
photo: NAT @ gio-o.com
TRẦN QUÍ PHIỆT
MẤY TRANG NHẬT KÝ SAU CÙNG
VỀ THỜI GIAN TÌM LẠI (TEMPS RETROUVÉ)*
hồi ký
Ngày 7 tháng 3
Trong ba ngày cầu siêu cho cha tôi tại mộ phần, tôi trãi qua một điều rất lạ thường. Có những lúc tôi như trôi vào một vùng thanh tịnh, bình yên đến nỗi tôi quên hết mọi âu lo, đau khổ, mệt mõi. Lòng tôi cảm thấy nao nao, nhưng đó là niềm vui không bờ bến. Tôi trở về ngôi nhà tuổi thơ ở Dalat, Việt Nam trong thời bình, gia đình tôi toàn vẹn, và tôi là cậu bé hạnh phúc, ngây thơ, vô tư lự. Do ảnh hưởng của lễ Thanh Minh (có nghĩa là sáng trong), tôi cảm thấy như trãi qua một sự phục sinh từ mùa đông buồn rầu. Cuộc lễ diễn ra trong nghĩa trang nhỏ này trong cảnh xuân tươi sáng, tiếng tụng kinh đều đều, nhịp nhàng của các vị sư trong chùa điểm xuyết bằng tiếng chuông mõ, sự vui sướng của tôi sau cùng được ở lại mộ phần của cha tôi, tất cả vang dội trong tôi, tinh khiết hóa tâm hồn tôi. Đây là thế giới của cha tôi. Tôi không sợ chết. Không sợ chút nào! Tôi đã mệt mõi quá lâu, cả tinh thần lẫn vật chất. Tôi sẽ nhờ các con tôi khi tôi chết đem tro cốt tôi về quê nhà và rãi trên mộ cha tôi để tôi có thể vĩnh viễn ở bên cạnh người.
Cuộc lễ chấm dứt vào buổi trưa. Hòa thượng trụ trì mời tôi thọ trai với ông. Có nhiều thời giờ cho chúng tôi ra Huế tối nay. Ngày mai chúng tôi sẽ đáp máy bay Vietnam Airlines về Thành phố Hồ Chí Minh vào sáng sớm. Sự bổ nhiệm của tôi tại Đại học sẽ chấm dứt vào tháng 5 và tôi sẽ trở về giảng dạy tại trường tôi ở Hoa Kỳ cuối tháng 8. Tôi không biết có về lại đây để viếng thăm được nữa không.
Ngày 8 tháng 3
Ba ngày sau cùng của tôi lo việc cầu siêu cho cha tôi tại chùa Long Tuyền khiến tôi kiệt sức. Ngồi trên máy bay dù cố ngủ để có sức cho ngày mai giảng dạy suốt ngày tôi cũng không sao chợp mắt được. Chưa bao giờ tôi cảm thấy một mất mát to lớn như thế. Hai mươi tám năm trước, khik tù giã cha tôi và gia đình tôi dù nặng chĩu lo buồn, tôi nuôi hy vọng trở về đoàn tụ. Bây giờ thì cha tôi đã mất, nhà tôi bị lấy mất, trở về một nơi đã thuộc về chúng tôi chỉ tăng thêm nỗi cô đơn và đau xót.
Ngày 28 tháng 3
Hôm nay tôi được tiến sĩ Nguyễn văn Tài, Phó Hiệu trưởng, thông báo theo yêu cầu của Khoa Anh và trường Khoa học Xã hội & Nhân văn Chương trình Fulbright đã chấp thuận cho tôi lưu lại một học kỳ nữa. Sau khi hội ý với Nga, tôi sẽ vết thư cho trường tôi ở Hoa kỳ xin gia hạn nghỉ phép cho đến tháng giêng năm tới.
(Lúc duyệt lại phần này của cuốn hồi ký, tôi đau buồn khi được tin Tiến sĩ Tài đột ngột qua đời. Ông là một nhà giáo dục tôi rất ngưỡng mộ. Nếu ông còn sống bây giờ, có thể chương trình Hoa kỳ học đã có thể có kết quả tốt rồi.)
Cả hai chúng tôi đều vui mừng. Một năm không đủ để đền bù những năm dài xa cách quê hương. Có những nơi chốn và người để thăm viếng, nhiều việc phải làm trước khi chúng tôi trở lại Hoa Kỳ vĩnh viễn. Nga cũng muốn tôi ớ lại thêm để tiếp tục giúp đỡ các sinh viên của tôi cả hai chúng tôi ngày càng yêu mến. Một lý do nữa rất quan trọng. Bởi vì sách của tôi viết về quá khứ của tôi, nơi này là lý tưởng nhất bởi vì thiên đường của tôi nằm ở đây. Kho tàng của tôi nằm ở đây, không ở nơi nào khác. Mỗi phút tôi còn lại ở đây đều có giá trị. Mọi sự việc, mọi người tôi gặp ở đây đều dính liền với quá khứ của tôi hay gợi nhớ cho tôi quá khứ ấy. Tất cả đều vô cùng quí báu với tôi.
Hôm trước khi đi mua thực phẩm với Nga tại ngôi chợ xép trong xóm, tôi thấy một con gà trống một chân bị cột vào khu vực bán hàng của người chủ bằng một sợi dây. Bởi vì con vật đứng yên chịu đựng, trong nhật ký tôi so sánh nó với thân phận tuyệt vọng của đồng bào tôi. Thật lạ lùng khi hình ảnh con gà trống ấy hiện ra trở lại trong trí tôi ngày hôm nay cùng với sự vui mừng có cơ hội ở lại Việt Nam lâu hơn và tình yêu quê nhà tràn ngập trong lòng tôi, con vật ấy mang một ý nghĩa khác. Nó khêu gợi trong tôi hình ảnh một con gà trống chúng tôi nuôi với bầy gà khác ở sân vườn nhà chúng tôi ở Quảng Bình. Bây giờ tôi có thể hình dung cái đầu của nó đảo qua lại, phồng cuống họng lông đẹp gáy lên một tiếng đầy tự mãn. Con gà trống này—và sau đó những con gà trống khác khi tôi từ bé lớn lên và trong giai đoạn trưởng thành của tôi—đánh thức tôi trong lúc nửa đêm về sáng, óc miên man nhớ đến thuở niên thiếu lúc cha tôi dắt tôi đi qua các làng quê ở Quảng Bình. Bất kỳ cảnh tượng nào tôi gặp ở đây cũng được lọc qua tấm lăng kính của ký ức và tưởng tượng của tôi để trở thành tượng trưng cho một thiên đường tôi đã có một lần.
Ngày 3 tháng 4
Tôi thường mua nhật báo—và thỉnh thoảng các tạp chí—vào buổi sáng không phải lúc nào cũng đọc nhưng để sưu tập làm kỷ niệm thời gian sống ở đây. Dường như để đền bù bao nhiêu tôi phải chịu vì cuộc sống lưu vong quá lâu, tôi thu thập càng nhiều càng tốt bất cứ những gì liên quan đến Việt Nam, dù biết rằng tôi không thể mang tất cả mọi thứ về Mỹ với tôi.
Sau khi ăn cơm tối xong, tôi chạy ra sập báo ở góc đường để lấy một số báo tôi quên mua sáng nay. Trời sập tôi. Những giọt mưa nhẹ rơi trên đầu và vai tôi. Tronh ánh đèn đường dưới cơn mưa nhỏ và nhất là dưới áp lực của xe cộ nhộn nhịp, đường phố trông đông nghẽn hơn ban ngày. Lòng tôi bỗng nhiên thắt lại. Mọi vật bỗng nhiên trông quen thuộc một cách đau đớn, quá gần gũi với tôi và không thể tách rời khỏi tôi đến nỗi tôi cảm thấy như một phần của tôi, thuộc về tôi mặc dù tôi là người lạ ở đây. Tôi không cảm thấy như bị đe dọa bởi chỗ này chút nào. Đã gần bốn mươi năm kể tù lúc tôi rời Việt Nam, nhưng đêm nay tôi có thể nhận ra nó một cách dễ dàng và tình yêu của tôi đối với nó không suy giảm.
Người đàn bà bán báo hinh như kinh ngạc khi thấy thái độ của tôi tối nay. Thay vì hành động như một khách hàng bình thường, nghĩa là trả tền mua báo rồi về nhà, tôi nán lại và bắt chuyện một cách thân mật với cô. Tôi còn nhìn chăm chú vào cô khi nói chuyện. Cô có vẻ kinh hoảng khi thấy thái độ kỳ lạ của tôi. Cô không biết rằng giọng nói của cô tôi nghe tối nay khi cô mời tôi đọc qua các tạp chí nghe quen thuộc và thân thương đến nỗi làm tôi cảm thấy nhức nhối trong lòng như giọng nói của một cô em gái hay người yêu đã mất. Lòng ưa muốn tiếp xúc lại với quá khứ của tôi qua trung gian người phụ nữ trẻ tuổi này và thành phố này tràn ngập lòng tôi mạnh đến nỗi tôi có thể nhận diện được tất cả trong người phụ nữ và nơi chốn này. Tôi nói chuyện với cô một cách dễ dàng, thích thú được nghe giọng của tôi và giọng của cô ấy. Tôi dường như nghe giọng nói của người bán báo, thấy cơn mưa và giòng xe cộ rộn ràng như thế này trên một đường phố Saigon cách đây ba mươi lăm năm khi tôi dạy học ở trường Trung học Pétrus Ký. Quá khứ vào lúc khoảnh khắc tuyệt diệu (moment délicieux) này, nói theo Proust, đã trở về với tôi và đang ở trong tôi. Quá khứ đó tràn ngập hiện tại và vô hiệu hóa cảm giác nghi ngại, lo sợ đã tách rời tôi khỏi chốn này khi tôi mới về đây.
Tôi rão bước về nhà trọ, thưởng thức những tiếng đập trên vai tôi của cơn mưa nhẹ và những tiếng ồn nén lại của dòng xe cộ ban đêm. Tiếng động kích thích một tổng hợp các thứ--âm thanh, hình ảnh, cảm giác, tình cảm—cuồn cuộn trào ra từ trong tôi, mơ hồ, lẫn lộn, mạnh mẽ, tràn đầy, khiến tôi khó thở, nhưng làm tôi khoan khoái biết bao. Tôi cuốn theo tiếng động. quên mất đường về nhà. Đây là quá khứ tôi tưởng đã mất trước khi về quê nhà, một quá khứ làm bằng những âm thanh tôi đã nghe vào giờ này trong một buổi chiều muộn năm 1960 khi tôi thảnh thơi bước trên con đường này sau khi rời chuyến tàu hỏa tốc hành từ Nha Trang. Đây cũng là quá khứ đổ xuống người tôi khi tôi nghe tiếng trẻ con chơi đùa vui vẻ ở sân trường trong xóm chị Thúy ngày hôm trước, hay khi tôi thức dậy bởi tiếng rao của nguòi bán hàng rong trong đêm khuya tĩnh mịch. Trong tĩnh mịch những tiếng động thú vị đó đã nằm trong tôi trong bốn mươi năm qua nay bỗng sống lại. Điều làm tôi thích thú—và cũng làm tôi không hiểu—là thế giới vật chất nơi tôi đang sống và thế giới nhớ lại hòa lẫn với nhau thành một khiến tôi không thể phân biệt cái nào thực và cái nào tưởng tượng. Cái hiện tại dường như bất biến ấy không phải có phải có nghĩa rằng tôi đã tìm bắt được thiên đường đã mất trong thời gian còn lại ở đây chăng?
Trong Con đường cúa Swan [Swan’s Way ] Proust dùng thí dụ chiếc độc bình như là tượng trưng cho sự ẩn kín và tìm lại được của quá khứ. “Một giờ không phải chỉ là một giờ. Một giờ chính là chiếc bình chứa đầy hương thơm, âm thanh, dự án và khí hậu.” Qua suốt Đi tìm thời gian đã mất [Remembrance of Things Past] một trong những đề tài thường tái hiện—ký ức tiếng vang (echoic memory)—âm thanh (tiếng động) kích động ký ức và lam quá khứ sống lại. Nhưng quá khứ sống lại với âm thanh mà được hồi sinh cùng một lần, như Proust có thể nói, vớii màu sắc, ảnh tượng của nó. Mặc dù chỉ có công dụng tạm thời, âm thanh vẫn quan trọng đối với kẻa lưu vong như tôi đã mất tất cả ở quê nhà, không còn lại cái gì có thể giúp tìm lại thời gian đã mất ngoại trừ tiếng vọng xa xăm của quá khứ.
*Trích dịch từ In Search of Lost Time: A Literary Memoir by a Vietnamese Ảmerican Scholar (nhà xuất bản Mandorla Books, 2024).
Trần Quí Phiệt
2026