng tháng của chính phủ lại xuống đường sách động chống chính phủ. Khi tạo ra được một số thành công bước đầu, người bên ngoài xem Tường như nhân vật lớn, người tạo ra thời thế. Nhưng trong thâm tâm, anh thấy ḿnh chỉ là “một thằng tập ṭ học nghề” (Trang 103). Nghề ǵ? Nghề làm “cách mạng”. Nhưng lại mâu thuẫn. Oái oăm ở chỗ: dù biết rằng ḿnh là một kẻ mới bước vào “nghề”, nhưng Tường luôn luôn nói về cái vĩ đại, đặt ḿnh vào những thế đứng chênh vênh, và ưa đu dây vào những điều quá lớn. Trên giường bệnh, trước sự chăm sóc tận t́nh của Nam, Tường ái ngại khi “thấy ḿnh đang dấn thân vào một cuộc chơi thiếu ṣng phẳng với bạn” (Trang 108). Bạn ở đây là Nam, em gái của Ngữ. Cuộc chơi ở đây là cuộc chơi t́nh cảm giữa hai người. Và dù áy náy thế nào, lại thêm một mâu thuẫn nữa, Tường cũng đă để lại giọt máu của ḿnh cho Nam trước khi rút vào mật khu, và sau đó ra Hà Nội.
Về lại Huế dịp Mậu Thân, với gương mặt xanh xao, thân thể gầy guộc và chiếc quần kaki rộng thùng th́nh như một sự chắp vá, tạm bợ. Từ cái chắp vá bên ngoài, người đọc c̣n thấy cả cái lủng củng trong tư tưởng của anh. Điểm nổi bật nhất sau hai năm thoát ly: sợ. Sợ kẻ địch ở Huế, đă đành, nhưng đó là cái sợ nhỏ. Cái sợ luôn ám ảnh trong đầu anh: sợ ngay chính các đồng chí của ḿnh. V́ thế, hễ có dịp là anh dặn Ngô phải cẩn thận trong lời ăn tiếng nói. Sợ, nên không dám gơ cửa thăm Thầy cũ. Sợ, nên không dám thăm, dù đó là người đầu gối, tay ắp, dù là giọt máu của ḿnh. Phải hết lượt này đến lượt khác, hết sự thúc đẩy này đến thúc đẩy nọ của Ngô, anh mới dám gơ cửa chính ngôi nhà anh từng gơ biết bao nhiêu lần, trước đó. Và sợ, nên anh không dám làm hết sức ḿnh để cứu ông Văn thoát khỏi cái chết. Thời gian không làm cái sợ nhỏ lại, mà ngược lại, như cứ lớn dần, kéo dài măi ra, và lên đến đỉnh điểm. Về Sài G̣n trong tư thế của người chiến thắng, cái sợ vẫn luôn đeo đuổi anh, và để rồi lại căi cọ với Bố của ḿnh trong lần gặp lại đầu tiên. Nhưng cũng như 9 năm trước: lấy xe của gia đ́nh làm phương tiện di chuyển để hoạt động, chở giàn máy và hệ thống âm thanh của gia đ́nh cho tổ chức sử dụng, sống bám vào vật chất của gia đ́nh lại lớn tiếng sĩ nhục bố ḿnh, người đă tạo ra vật chất cho ḿnh thừa hưởng. Là một trí thức miền Nam, Tường được hưởng không khí tự do của miền Nam để xách động chống chính quyền. Rồi vào bưng, ra Hà Nội, theo Đảng cộng sản, về Sài g̣n, là một mẫu trí thức của chính quyền mới, sau 1975. Nhưng dù trước hay sau, Tường vẫn là một mẫu trí thức tự mâu thuẫn đến kỳ cùng. Không những mâu thuẫn, cái sợ đă làm Tường “nhỏ” lại. Tường là h́nh ảnh tiêu biểu của một lớp trí thức lúc bấy giờ: trí thức nhược tiểu. Cái chếnh choáng của Tường ở những thành công ban đầu và cái mâu thuẫn trong suy nghĩ của anh được Nguyễn Mộng Giác khắc họa sắc sảo.
Khác với Tường, Ngữ không có cái ánh mắt lúc nào cũng rực lửa, quá khích, trước những sự kiện xảy ra. Bằng một phong thái trầm tĩnh, đỉnh đạc, anh đối đầu với mọi chuyện một cách b́nh thản. Là một quân nhân gương mẫu, anh luôn tuân lệnh cấp trên. Trong những giây phút căng thẳng của biến cố Mậu thân, anh sát cánh bên trung tá Thanh. Trong lúc Bắc quân bao vây Sài g̣n, người người chuẩn bị ra đi, trong đó có cả những xếp lớn, anh thản nhiên nhận nhiệm vụ mới, xuống đóng chốt dưới Long an. Thái độ của Ngữ trước thời cuộc như thái độ của một người mang nặng tinh thần quân tử của đạo Khổng: thà chịu mang tiếng dại chứ không thể nhận cái hèn (Trang 1497). Cá tính của anh làm khổ nhiều người trong gia đ́nh, nhất là Quỳnh Trang.
Cũng khác với Tường, một người dạy triết nhưng không buông được một câu nói sâu sắc, đầy trọng lượng mang chất triết, Ngữ nh́n đời bằng cái nh́n nhạy cảm nhưng thấu đáo, và nhất là cái diễn đạt của anh cũng văn hoa, mang phong thái của một nhà văn. Nhưng dù thâm trầm, điềm tĩnh trong mọi việc, anh không thể giấu được sự hồi hộp của ḿnh, cái nôn nóng được nghe những sự phản hồi từ bạn đọc ở tác phẩm đầu tay. Mua bao nhiêu tờ báo về để t́m đọc một bài điểm sách, hay phê b́nh, hay những ư kiến phản hồi từ độc giả. Đó là cái nôn nóng rất đáng yêu của một người nghệ sĩ trước đứa con tinh thần đầu ḷng.
Ở Ngữ, độc giả thấy được phần nào tư tưởng của nhà văn.
Giữa thời tao loạn, mơ ước của Ngữ là được nh́n thấy ḥa b́nh. Đặt tên con, dù c̣n trong bụng mẹ, chưa biết gái, trai: Ḥa B́nh. Đó cũng là niềm mơ ước của một thế hệ thanh niên không muốn thấy đất nước ngă nghiêng trong cuộc đạn bom, binh lửa. Ḥa B́nh, ở một phương diện nào đó, nghĩa là tránh được chết chóc, giảm thiểu thương đau. Nhưng thực tế, không phải nền ḥa b́nh nào cũng mang lại hạnh phúc cho người người và cuộc cách mạng nào cũng là cuộc cách mạng nhung. Nên khi đất nước ḥa b́nh, niềm vui của trùng phùng quá ngắn, lại bắt đầu cho những cuộc chia ly mới. Cái khí khái của Ngữ trong và sau những tháng ngày tù tội, mang phong thái của một kẻ sĩ, dù chính quyền mới đẩy anh và những đồng đội cũ vào đường cùng, cái đường cùng của một kẻ lành lặn hai tay nhưng bất lực giữa đời thường, làm một nhánh tầm gửi, sống bám vào người khác.
Một t́nh bạn, hai nhân vật, hai lối suy nghĩ khác nhau, đứng về hai chiến tuyến, nhưng cùng mang một tâm trạng “tha hương” sau tháng 4/1975, chính là hai mảng đời tiêu biểu của thế hệ thanh niên lớn lên trong trời loạn ly của đất nước. Tuy nhiên, cả Tường lẫn Ngữ chưa là mẫu nhân vật tạo nên nỗi ám ảnh nơi người đọc. Nói một cách khác, nhân vật chính của MBĐ chưa là nhân vật lớn.
MBĐ soi rọi vào từng ngóc ngách đời sống của mỗi nhân vật của một thế hệ thanh niên miền Nam trong thời tao loạn. V́ cái “thật” mà ông nhắm tới, nên NMG không muốn đu dây vào cái ông không tường tận: thế hệ thanh niên miền Bắc, dù có vẽ chân dung một vài người, trong đó có Nhă, một trí thức trẻ của miền Bắc, khá nhuần nhuyễn. Tôi cũng ngờ rằng: NMG khắc họa Nhă qua một nhân vật thật, ngoài đời, nhà phê b́nh văn học, trong nước.
Thường, kết thúc một thời tao loạn, xuất hiện hai lớp người: người ngất ngưởng vinh quang trong chiến thắng và kẻ mang nỗi buồn nặng trĩu của thất bại. Mùa Biển Động viết về thời tao loạn đó, nhưng thế hệ nhân vật của NMG nói đến là một thế hệ thất bại.
Người chọn tuyến phục vụ chính quyền miền Nam: thất bại. Đó là cái thất bại của Ngữ, của Lăng, của Vinh, của Huy v.v, của những người lính miền Nam. Ước mơ xây dựng một hậu phương phồn thịnh, an vui đến mơ ước được nh́n thấy đất nước ḥa b́nh trong niềm vui của mẹ già, nụ cười của trẻ thơ: thất bại. Kết quả, đất nước ḥa b́nh nhưng mẹ già mỏi ṃn ngóng đợi con về từ tù ngục. Ra khỏi tù đày và khổ ải, họ không được làm một người b́nh thường trong xă hội. Không những thế, họ bị xă hội mới, chính quyền mới từ chối quyền làm một công dân trên một đất nước mà họ đă sinh ra.
Người chọn đường vào bưng, ra Bắc: thất bại. Đó là thất bại của Tường, của Mười Chí và nhiều người khác trong cùng hoàn cảnh. Cái nghi ngờ của tổ chức, của đồng chí, làm họ cô đơn. Cô đơn nơi chỗ làm, nơi bàn tiệc, nơi phố xá đông người. Cái sợ phủ chụp lên họ trong từng bước đi, trong mỗi thế ngồi, trong từng ḍng suy nghĩ. Cuối cùng Mười chí phải ra đi, sau những lần tự vấn ḿnh. Cuối cùng, Tường phải gởi con cho Ngữ, đặt niềm tin nơi Ngư,ơ dẫn con ḿnh đi t́m đất sống. H́nh ảnh sợ sệt, vội vă như trốn chạy làm anh “thấp” hẳn đi. Đó là thất bại của một trí thức, dám sống v́ lư tưởng của ḿnh nhưng không đủ can đảm đặt một câu hỏi khi ngỡ ngàng nhận ra lư tưởng đó đă dẫn ḿnh vào ngơ cụt.
Trong số những người chọn cho ḿnh một lư tưởng, chọn cho ḿnh một chiến tuyến, h́nh ảnh thất bại của ông Trang c̣n đau hơn cả những người như Tường, Ngô, Mười Chí. Ông ví ḿnh như một kẻ chuyên môn nắn bi cho người khác bắn. Thuở thiếu thời, ông nắn bi bằng đất sét cho bạn ḿnh bắn. ông gặp hên, v́ bạn ông bắn giỏi, nên mỗi viên đạn chạm đích chính xác đều có công của ông. Bốn mươi năm sau gặp lại người bạn cũ, hỏi chuyện nhau. Ông phải đớn đau mà thành thật với bạn ḿnh rằng: “Hồi tao đi theo mày, đỡ hơn bây giờ. Tao nắn bi tṛn, mà mày bắn ná cao su cũng ch́. C̣n bây giờ tao gặp toàn những thằng bắn dở mà cứ đổ thừa tao nắn bi méo. (Trang 1690).” Đó là tiếng thở dài ở giai đoạn cuối của một đời người. Đau. Đó là cái đau của một kẻ suốt đời nắn bi cho người khác bắn. Tiếng thở dài mang một niềm hối tiếc. Hối hận và tiếc nuối. Đó là cái thất bại của người chọn nhầm lư tưởng.
Người lừng khừng như Ngô, mặc thế thời đưa đẩy: thất bại. Không ai tin anh. Đảng và tổ chức không tin dùng anh. Bạn cũ cũng nghi ngờ anh. Sống trong thành phố lớn, bên cạnh người thân, mà mang một tâm trạng dửng dưng. Về từ Hà Nội mà nghe ḷng đau như cắt trước những điều mắt thấy, tai nghe tại Sài G̣n. Chứng kiến cảnh gia đ́nh rục rịch vượt biên mà tự vấn ḷng ḿnh như một người có tội: tội đứng về phía những người làm tiêu điều một Sài G̣n vốn là ḥn ngọc Viễn Đông, tội làm cho gia đ́nh ḿnh ly tán. Và bản tính của Ngô vẫn thế: không dám quyết định cho cuộc sống của ḿnh, không dám dứt khoát như Mười Chí, sợ bị bắt. Nếu may mắn hơn, tới được bến bờ tự do, sợ người khác đối đăi với ḿnh như kẻ thù. Đành chịu. Đây là cái thất bại của người nghệ sĩ dửng dưng trước thời cuộc. Mà không riêng ǵ Ngô, xă hội miền Nam trong thời gian ấy có cả một lớp người quay lưng trước thời cuộc, hay bị người khác lợi dụng, như thế.
C̣n bên phái nữ? H́nh ảnh Nam với mái tóc lưa thưa, dáng mỏng dính, luôn cô độc. Cô độc từ trước lúc trao thân cho Tường đến lúc Tường về trong đoàn quân chiến thắng. Sống bên Tường sau đó, Nam đă dằn lại biết bao nhiêu buồn tủi trong ḷng ngày một khô héo của ḿnh. Quỳnh Trang phải bỏ học, phụ giúp gia đ́nh, rồi lấy chồng. Đất nước lúc chiến tranh, thời gian hạnh phúc bên chồng quá ngắn ngủi. Đất nước ḥa b́nh lại tiễn chồng vào tù ngục. Sum họp với chồng không bao lâu lại mất chồng trên đường vượt thoát. Quỳnh Như lận đận trong đời, khó khăn trong công việc, lấy Dale, về Mỹ. T́nh cảm lại đổ vỡ. Diễm lấy Mân không v́ t́nh yêu. Lạc mất con khi nhất quyết rời Phú Quốc về Sài g̣n và kẹt lại ở đó. Hầu như không một ai trong số họ có số phần hạnh phúc. Không một ai trong số họ hưởng những niềm vui trọn vẹn. Cuộc đời của họ mang những bước lênh đênh. Số phần của họ là những số phần thất bại của những người phụ nữ trong thời chiến.
Có thể nói: họ là những mảng đời tiêu biểu cho một thế hệ thanh niên thất bại. Và khi đă thất bại từ chính trong suy nghĩ , họ phải sống cảnh tha hương ngay trên quê hương yêu dấu của ḿnh. Bước từng bước trên gia tài của mẹ mà như lạc loài trên đất khách. Đi trên đất hương hỏa của cha mà ḷng như một kẻ lưu vong. Đời của họ như những đời thừa. V́ thế, hai chữ quê hương, được viết hoa, không c̣n ư nghĩa ǵ nữa khi chỉ làm một loài gián sống giữa đời thường.
Một cá nhân thất bại, ảnh hưởng đến đời sống, từ vật chất đến tinh thần, của những người thân xung quanh.
Một thế hệ thanh niên thất bại, ảnh hưởng đến cả vận mệnh của một nước.
Một thế hệ thanh niên lạc lơng, tha hương ngay trên đất Mẹ là một báo hiệu sự sụp đổ lớn ở niềm tin.
NMG, qua MBĐ, thành công ở sự “kể” mà hầu như người đọc nào cũng nhận thấy. Cái kể của ông thường lẫn sâu vào mỗi mảng đời. Ông phân thân kỹ càng, ông nối kết sự kiện, tổng hợp những chi tiết xuất sắc nên người đọc bị cuốn hút theo cái nhịp nhàng, sự kiện này nối tiếp sự kiện kia, mâu thuẫn này liền liền gút mắc nọ, chi tiết từng mảng đời gắn liền nhau. Truyện trôi đi như một ḍng chảy, măi miết. Người đọc bị cuốn hút theo ḍng chảy đó, dơi theo những sự kiện dập dồn, mà quên cái thành công khác của ông, đó là cái “tả”. Nhưng phải nói rơ hơn, đó là cái diễn tả tâm trạng của nhân vật ở những điểm thời gian nhất định.
Nhân nói đến việc diễn tả nội tâm nhân vật, thiết nghĩ cũng nên t́m hiểu những thủ pháp thường thấy trên trang sách của các nhà văn. Để diễn tả, thường thường, nhà văn vận dụng những phương cách sau: một, dùng tính từ thích hợp để diễn tả nội tâm của nhân vật trong một hoàn cảnh nhất định; hai, dùng h́nh ảnh hay sự chuyển đổi bên ngoài của nhân vật để biểu đạt cái nội tâm; ba, dùng ngoại giới, nhân cách hóa sự vật bên ngoài, những vật vô tri, vô giác để bẩy lên cái nội tâm, cái biến chuyển trong suy nghĩ của nhân vật; và cuối cùng, dùng độc thoại.
Qua Mùa Biển Động, NMG sử dụng cả bốn phương thức nêu trên. Nhưng tôi chú ư nhiều đến cách thế diễn tả tâm trạng những nhân vật của ông ở hai phương cách sau cùng, dù ông sử dụng rất ít, nhưng khá thành công.
Chẳng hạn như tâm trạng của Ngữ sau khi gặp Diễm. Gặp xong người ḿnh nhớ, nói được điều ḿnh muốn nói, cả người như lâng lâng, đất trời như thay đổi. Cái thay đổi của tạo vật, của đất trời nói hộ tâm trạng của Ngữ (Trang 202). Hay tâm trạng của cả hai, Diễm và Ngữ, trong lúc ái ân, trước khi Diễm quyết định làm đám cưới với Mân: ngượng ngập, pha lẫn thẹn thùng, nhưng đầy hạnh phúc trong sự hiến dâng. Nhưng NMG không nói thế. Ông mượn đám mây để che bớt ánh trăng, ông mượn tàn cây hạ thấp xuống để che bớt nổi niềm của họ. Ông muốn cả thành phố ngừng thở, xe cộ ngưng chạy để cả hai có thể lắng nghe từng nhịp đập của nhau trong cơn hoan lạc (Trang 749). Hoặc tâm trạng của Nam, những tháng ngày đơn độc, sau khi Tường rút vào bưng. Nam như một chiếc bóng, lầm lũi, cô đơn, luôn t́m cách tránh né mọi người. Người mà cô có thể chia xẻ được và cũng chỉ có người này mới hiểu được tâm trạng của cô: Ngữ. Ở tâm trạng của Nam, NMG mượn chiếc divan trống trải, mượn một làn ánh sáng mờ xanh xao của ngọn đèn néon để diễn tả. Ông c̣n đẩy ng̣i bút đi xa hơn, với h́nh ảnh giữa một căn pḥng trống trơn, cái bàn thờ leo lét một nén nhang trong bát hương. Bấy nhiêu h́nh ảnh của tạo vật bên ngoài diễn tả một hố sâu thẳm trong tâm hồn của người con gái mới qua tuổi 20, thiếu sức sống, hứng chịu một định mệnh đơn độc.
NMG c̣n sử dụng độc thoại, dù hiếm hoi hơn, nhưng cũng đẩy được tâm trạng của nhân vật vào tận cùng của chiều sâu. Độc thoại là nói với chính ḿnh. Ở h́nh thức độc thoại, nhân vật có khi vừa chia sẻ cảm nghĩ của ḿnh cho chính ḿnh, lại vừa là một người công tố viên luận tội chính ḿnh. Ở h́nh thức này, có thể lấy tâm trạng của Ngô làm một ví dụ, dù anh là một nhân vật mờ của MBĐ. Tâm trạng Ngô sau khi được những người như Tường và Bắc quân kéo từ lao Thừa phủ ra, rồi dí dúng vào tay, bắt buộc anh can dự vào trận giết người tập thể trong những ngày đầu Mậu Thân tại Huế, như một kẻ bị đẩy vào một ngả rẽ của lịch sử, không lối thoát. Sau lần giết người đầu tiên đó, Ngô không c̣n là Ngô nữa. Hàng loạt câu hỏi, hàng loạt giả thiết đặt ra cho chính ḿnh, Ngô không thể trả lời, không thể t́m một chỗ dựa vững chắc cho những ǵ ḿnh thấy. Đó là tâm trạng của một người khi lần đầu tiên chính tay ḿnh nhúng vào máu. Bước lên ngọn cỏ c̣n đau ḷng ngọn cỏ. Huống hồ ... , vâng, huống hồ ǵ hàng loạt người ngă xuống mà coi như không, tuyệt nhiên không. Đúng như Ngô đă thốt lên: kinh khủng quá (Trang 677 - 680).
Từ tâm trạng của Ngô, NMG bẩy lên một điều khác làm vấn vương người đọc: mạng người trong thời chiến. Trong chiến tranh, khó tránh được điều tàn bạo. Nhưng cái tàn bạo nhất, ghê gớm nhất là kẻ giết người không c̣n xem con người bị giết là một con người. Thậm chí không c̣n coi họ là một sinh vật, biết hít thở. Cái tàn bạo nhất là xem mạng người là những con số, vô tri, vô giác. Một mạng người ngă xuống, hồ sơ của kẻ giết người tăng lên một đơn vị. Một khi đă được huấn luyện như thế, kẻ giết người chỉ làm việc theo chỉ thị, làm sao để đạt chỉ tiêu, làm sao để hoàn thành kế hoạch được đề ra: một kế hoạch biến một người b́nh thường thành một kẻ giết người, một thứ người máy, biết nhận mệnh lệnh bằng những con số và biến những con số đó thành số người phải “trả nợ máu”. Đó là sự thật. Đó là thảm sát Mậu Thân tại Huế. Dù có bưng tai, bịt mắt, con số hơn 3000 người bị giết và chôn sống là một điều không thể xóa bỏ (có tài liệu cho rằng con số ấy lên đến gần 5000 người). Đó là mùa xuân trắng khăn tang. Đó là Giải Khăn Sô Cho Huế (của Nhă Ca). Đó là chiều bước đi trên những xác người (của Trịnh Công Sơn). Đó là tiếng thốt khủng khiếp nơi người nghệ sĩ, trước cảnh tượng hăi hùng (của NMG).
Đọc đến cảnh giết người tàn bạo, xem mạng người như những con số, tôi lại nhớ đến một tác phẩm của một nhà văn Trung Quốc, Mạc Ngôn. Đó là tiểu thuyết Phong Nhủ Ph́ Đồn (được dịch sang Việt Ngữ dưới tên: Báu Vật Của đời). Tác phẩm này cũng có những đoạn thuật lại những cảnh giết người tàn bạo, cũng xem mạng người như những con số. Giết để hoàn thành chỉ tiêu đề ra từ thượng cấp.
Hai tác phẩm viết bằng hai ngôn ngữ khác nhau, cùng đề cập đến một vấn nạn kinh tởm của xă hội.
Trong hồi kư ‘Viết Gửi Mẹ và Quốc Hội”, ông Nguyễn Văn Trấn, một nhân vật miền Nam tập kết, khá nổi tiếng, từng viết rằng:‘Từ khi tôi mới ra miền Bắc, được nói chuyện với những đàn anh có Tây học nhiều, th́ thấy ai nấy đều không tán thành cái lối chỉnh huấn mà Mao sáng tác... Ai nấy đều nói chỉnh huấn phản ánh sự cường bạo của bực vua chúa cách mạng “phương Đông”. Là một sự bày vẽ một cách phi nhân, thần thánh tư tưởng của đảng của giai cấp công nhân, rồi bắt người ta theo đó mà kiểm điểm ḿnh... Tôi nh́n quanh quất thấy có người viết bản kiểm thảo khổ sở. Họ nói khổ sở không phải là nói ra lỗi lầm, mà khổ sở là phải bịa ra lỗi lầm để bản kiểm thảo được coi là thành khẩn... Thật ra sự học tập chỉnh huấn đă làm cho người cộng sản thơ ngây ngày xưa thấy: học rồi ḿnh chẳng c̣n ra con người nữa.” (2)
Nhà văn chỉ nêu lên sự kiện. Tuy nhiên từ những sự kiện từ nhiều nguồn khác nhau, điều mà ai cũng có thể thấy rằng: người cộng sản Việt Nam đă “học” cái tàn bạo, cái ĐẠI ÁC, từ những người cộng sản anh em. Và học tṛ, dường như, đă vượt qua thầy của ḿnh trong việc gieo những hạt giống xấu vào ḷng cuộc đời, như thế. “Học rồi ḿnh chẳng c̣n ra con người nữa” là một một thú nhận cay đắng, dù đă quá trễ tràng. Chính ḿnh không c̣n ra con người th́ làm sao thấy người mà ḿnh giết là một con người. Cái khốn nạn của cuộc đời là ở chỗ đó!
MBĐ đề cập đến nhiều nét văn hóa, trong đó có đời sống tâm linh: niềm tin. Dĩ nhiên, không có sự đánh giá đúng sai về niềm tin. Ở niềm tin ấy, chúng ta bắt gặp nhiều h́nh ảnh đẹp trong Mùa Biển Động.
Trước tiên, có thể kể đến bà cụ nhất quyết xin cho bằng được cái chân bị cưa của con ḿnh, một người lính, đang chuẩn bị giải phẫu, cưa chân. Phải xin được cái chân đó, dù về mặt y học, nó đă là một phế thải. Nhưng bà cụ có màng ǵ đến chuyện y học. Hỏi lư do, bà bảo: đem cái chân về chôn trước, rủi mai sau con ḿnh có mệnh hệ ǵ, th́ nó vẫn được tay chân đầy đủ (Trang 169 – 170). Niềm tin sống sao, thác vậy, sống lành lặn, chết đầy đủ, nơi bà cụ,ï là một nét đặc thù của người dân quê, nước Việt. Nói đến niềm tin, cũng là nói đến việc tin vào việc “sống linh thác thiêng”.
Một người lăn lộn biết bao chiến trường, tham dự biết bao trận đánh, coi sinh mạng ḿnh chẳng ra ǵ trong những đường tơ kẻ tóc, như Lăng, vậy mà ở cuối đường chiến tranh, ở giai đoạn “tháng ba găy súng”, đă phải khấn nguyện, xin ba ḿnh phù hộ để thoát ra tàu. Nhưng rồi không đi được, lại trở vào đất liền cũng đă nghĩ nếu không có ba ḿnh phù hộ chắc là khó thoát lưỡi hái của tử thần. Niềm tin được người quá cố phù hộ nơi Lăng là một tiêu biểu, không chỉ cho người đứng ở đầu sóng, ngọn gió, cho người vào nơi gió cát, mà c̣n là của nhiều người, nhiều lớp người khác nhau trong xă hội Việt Nam.
Khi người lính nằm xuống trong chiến tranh, họ để lại nỗi đau cho bao người thân, để lại một gia tài rách nát cho vợ, một tương lai mù mịt cho con. Ở cuối đường cùng, người vợ phải bán thân nuôi con, nuôi miệng. Không thể chê trách người phụ nữ trong những cảnh khốn cùng như vậy. Nhưng h́nh ảnh đắc địa mà NMG để lại cho độc giả là h́nh ảnh một phụ nữ cố quay tấm ảnh của người chồng vào trong vách trước khi đi khách (Trang 213). Nó cho thấy: bán thân v́ hoàn cảnh nhưng vẫn thấy xấu hổ với người đă khuất. Quay tấm ảnh vào vách như là một hành động cắt đứt mối liên hệ âm-dương, giữa người chết – kẻ sống, để mong kẻ khuất mặt không trông thấy hoạt động của người c̣n hiện hữu. Đây là một vết khắc đẹp, một h́nh ảnh để đời.
Tin vào những h́nh ảnh, những điều mang đến cái rủi ro, xui xẻo trong cuộc sống cũng là một phần của văn hóa. Khi Lăng hành nghề chụp h́nh trong những ngày đầu 4/1975, và những tấm h́nh chụp lấy liền đầu tiên là những tấm h́nh chụp cho gia đ́nh. V́ không thạo nghề, quên mở đèn. H́nh chụp ra, mờ tối, nét mặt ai cũng nḥa nḥa. Làm cho bà Văn cũng như những người khác, dù không ai dám nói ra, đều nghĩ đến một tương lai mờ mịt đang chờ họ ở phía trước. Rồi Quỳnh Trang tin rằng bộ quần áo mang từ trại “cải tạo” về sẽ đem lại xui xẻo cho chuyến vượt biên, và cũng v́ sợ xui xẻo nên Quỳnh Trang từ chối ân ái với Ngữ trước đêm anh rời Sài G̣n, vượt biển.
Nhân vật trong truyện của NMG là nhân vật mang nhiều niềm tin v́ họ không thuộc chủ nghĩa vô thần. Trên những ngă đời trắc trở, không ít lần những niềm tin này vực họ dậy. Trong những cảnh đời oan trái, không ít lần, bằng vào những niềm tin, họ sống lương thiện hơn, trong sạch hơn.
Trong số khá nhiều tiểu thuyết của các nhà văn Việt Nam, mà tôi đă đọc qua, thường, càng về gần những chương cuối, tác giả dường như bị “đuối”, như một vận động viên chạy việt dă, sau một chặng đường dài. Vậy mà, ở MBĐ, càng về sau, NMG viết càng lôi cuốn, nhất là ở tập 5 – Tha Hương. Tập này dày nhất, gần như gấp đôi những tập khác. Khởi đi từ mùa xuân 1975, khi Bắc quân đánh chiếm Phước Long cho đến lúc Ngữ ngă xuống trên đường vượt biển. Và theo tôi, đây cũng là tập chứa đựng những chương sách đầy đặn nhất. Những h́nh ảnh của cuộc triệt thoái trên liên tỉnh lộ 7 đầy chất sống. Những cảnh hỗn loạn của cuộc rút lui của Thủy quân lục chiến ở Đà Nẵng làm người đọc khó ḷng quên được. Tiếp theo là những ngày tháng tù tội của những người lính, những cơ cực của những người phụ nữ miền Nam, những thất vọng và sợ sệt của những người tập kết, cùng những trận đ̣n thù giáng xuống miền Nam. Từng đoàn người bất chấp mạng sống lao ra biển cả. Tất cả như mới hôm qua! Cũng ở tập cuối cùng này, nhân vật của NMG mới lộ hẳn nhân cách của mỗi người: từ Ngữ, Tường, Lăng đến Diễm v.v.
Sau khi đọc xong MBĐ, ngoài những điều đă nhắc đến về các tuyến nhân vật, tôi lại để ư đến một khía cạnh khác, từ những tuyến nhân vật chính này. Truyện bắt đầu bằng ba gia đ́nh tại Huế rồi tủa đi khắp miền Nam. Tại sao là ba gia đ́nh, mà không là bốn là năm hay nhiều hơn?
Người Việt ḿnh thường nhắc đến con số ba. Không những thế, con số ba c̣n là một dấu mốc quyết định trong rất nhiều trường hợp. Qua bao nhiêu đăi lọc, sự ảnh hưởng của con số ba c̣n truyền lại đời nay khá nhiều. Nào là: nhất quá tam ba bận; ba người dại họp lại thành một người khôn; ba cây chụm lại thành ḥn núi cao; và nhất là: ba người họp nhau thành cái chợ. Trong ư nghĩ đó, ba gia đ́nh có thể là một xă hội thu nhỏ. Có lẽ v́ thế nên NMG dùng con số ba để làm căn bản cho bộ truyện của ḿnh? Xét ra, không phải là không có lư. Nhưng tôi lại nghĩ đến một điểm khác. Theo truyền thống Á đông, một xă hội ít ra phải bao gồm: Sĩ, Nông, Công, Thương (và Binh). Bộ MBĐ lại bắt đầu bằng ba giới. Ông Văn, nghề giáo, tiêu biểu cho giới Sĩ. Ông Bỗng, làm việc ở sở hỏa xa, xem như là Công chức. Ông Thanh Tuyến buôn bán, đấu thầu, đại diện cho giới Thương. C̣n Nông? Giới Nông là một thành phần khá quan trọng trong xă hội Việt Nam, v́ là một đất nước nông nghiệp. Tuy nhiên, nhân vật của NMG không xuất thân từ giới này, xuyên suốt từ đầu đến cuối bộ trường thiên. Xét về mặt địa lư, Huế không phải là vùng đất của giới Nông. Đất miền Trung là đất cày lên sỏi đá. So sánh gần hơn, về mặt địa lư, Huế, dù nằm bên sông Hương, cũng không có vựa lúa để sánh với Tuy Ḥa, nằm bên con sông Bàn Thạch. Cho nên, làm một người dân Huế, dường như khi bước vào đời, chỉ c̣n có ba sự chọn lựa. Đây là một đặc điểm xă hội đặc thù và cũng từ đó, tạo ra nét kỳ thú của văn hóa Huế. Từ đó, chúng ta có thể thấy cái khởi đầu bằng ba gia đ́nh, từ ba giới tiêu biểu, là một tính toán, dựa trên cơ sở xă hội, của NMG. Tuy vậy, chọn lựa này vẫn có điểm đáng bàn của nó.
Như đă nói bên trên, tham vọng của NMG là dựng lại tâm trạng của thanh niên miền Nam trong thời loạn ly của đất nước. Tuy nhiên, tầng lớp thanh niên mà ông dựng lên trong tác phẩm là lớp thanh niên thành thị. V́ thế, cái “thiếu” của MBĐ là tác giả đă “quên” đi một lớp thanh niên khác: những người sống và lớn lên ở các vùng nông thôn, ruộng rẫy, hay sống trong các vùng xôi đậu trong thời chiến.
Bên cạnh đó, MBĐ c̣n có một vài điểm, mà theo tôi, đă ảnh hưởng phần nào đến giá trị tổng thể của tác phẩm.
Trên nhiều trang sách của Mùa Biển Động, người đọc bắt gặp những câu văn thiếu sự chăm sóc, gọt dũa. Một phần, có lẽ, đó là v́ bút pháp mà ông chọn cho bộ trường thiên, như đă nhắc ban đầu. Phần khác, có lẽ ông không muốn thấy câu văn lấp lững, hớ hênh, hoặc sợ độc giả không lĩnh hội hết ư của ḿnh. V́ thế, NMG thường thêm một vế nữa cho câu văn, mà ở đó, vế thứ hai làm công việc thuyết minh cho vế thứ nhất, nhiều khi, làm cho câu văn dài ra một cách không cần thiết. Trong “nghề”, nhiều người gọi đây là những câu văn “gầy”.
NMG hay lập lại một số thành ngữ tiểu đối hay những từ mà ông có vẻ ưa thích, như “tha tào”, “lờ vờ phơ phất”, “làm t́nh làm tội”, nhưng rơ nhất là cụm từ “thành thật mà nói” (3). Có khi chính tác giả nói trong lúc kể. Có khi những nhân vật khác nhau cùng dùng một cụm từ này, ở nhiều thời điểm khác nhau, trong nhiều trường hợp khác nhau. Rơ ràng, nhân vật này mượn lời của nhân vật khác, cùng đi chung với nhau trên con đường ṃn. Tại sao? Theo tôi, truyện ngắn như những vết cắt chọn lựa của cuộc sống, v́ thế nhà văn có thể tránh khỏi những điều liên quan đến ḿnh. C̣n tiểu thuyết, nhất là trường thiên tiểu thuyết như MBĐ, được viết dưới dạng hiện thực, nó không c̣n là những mảnh rời, mà là một tổng hợp đa dạng từ cuộc sống và trải qua một thời gian tương đối dài, một không gian tương đối rộng, và v́ thế, khó tránh khỏi một phần đời của nhà văn được gởi vào trong tác phẩm. Do đó, sẽ không ngạc nhiên, ở thể loại tiểu thuyết, người đọc nắm bắt tư tưởng lẫn phong cách của nhà văn dễ dàng hơn, và hơn thế nữa, người đọc c̣n có dịp bắt gặp những thói quen của nhà văn trong lúc dàn dựng tác phẩm.
Nhân nhắc đến thói quen của nhà văn, có một điểm nữa, cũng cần nhắc lại. Ở những điểm thời gian nhất định, NMG thường cho nhân vật suy nghĩ, phỏng đoán những sự kiện kế tiếp xảy ra, hướng người đọc theo cách nghĩ của nhân vật. Đột nhiên, ông bẻ ngoặc ḍng suy nghĩ khỏi hướng đi ấy và kết luận bằng một chữ: “lầm”. Ở MBĐ, đa số các nhân vật của ông đều ... lầm, một hay nhiều lần. Lúc th́ bà Văn, lúc th́ Ngữ, khi th́ Lăng, lần khác Quỳnh Như, lần nọ ở Tường v.v. Đọc lại “Đường Một Chiều”, tiểu thuyết đầu tay của ông, người đọc cũng bắt gặp ít nhất hai lần lầm như thế, ở Ninh và ở thiếu tá Lộc. Và không chỉ trên những trang sáng tác, trong phỏng vấn, chẳng hạn khi trả lời Tạp Chí Việt, số 2, ông cũng ... lầm như thế: “Giây phút cảm thấy đứt ruột khi ngọn hải đăng Vũng Tàu xa dần đêm hôm ấy là thời điểm bắt đầu “sống” ở hải ngoại? Năm 1989 viết những ḍng chữ ấy, tôi tin như vậy. Bây giờ đọc lại thấy ḿnh lầm.” Rơ ràng, cái “lầm” ông sử dụng thường ngày lây sang cái lầm của nhiều nhân vật trong tiểu thuyết, như thế.
Qua Mùa Biển Động, người đọc thấy Nguyễn Mộng Giác phân thân từ nhân vật này sang nhân vật kia khá tài t́nh. Nhưng có những chương sách, ông rời vị thế của ngôi thứ ba, mà trở về vai tṛ người kể chuyện. Và khi đứng ở vai tṛ người kể chuyện, có lúc ông sa đà vào việc lư giải điều này, triết luận điều kia, dễ làm mệt người đọc.
Có nên đ̣i hỏi 1847 trang sách, viết trong những khoảng thời gian khác nhau, của bảy năm trôi nổi, vừa lo mưu sinh trên xứ người, vừa ngóng về bên kia biển lớn, một sự thống nhất từ đầu đến cuối, với những trang văn đầy đặn, sắc sảo như nhau? Đ̣i hỏi như thế, có thể là một điều khe khắc. Nhưng, ở vị thế của độc giả, sự đ̣i hỏi cũng là đặt kỳ vọng vào một tác phẩm, nhất là một tác phẩm có chiều kích như MBĐ, là một điều hiểu được.
Mùa Biển Động đưa độc giả theo chiều dài của trục quay lịch sử, với chiều rộng của rất nhiều tuyến nhân vật ở khác chiến tuyến, ở những cảnh đời khác nhau, và quan trọng nhất là ở chiều sâu: chiều diễn tả và phân tích tâm lư nhân vật, nhằm tái hiện lối suy nghĩ và cái nh́n về thời cuộc của một thế hệ thanh niên miền Nam trong giai đoạn lịch sử cận đại. Thành công ở chiều thứ ba không phải là thành công ban đầu của nhà văn. Nếu dơi theo những tác phẩm của NMG, người đọc thấy ông đă thành công trong việc này từ “Đường Một Chiều”.
Bảy năm cho bộ trường thiên, với sự dàn dựng khéo léo, nối kết nhuần nhuyễn các sự kiện để tạo nên một tổng thể hoành tráng, với rất nhiều trang thấm đậm t́nh người, là một công tŕnh tim óc của nhà văn. Viết Mùa Biển Động, Nguyễn Mộng Giác dường như đă đẩy hết tâm trạng của thế hệ ḿnh, thế hệ thanh niên miền Nam, lên ngần ấy trang sách. Đây là thế hệ nằm giữa những gọng kềm của lịch sử, mang trên ḿnh những vết thương ḷng rất lớn, bất luận đă lựa chọn hay bị đẩy về phía nào của cuộc chiến, và, cũng có thể nói, là một thế hệ thất bại.
Dựng được cái thất bại của một người không phải dễ. Dựng được thất bại của cả một thế hệ là một điều khó. Đẩy được tâm trạng tha hương vào mỗi ngóc ngách suy tư của từng nhân vật, mà mỗi người có một lư tưởng khác nhau, ở mỗi hoàn cảnh khác nhau, đứng trên những chiến tuyến khác nhau, và đặc biệt, tha hương ngay trên gia tài của Mẹ, lạc lơng ngay trên đất hương hỏa của Cha, của cả một thế hệ thanh niên miền Nam, sau cơn lốc tháng tư 1975, là một việc khó hơn nhiều. Hơn thế nữa, MBĐ không chỉ tái hiện hiện thực mà c̣n mở ra cho độc giả những suy gẫm về hiện thực, ở mỗi góc độ khác nhau, từ vị trí của mỗi người đọc trong ḍng hiện thực ấy. Tất cả đă góp phần tạo nên chỗ đứng trân trọng của tác phẩm trong ḷng bạn đọc.
Đoàn Nhă Văn
Viết xong 1997; Sửa lại 2007
Chú thích: Những dẫn chứng có liệt kê số trang từ MBĐ, trong bài viết này, dựa theo ấn bản lần thứ sáu.
1. Hợp Lưu số 45, trang 216.
2. Theo Minh Vơ: Nguyễn Văn Trấn và “Viết Gửi Mẹ và Quốc Hội”. Có thể đọc toàn bài tại: http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=3394
3. Xem thêm ở các trang 212, 461, 706, 718, 816, 835, 986, 1029, 1422, 1680, 1712 của ấn bản lần thứ sáu.
© 2007 gio-o
http://www.gio-o.com/DoanNhaVan