ĐOÀN NHĂ VĂN

 

Biển Lụa: Băo và Hoa

 

 

điểm sách

 

Khi tập truyện ngắn “Người Đàn Bà Sau Tấm Quảng Cáo” ra mắt bạn đọc, năm 1997,  độc giả đă thấy ở đó một tấm ḷng. Không chỉ một tấm ḷng yêu thích chữ nghĩa, mà c̣n là một tấm ḷng với đời. Từ đó, Hoàng Thị Bích Ti (HTBT) liên tiếp xuất bản những tập truyện và tiểu thuyết, đề cập đến nhiều vấn đề của xă hội, dưới nhiều góc cạnh khác nhau.  Đến  Biển Lụa (BL), tiểu thuyết mới nhất, th́ cái mênh mông của cuộc đời được giới hạn lại qua một vấn nạn lớn, trong những năm đầu thế kỷ 21, mà không chỉ riêng của Việt Nam, đó là nạn buôn người.

 

Truyện xoay quanh nhân vật chính mang tên Như Ư, nối kết những sự kiện trên một cuộc hành tŕnh dài của cô. Dài ở đơn vị thời gian, đă đành, nó c̣n kéo dài măi trong tâm khảm của một người con gái khi bước chân vào chốn đoạn trường. Như Ư sang Đài Loan bằng đường dây kết hôn giả. Từ lúc đặt chân lên máy bay, rời Việt Nam, người con gái biết ḿnh đă rơi vào một cạm bẫy. Biết, nhưng không thể ngờ rằng cái bẫy đang giăng phía trước đầy những chông gai và trùng trùng những nhờm tởm.  Như Ư đă gặp biết bao người con gái khác tại các nhà thổ nơi xứ người.

 

Má ơi đừng gả con xa /Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu”. Câu ca dao buồn vời vợi ngày xưa chưa đủ diễn tả tâm trạng của những người con gái Việt ngày nay trên đất khách. Thúy Kiều xưa và Thúy Kiều nay đều khởi đầu bằng một mẫu số chung: bán ḿnh để cứu gia đ́nh. Thúy Kiều ngày xưa c̣n có cơ hội gặp lại gia đ́nh. Thúy Kiều ngày nay, qua BL, một lần ra đi là biệt tăm dấu vết, như những cô gái kém may mắn, trong các nhà chứa, biến mất trong một đêm, mà không có một câu hỏi nào tồn đọng.

 

Không chỉ h́nh ảnh thương tâm của các cô gái, BL c̣n dành những trang viết về các em thơ bị nhốt trong những căn hầm tối. Tuổi thơ của các em không có được cái hồn nhiên như các nhân vật của Phùng Quán trong “Tuổi thơ dữ dội”. Tuổi thơ của các em là tuổi thơ dữ dội. Tuổi thơ bị nhốt trong những khoảng vuông được tính bằng từng gang tay. Tuổi thơ của các em bị đày đọa trong những chiếc rọ, bị trói buộc bởi những kẻ làm giàu trên thân xác măng tơ. Và oan nghiệt hơn, tuổi thơ trong BL là tuổi thơ chín ép, bị bắt ép học, để rồi phục vụ cho những tṛ hoan lạc của những  người lớn đầy thú tánh. “Chuối non dú ép chát ngầm”, tuổi thơ của các em bị chín ép như thế.  Đó là thứ tuổi thơ vàng vọt, mà tương lai đă bị cắt ngọn, không một chút thương tiếc của những kẻ sẵn sàng đổi mọi thứ để có những đồng tiền dơ bẩn. Nh́n h́nh ảnh các em, người đọc thấy vừa ghê tởm, lại vừa thương tâm. Ghê tởm trước những đ̣i hỏi nhục dục, trước tiên, của đám người quản lư các em, và, thứ nữa, là những người bệnh hoạn khác muốn có sự phục vụ từ A đến Z, kể cả những tṛ, có thể gọi là, đê tiện nhất, từ những tâm hồn măng tơ chưa qua tuổi mười lăm.  Thương tâm là thương cho lớp tuổi hồn nhiên, bước vào đời đă bị những vết chém ngang lưng như thế, sẽ măi măi không bao giờ gột xóa, và cũng sẽ măi măi vết sẹo không bao giờ lành miệng.

 

Theo thống kê của tổ chức chống buôn người, chỉ trong hai năm 2005-006, Việt Nam đă phát hiện 568 trường hợp, bao gồm 1518 phụ nữ và trẻ em. Cũng trong thời gian này, có 1280 nạn nhân được cứu thoát từ những địa ngục trần gian và được trả về lại Việt Nam (1).

 

Đọc những báo trong nước hiện nay, chúng ta cũng thấy được những hành động môi giới kết hôn, điểm khởi đầu cho những cuộc hành tŕnh vào nhà chứa, không hề sút giảm. Báo Tuổi Trẻ on line, ngày 10 tháng 4 năm 2007 cho biết công an đă phá được một đường dây môi giới kết hôn lậu tại Tân B́nh, phát hiện 118 cô gái đang chờ chồng ngoại coi mắt ( 2). Cũng trong tháng tư, vào ngày 23, công an lại phát hiện 70 cô gái đang thoát y để cho hai gă đàn ông Hàn quốc lựa chọn, tại một địa điểm tại quận Tân B́nh. Phần lớn các cô gái này quê quán ở miền Tây. Trong cùng một bài báo, tác giả cho biết, trước đó, ngày 13 tháng 4, tại nhà hàng Bảo Châu, ở quận 6 cũng diễn ra một cuộc xem mặt để lấy chồng Hàn của 109 nữ thí sinh ( 3). Cùng ngày, công an lại phá được một đường dây xuất khẩu người lao động qua Macau, nhưng thực chất sau đó đưa vào động măi dâm (4).

 

Cũng trong tháng 4/2007, báo chí trong nước rầm rộ đưa tin một người phụ nữ bị bán sang Trung Quốc, mười sáu năm sau mới được khám phá và đưa trở về. Nạn buôn người đă làm bao người dân “bức xúc”, những con số đưa ra quả thật đáng lo ngại: “Trong hội nghị về pḥng chống mua bán phụ nữ toàn quốc diễn ra vào đầu tháng 4-2007, cả nước được xác định là có 33 tuyến và gần 140 địa bàn trọng điểm về buôn người và đến nay đă có hàng vạn phụ nữ bị cưỡng ép ra nước ngoài mà rất nhiều người trong số họ không có cơ hội trở về nước. (...)

 

Thực tế đau xót đó đă chỉ ra rằng hoạt động của bọn buôn người ngày càng táo bạo và tinh vi, rằng phụ nữ (và cả trẻ em) chưa được bảo vệ một cách đúng mức và cần thiết, rằng các biện pháp giải thoát nạn nhân chưa được thực hiện có hiệu quả” (5)

 

Theo báo cáo hằng năm, năm 2006, của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, phụ nữ và những bé gái Việt Nam được chuyển sang Trung Quốc, Hồng Kông, Mă Lai, Đài Loan và Tiệp Khắc. Sau đó, rất nhiều trong số họ đă bị đẩy thẳng vào nhà chứa.  Trong khi đó, chính phủ Việt Nam, dù có nhiều cố gắng sau những áp lực của quốc tế, vẫn không thi hành tối thiểu những tiêu chuẩn được đề ra, nhằm xóa bỏ nạn buôn người trên cả nước, đặc biệt qua đường dây kết hôn với những người đàn ông đến từ các nước Đông Nam Á, mà tiêu biểu là Đài Loan và Tân Gia Ba.

 

Có thể nói là hầu như tuần nào công an Việt Nam cũng phá những đường dây, những tổ chức buôn người, và đặc biệt là những đường dây kết hôn lậu. Vậy có bao nhiêu trường hợp không phát hiện? Chỉ có chính quyền Việt Nam mới biết, v́ chính họ đàng hoàng cấp giấy xuất cảnh, dù biết rằng, không chắc ǵ đây là những cuộc hôn nhân mang lại niềm vui cho những người con gái. Mà rơ ràng, cả thế giới đều biết và dường như biết rất rơ, hơn cả một hệ thống chính quyền mà công an dày đặc khắp mọi nơi. Báo New York Times đă làm một cuộc phóng sự và đăng rơ ràng có kèm h́nh ảnh trong cuộc hành tŕnh “năm ngày t́m vợ” của các gă trai Hàn Quốc.  Điều này đồng nghĩa rằng: dù bưng tai, bịt mắt, chúng ta cũng không thể nghĩ rằng họ đến với nhau bằng t́nh yêu. Con đường tưởng ngắn-mà-dài này, rồi sẽ đẩy các thiếu nữ vào những chốn đoạn trường.

 

Đào sâu vào một chủ đề nóng bỏng như thế, nhưng tâm thế viết của HTBT, qua BL, lại là một tâm thế viết b́nh thản. B́nh thản theo cái nghĩa: không vật vă với cái đau trong lúc nhất thời, không sướt mướt với nỗi mất mát của những người em gái cùng ḍng máu, không rên rỉ với cái rát buốt của những người con gái da vàng bị kềm hăm, bị ép buộc sống như những con thú trên đất khách. Thanh thảng, b́nh tâm để đưa ra những sự kiện, tạo cho độc giả nh́n ra cái mấu chốt của vấn đề, chứ không phải ở cái bề mặt của hiện tượng.

 

Trong lúc phần lớn các nhà văn (nữ) đang đặt ng̣i bút của ḿnh vào lĩnh vực dục tính, mà những trang sách của họ phơi bày lồ lộ những bộ phận sinh dục, và cho nhân vật dùng đủ mọi thứ để tác động, để tạo nên những cảm giác, cho nhân vật hả hê trong những trận giao hoan, và nhất là khủng bố người đọc bằng những cảnh đầy cố ư và không cần thiết, th́ HTBT, như đi ngược lại. Những đoạn viết về dục tính của bà không phải khai thác cái sướng ngất của nhân vật, mà là diễn tả cái khổ đau trùng trùng của người phụ nữ bị ép buộc bán xác thân, làm giàu cho loài quĩ dữ.  Cái dục tính, rất phỉ nhổ, bà dựng nên là nhằm phơi bày bộ mặt của những thân người mà dạ thú. Bà đă chạm vào nỗi đau của thân phận đàn bà, những người đàn bà nhược tiểu, trong thế kỷ 21.  Lịch sử hơn 2000 năm chưa một lần xác thân của những người con gái Việt Nam rẻ rúng như bọt bèo, và sống một kiếp phong trần, nhơ nhớp khắp các nẻo đường trên thế giới.

 

Những trang văn phô bày cái trần trụi của đời thường lại là những trang văn đẹp, diễn tả nhuần nhuyễn điều bà muốn nói. Đó là những trang văn dấy lên những niềm đau. Đau cho thân phận những người con gái như Như Ư, Lệ, Xuân bị giam hăm ở những nơi chốn có thể xem là địa ngục trần gian.  Đó là những nơi chốn kinh khủng theo đúng cái nghĩa của nó. Nhưng kinh khủng hơn là sự đối xử thật ghê rợn đối với những cô gái bỏ trốn và bị bắt lại. H́nh phạt dành cho họ là những h́nh phạt mà loài người tiên tiến không bao giờ nghĩ đến. Và nếu cần, những cô gái này sẽ biến mất, như những bọt sóng trên sông.

 

Truyện kết thúc bằng một bất ngờ và ...khiêu khích. Không chỉ bất ngờ và khiêu khích, đó c̣n là một kết thúc mở, đúng như ư nghĩa của nó, như một sốù phim hollywood từng thực hiện. Với kết thúc này, người đọc có quyền suy đoán xa hơn số phận của nhân vật chính. Với kết thúc này, nhà đạo diễn làm phim có thể đi xa hơn, làm thêm một hay nhiều phim tiếp theo. Và dĩ nhiên, với kết thúc như vậy , tác giả có quyền đi xa hơn, như viết tiếp một tác phẩm khác, nếu muốn. Có người sẽ cho kết thúc như vậy là “ác”, là mở ra những tầng địa ngục khác cho tha nhân. Nhưng nếu chúng ta thử nh́n những biến chuyển chung quanh, th́ cái “ác” trong tiểu thuyết cũng chưa là ǵ nếu so với cuộc đời. 

 

Tác phẩm đề cập đến hai tuyến nhân vật: những nhân vật hứng chịu bao nỗi oan nghiệt đè nặng xuống những đôi vai gầy và lớp nhân vật (hay thú vật) trực tiếp chà đạp lên nhân phẩm của những người con gái ấy. Nhưng cái “đạt” của tác phẩm không chỉ nằm ở chỗ ấy, mà là khi gấp sách lại, người đọc dường như bị dẫn dắt đến tuyến nhân vật thứ ba, tuyến nhân vật không trực tiếp quất những đ̣n roi xuống những tấm băng trinh, nhưng là nguyên nhân chính dẫn họ đến đường cùng.

 

Có đôi điều. thiết nghĩ, cũng nên nói ở đây.

 

Một, HTBT dùng nhiều lần chữ “suốt” trong cụm từ chỉ thời gian: suốt ngày, suốt năm, suốt buổi trưa, suốt chuyến bay, suốt cuộc hành tŕnh, suốt đêm hôm ấy, suốt đoạn đường dài, suốt quăng đường c̣n lại .v.v... Đây là một h́nh thức lập lại. Mà như ta đă biết, lập lại là một sự thua thiệt trong nghệ thuật.

 

Và hai, có rất nhiều chỗ trong tiểu thuyết, nhà văn dường như cố t́nh cắt câu văn ra, găy vụn. Với cấu trúc như thế, nếu áp dụng đúng nơi, th́ lời văn, nhịp văn, sẽ nhịp nhàng với tâm cảnh, mở ra cái trúc trắc của cuộc đời, cái cắt ngọn của cuộc sống, cái vỡ nát của tương lai, tạo những ấn tượng lớn. Tuy thế, có những chỗ, tâm cảnh không hợp với cái vụn vỡ của câu văn, dễ làm mệt người đọc.

 

Nhiều người viết mang những tham vọng lớn: muốn chạm vào những nỗi đau của lịch sử, muốn dấy động một cơn phong ba, muốn là thư kư của một thời đại v.v.. Riêng HTBT, bà giới hạn hơn, tập trung vào nỗi khổ đau của những em thơ, những tâm hồn trinh nữ trắng trong, xuyên qua nạn buôn người. Giới hạn như thế, trong một tiểu thuyết, đồng nghĩa với việc tập trung toàn lượng ánh sáng của giàn đèn pha cho một tiêu điểm chính. V́ thế, nỗi chua xót của những nạn nhân như  tăng lên nhiều lần. Và cũng v́ thế, tội ác của những con thú người không c̣n chỗ che lấp.

 

Viết về nạn buôn người, phụ nữ  và trẻ em, dường như Biển Lụa là tác phẩm đầu tiên, nh́n từ bên ngoài đất nước. Mà không chừng, nó c̣n là tác phẩm dài hơi nhất của Việt Nam, cả trong lẫn ngoài, từ trước đến nay, đề cập đến vấn nạn không những đầy nhức nhối, mà c̣n rất thương tâm này.

 

Biển Lụa sử dụng tính lưỡng nguyên của cuộc đời để làm nền móng cho một tiểu thuyết: dùng cái mộc mạc của ngôn từ để chuyển tải những oan khuất của đời sống; dùng cái ngắn gọn của câu văn để mang nỗi đau trùng trùng của tha nhân; dùng cái giản đơn trong bố cục để gánh vác cái phức tạp của đời thường; dùng cái hữu hạn để cưu mang cái vô hạn.  Đó là dấu ấn của nhà văn để lại trên những trang chữ của ḿnh.  Và cũng v́ thế, theo tôi, tiểu thuyết Biển Lụa đánh dấu một cột mốc mới trong văn nghiệp của Hoàng Thị Bích Ti.

 

ĐOÀN NHĂ VĂN

5/2007

 

Chú thích

1. www.humantrafficking.org

2. http://tuoitre.com.vn/tianyon/Index.aspx?ArticleID=195760&ChannelID=6

3. http://www.vnexpress.net/Vietnam/Phap-luat/2007/04/3B9F555C/

4. http://www.vnexpress.net/Vietnam/Phap-luat/2007/04/3B9F4FAA/

5. http://www.tuoitre.com.vn/tianyon/Index.aspx?ArticleID=196191&ChannelID=236

 

© 2007 gio-o