JACQUES PRÉVERT
Thơ Trong Đời Sống
|
================================= |
bài của NGUYỄN QUANG HIỆN
Trong khí hậu nung nấu, cũng như trong cảnh đổ nát của Âu-châu và của nước Pháp trước và sau hai cuộc Thế-chiến, nền văn nghệ, và nói riêng nền thi ca Pháp có những sự biến chuyển mạnh, phát sinh nhiều môn phái mới. Siêu-thực Surréalisme là một trong những trường thơ ra đời trong thời kỳ sau đệ Nhất Thế-chiến với các thi sĩ đi hàng đầu như André Breton, Louis Aragon, Antonin Artaud, Réné Char, Robert Denos, Paul Eluard… Có một số khác trưởng thành trong không khí siêu-thực và tác phẩm của họ thuấn nhuần tính chất này, nhưng h́nh như họ không muốn bị lôi cuốn hẳn theo, nên nhiều người coi họ như đi bên lề của siêu-thực, trong số đó có Jean Cocteau, Henri Michaux, Raymond Queneau, Jacques Prévert, Jules Supervielle… Jacques Prévert có R. Queneau là bạn thân, tuy có nhiều lần kư tên vào những bản tuyên ngôn của phái siêu-thực, nhưng Prévert lại đi một con đường riêng, v́ thơ ông chứng tỏ một giá trị đặc biệt khác hẳn các bạn đồng đội. Chính v́ sự khác biệt độc lập đă tạo cho ông một địa vị khả quan hơn so với các bạn đồng đội về sự phổ cập trọng đại chúng. Danh tiếng ông vang dậy đến nỗi R.Queneau phải hạ bút viết rằng thế hệ trẻ của những năm 1940-45 có hai bậc thầy là Jacques Prévert và Jean-Paul Sartre. Nhận xét tuy có lẽ chỉ chính xác ở sự phổ cập của hai người, mà không chính xác ở nhiều khía cạnh khác, nhưng cũng phải ảnh phần nào, địa vị và ảnh hưởng của Prévert. Được như vậy có lẽ là v́ sự hoạt động rộng răi của ông cả về điện ảnh cũng như văn chương, và nhất là rất nhiều bài thơ của ông được nhiều nhạc sĩ danh tiếng đem phổ nhạc, nhưng cũng phải nói rằng thơ của ông rất gần với đại chúng.
Jacques Prévert sinh năm 1900 ở Neuilly-sur-Seine, lớn lên ở Paris cùng thời với sự phát hiện của trường phái siêu-thực nên ông cũng bị lôi cuốn theo. Thơ ông thoạt đầu đăng rải rác trên các tập san như: Bifur, Comrnerce, Soutes… trước khi được in thành tập. Ông nổi tiếng lần đầu vào năm 1930 với bài Tentative de description d’un diner têtes à Paris, một bài thơ có giọng trào phúng châm biếm ngông nghênh khiến ông được đồn đại khắp Paris và trở thành một thi sĩ được mời đón nhất thời đó. Bài này sau được in lên những trang đầu của tập Paroles cho xuất bản thành tập năm 1946, tái bản năm 1948 và liên tiếp sau đó là tập Histoires cùng năm 1946 và tập Spectacle của Prévert, riêng tập Paroles bán tới 150.000 cuốn trong vài tuần đầu, từ trước chưa có tập thơ nào bán được nhiều trong một thời gian ngắn như thế, ngay ở Pháp. Có lẽ v́ thơ Prévert đă đi sâu vào đại chúng, và ông trở thành một nhà thơ phổ thông. Ông đă thực hiện được sự ḥa giải kỳ diệu giữa thơ và đại chúng, nói rơ hơn, ông dung ḥa được cái tối tân, cái nổi loạn của siêu-thực với những sự kiện thông thường hàng ngày. Ông thường dùng một thứ ngôn ngữ, một kỹ thuật riêng, tuy nhiễm chất siêu-thực phá phách,nhưng lại biến thái nó khiến mọi người Pháp trung b́nh đều có thể hiểu được hay tưởng là có thể hiểu được những câu thơ có vẻ ngô nghê phi lư nhưng vui tươi và cũng hàm súc của ông.
Người đọc sẽ thấy rất có cảm t́nh với những h́nh ảnh gọn gàng, tân kỳ như một lối kiến trúc mới, mà không kém phần hàm xúc trong bài Déjeuner du matin (Bữa điểm tâm):
Chàng đổ cà-phê
vào trong tách
chàng đổ sữa
vào trong tách cà-phê
………………………..
chàng đứng dậy
đội mũ lên đầu
chàng mặc chiếc áo mưa
v́ trời th́ mưa
và chàng bỏ đi
dưới trời mưa
không để một lời
không nh́n tôi
và tôi ôm lấy
đầu tôi trong bàn tay
và tôi khóc.
Đó là một màn kịch câm ngắn, nó diễn tả vừa đủ tâm trọng của thanh niên trong một buổi sáng nào đó cũng như những buổi sáng khác, nhưng có một bi kịch bên trong bi kịch ẩn-đục, u-uất như trời mưa của hai nhân vật. Bi kịch đó mỗi người đều mang riêng cho ḿnh một tâm sự, một sự trống trái, buồn phiền khôn-nguôi và không-nói-lên-được của lớp người trẻ sau chiến tranh. Tâm sự của thanh niên thời hậu-chiến này vào thời bấy giờ là một nét mặt mới của văn nghệ, là một tâm trạng thực sự mới mẻ, chứ không phải như danh từ đó dùng cho ngày nay. Những hành động của nhân vật ấy rất b́nh dị và lặng lẽ. Từng cử chỉ nhỏ như đổ cà-phê vào sữa, đổ sữa, pha đường, hút thuốc, thở khói, đứng lên, mặc áo và ra đi, không nói, không diễn tả một t́nh cảm nào, nhưng qua cử chỉ b́nh thường ấy người ta thấy như nhận ra một cuộc đời với những buồn phiền sợ hăi sâu xa của dĩ văng và tương lai. Chàng ngồi ăn sáng với nàng, không nói ǵ với nàng, cũng không nh́n nàng, nàng lặng lẽ nh́n cử chỉ của chàng, và chàng ra đi vào mưa gió, làng ngồi đó trong cô đơn trống trải và nàng ôm lấy đầu mà khóc. Hai người có nhau nhưng cả hai đều cô đơn.
Cũng cái thứ t́nh cảm ngẩn ngơ như mất trí của con người sau chiến tranh, trong gia đ́nh, là một bi kịch, nhưng những nhân vật của bi kịch đó lại rất rửng rưng. Đây là một thứ bi kịch ngắn viết bằng thơ suôi, một bà mẹ ngồi trong nhà, đứa con trai đi vào, người mẹ hỏi đứa con dấu cái ǵ trong tay, đứa con nói: đó là thủ cấp của anh nó, nó giết anh v́ anh nó thông minh hơn, người mẹ bảo đưa cái đầu lâu cho người mẹ cất đi, cất vào hầm rượu, v́ đó là chỗ mà bà đă cất cái đầu của chồng bà. Có tiếng gơ cửa, người con trai không đầu bước vào, người mẹ bảo hai đứa con hăy xử ḥa nhau, nhưng người anh không ăn được. Người mẹ bỗng tươi cười lấy cái phễu để vào cổ con rồi rót súp vào.
Con người điên khùng như thế giết nhau v́ tị hiềm, chiến tranh đó, và cái chết của kẻ khác không có ǵ đáng ngạc nhiên, không c̣n sức để ngạc nhiên hay đau đớn v́ nó xẩy ra b́nh thường, và tuổi trẻ, Ah, jeunesse, folies et billevesees !... tuổi trẻ đầy những điên khùng và vơ vẩn. Có những người sống cũng ăn uống nhưng cũng như người mất cái đầu suy nghĩ và ăn như là lấy phễu đổ súp vào họng.
Rồi những kỷ niệm của chiến tranh đă qua, chiến tranh và t́nh yêu:
Barbara
em c̣n nhớ không
hôm ấy trời mưa hoài trên Brest
em bước đi vui cười
ướt lướt thướt rạng rỡ vui tươi
dưới trời mưa
………………………….
Barbara
chiến tranh thật khốn khiếp
giờ đây em ra sao
dưới trận mưa sắt
lửa thép và máu
và người đă ôm em trong tay
một cách đắm say
hắn đă chết, biệt tích, hay c̣n sống.
Và trời hôm nay vẫn c̣n mưa, mưa cũng như ngày nào, nhưng bây giờ Brest đă thay đổi và người xưa cũng đă vắng bóng mưa bây giờ th́ khủng khiếp và bi thương. T́nh cảm ấy cũng đi vào những Scène rất trữ t́nh và cũng rất trống trải.
Tôi đi chợ bán hoa
và tôi mua hoa cho em
t́nh yêu ơi
rồi tôi tới chợ nô lệ
và tôi t́m em
nhưng không thấy em đâu
t́nh yêu ơi.
Rồi từ đó tới những t́nh cảm rất thơ, rất Prévert như bài ca của hai con sên đưa đám một chiếc lá vàng, đưa đi đến huyệt th́ trời vừa vào xuân, chiếc lá xanh trở lại. Đó là những t́nh cảm hồi sinh, sự vui mừng ngây thơ của mùa xuân trở về, khi chiến tranh đă qua rồi. Hay những nỗi buồn của “buổi ḥa tấu đă không thành công” (le concert n’a été réussi).
Những t́nh cảm đó rất gần và rất thân thiết với đa số thanh niên Âu-châu bấy giờ, sau cùng nếu phải cần giải thích về ḿnh, về mỗi người, th́ sẽ nói:
“Je suis comme je suis”
tôi thế nào th́ tôi là thế
tôi sinh ra đă như thế
khi tôi muốn cười
tôi cười lớn
tôi yêu người nào yêu tôi
đó có là lỗi tại tôi không…
… tôi sinh ra để vui chơi…
Như thế mọi vấn đề trở thành giản dị rồi, chiến tranh đă xảy ra tội lỗi, con người tội lỗi, nhưng mọi việc đă như thế rồi, không có ǵ thay đổi nữa cả.
Jacques Prévert đă từng làm phim trước khi ông nổi tiếng về thơ, ông đă viết đối thoại cho nhiều cuốn phim giá trị như của Marcel Carné, của Jean Renoir, của Christian Jacque… như những cuốc Quai de brume, Une femme dans la nuit, Les visi-teurs du soi, Les portes de la nuit, Les enfants du paradis, Sortilège… và hàng chục cuốn khác. Có lẽ cái kỹ thuật điện ảnh đă giúp ông, đă ảnh hưởng tới ông trong việc “thu h́nh” sự vật, loại trừ tất cả những ǵ phụ thuộc của các nhận xét cổ điển. Ta thấy một bản phác họa, một cái “prise de vue” của điện ảnh nằm trong tác phẩm Le Bel indifférent của Jean Cocteau và là một trong những bài thơ hay nhất của Jacques Prévert đó là bài Déjeuner du matin (bữa điểm tâm, đă trích dẫn ở đoạn trên). Cái kỹ thuật này cũng một phần tượng trưng cho cách nh́n, cách thu nhận sự vật của Prévert, thu nhận h́nh ảnh một cách khách quan, không chú thích như điện ảnh và bằng một ngôn ngữ thông thường, mộc mạc, dễ yêu, một đôi khi đùa cợt nhưng rất sáng sủa. Cái lối thơ này có vẻ như đối nghịch với kỹ thuật của một René Char hay một Henri Michaux, tuy rằng nó cùng bắt nguồn từ một cảm hứng, cùng một chất siêu-thực muốn dứt đứt và đối lập với thẩm mỹ cổ điển, muốn khám phá những vùng sơ khai của các hiện tượng tâm linh bằng con đường khác hơn là lư luận. Nó cùng đi t́m những h́nh ảnh biệt lập mang chất thơ nguyên thủy, tuy sơ khai nhưng quan sát kỹ th́ thấy chúng cũng được nhào luyện và kiểm điểm. Như thế khi người đọc nh́n vào tác phẩm có thể tự ư suy xét, nhận thức theo ư muốn riêng của ḿnh, như nh́n trên màn ảnh hay đời sống thật bên ngoài. Một kỹ thuật như thế, với một ngôn ngữ b́nh dân, nó có thể dễ dàng b́nh-dân-hóa chất siêu-thực, nó hạ thấp xuống cho mọi người dễ nh́n ra tuy rằng có những sự kiện rất nghịch đề, rất thả lỏng của ư nghĩ bị chất chứa, hay một sự thúc đẩy không dự định của trí tưởng tượng. Thật ra không nên nói sự kiện của thơ Prévert nhiễm tính chất phi lư của văn chương đương thời, bởi v́ sự phi lư nó gần gũi với ư thức siêu h́nh và nghiêm trọng hơn thư Prévert.
* *
*
Những tính chất của Prévert kể trên đă là thuần túy thi sĩ, đă tạo ra những tác phẩm nghiêm trang có giá trị. Nhưng một đặc tính độc đáo đă làm cho độc giả nhớ đến những bài thơ của ông hay nhắc đến tên ông là sự ngông nghênh, phá phách, châm chọc bằng những kỹ thuật tiểu sảo.
Cũng giống Rabelais, Prévert sử dụng tất cả các khả năng của ngôn ngữ, từ sự đồng âm dị nghĩa, cách chơi chữ, cách nói nhịu, hay nhại lại một tác phẩm nào. Như trong bài L’ accent grave, vị giáo sư bảo một cậu học tṛ đọc hamlet chia động từ “être” theo cái lối rất Shakespeare (to be or not toi be, that is the question) bởi v́ cậu tên là Hamlet.
Giáo-sư: Tṛ Hamlet!
Tṛ: Dạ…. xin lỗi, cái ǵ đă xẩy ra, có cái ǵ đây ạ… cái ǵ ạ?
Giáo-sư (giận dữ): Tṛ không thể trả lời “có mặt” như người khác sao? Không thể được, tṛ vẫn c̣n đang ở trong mây.
Tṛ: Đang ở, hay không đang ở trong mây !
Giáo-sư: Đủ rồi, chia cho tôi động từ “être”, như mọi người.
Tṛ: To be…
Giáo-sư: bằng tiếng Pháp như mọi người.
Tṛ: Vâng thưa Thầy: Je suis ou ne suis pas
Tu es ou tu n’es pas
Giáo-sư (rất giận): Nhưng chính tṛ, c’est vous qui n’y êtes pas.
Tṛ: Đúng thế, thưa Thày.
Je suis “̣u” je ne suis pas
Và bên trong, dạ, trong sự suy ngẫm
Être “̣u” ne pas être
đó cũng cói thể là vấn đề.
Vậy th́ vấn đề cũng là do cái dấu huyền (accent garave) trên chữ “ou”.
Trong một bài khác: Cortège, là một trong những bài thơ nổi tiếng của Prévert đă nhấn mạnh cá tính phá phách, châm chọc, ngông nghênh, và… siêu thực của ông.
Un vieillard en or avec un montre en deuil
Une reine de peine avec homme d’ Angleterre…
Un hessard de la farce avec un dindon de la mort
Un serpent à café avec un moulin à lunettes
Un chasseur de corde avec un danseur de têtes…
Bài thơ này khó dịch v́ vậy đây là cách nói chữ trong tiếng Pháp v́ người ta nói un montre en or (cái đồng hồ bằng vàng) và un vieillard en deuil (ông già có tang) th́ ở đây Prévert đặt ngược lại un vieillard en or và un montre en deuil. Câu thứ hai đáng lẽ nói une reine d’Angleterre (bà hoàng nước Anh) và un homme de peine (một người khổ dịch) th́ ông đặt ngược lại khiến cho câu thơ có một nghĩa kỳ cục, ngộ nghĩnh, châm biếm, suốt cả bài thơ đều như thế:
Un petit soeur de bengale avec un tigre de St. Vincent de Paul
Un professeur de porcelaine avec un raccommodeur de philosophie
Đáng lẽ câu nói thường của sự kiện thông thường là một d́ phước ḍng Thánh Phao-lô (une petiter soeur de St. Vincent de Paul) và một con hổ ở xứ Bengale, th́ đổi ngược lại thành một d́ phước thường nói một giáo sư triết học và một người thợ bán đồ sứ th́ ở đây đổi ngược lại hóa ra một giáo sư… đồ sứ và một thợ hàn… triết học. Thực ra không có ǵ là thơ, là nghệ thuật ở đây, nhưng nó làm người đọc (Pháp) thấy hứng thú như vừa phá được cái định lệ bà Hoàng xứ Anh biến ra bà Hoàng khổ dịch, và giáo sư-Triết thành giáo sư-đồ sứ, các nữ tu hóa ra con hổ. Sự nhào lộn ngôn ngữ này làm cho người ta thỏa thích như vừa thoát ra khỏi ước lệ cũ, chỉ trích được những cái ǵ bất khả xâm phạm cũ. Những vị nữ hoàng, giáo sư, Napoléon, nữ tu khả kính đều bị Prévert đem ra diễu cợt, ngạo nghễ.
Trong cái đà chơi chữ này Prévert c̣n đi xa hơn nữa như bài Chant song là một bài thơ rất Prévert với những câu:
Moon lune
Chant song
Rivière river
…………
Je t’aime tant
T’aime tant
Time temps
Đó là cách để gần những chữ có âm thanh tương đương như chant song, chant là chữ Pháp, song là chữ Anh nhưng đọc cả hai chữ lên người ta nghe ra chanson; rivière và river đọc lên nghe như rivière rêveur, t’aime tant đọc lên nghe như time tempas.
Tuy điểm này, trong khuynh hướng hiện tại, chỉ làm cho người đọc mỉm cười và thấy vui vui, mà không tạo được sự khen ngợi hay thán phục một cách sâu xa, nhưng nó là toàn bộ Prévert điển h́nh cho thơ Prévert và con người ông. Cái con người ham hoạt động, ham sống trong đời sống, ham sống ở nhiều nơi. Và t́nh cảm là t́nh cảm của một du khách mang máy quay phim đi thu cảnh sống, với những sự vui vẻ dễ dăi khi tới một thành phố lạ.
Ở Barcelone:
Thế giới cười trong ánh nắng
cười với toàn thể mọi người
cười với tuổi trẻ với khổ hạnh và sắc đẹp
cười với người khách lạ.
Hay trong khu da đen Harlem ở Mỹ “trong bầu trời toàn đen của Harlem, có ngôi hàng của tú Tom”. Hay ở London th́ Prévert viết ra những vần thơ tưởng như dịch của một thi sĩ Anh ra:
Mỗi buổi sáng trong vườn Peter Pan
Nhà quư phái này ăn sáng với một con chim là bạn
Và kể chuyện đời ông cho chim nghe
Con chim không hiểu ǵ nhưng nghe rất chăm chú
Được rồi nhà quư phái mỉm cười nói
Tôi không phải sống để mà hiểu
Tôi cũng không bao ǵ hiểu ǵ về đời tôi hết.
* *
*
Một hôm chợt Jacques Prévert nói với André Gide là ông không bao giờ biết đến Thượng-đế cả. và Tôn-giáo đối với ông chỉ là “những tổ hợp những điều dị đoan” (les trusts des supersti-tions). Không phải do lư luận mà ông trở thành vô thần, mà chính là v́ do trí tuệ cơ năng (intelligence organique) theo chữ của André Malraux, nghĩ theo những điều ḿnh nh́n thấy, nh́n mọi vật theo trái tim, nắm thật và trực tiếp vào đời sống, vậy th́ như thế có thể nói là mắt người ta không thấy và trái tim người ta không gặp Thượng-đế:
Cha ông của chúng ta đă ở trên trời.
Xin các ngày cứ ở đó.
Đó là tiếng đầu tiên và cũng là tiếng cuối cùng, v́ Prévert tuyên bố một trạng thái vô tư: simplement le beau temps tout le temps.
Thời gian tốt đẹp, những ngày đẹp trời khi Thượng-đế không can dự vào:
Và Thượng-đế bị đuổi khỏi Thiên-đàng trần-giới
bởi những đứa trẻ đáng kính
chúng không hề biết ǵ về Eve và Adam
Thượng-đế bị đuổi khỏi cửa, và Thượng-đế thất nghiệp:
Thượng-đế đi kiếm việc ở các xưởng máy
kiếm việc cho Ngày và cho lũ rắn của Ngài.
(La nouvelle saison)
Nhưng không c̣n những xưởng máy:
Chỉ c̣n có
một trái đất ph́ nhiêu
một mặt trăng trẻ thơ
một đại dương tiếp đón
một mặt trời tươi cười
Cũng trong tập Spectacle ông viết: những tṛ chơi của ḷng tin chỉ là những tro tàn bên cạnh những ngọn núi lửa của thú vui. Trật tự tự nhiên thay thế trật tự siêu nhiên. T́nh yêu là Tôn giáo, T́nh yêu là nguồn bất tử duy nhất.
Hàng triệu năm và hàng triệu năm
cũng chỉ cần
giây phút bất tử ngắn ngủi
lúc em hôn anh
Một buổi sáng trong ánh sáng mù Đông
ở Paris
trên mặt đất
trái đất là một v́ tinh tú.
(PAROLES)
Một v́ tinh tú có những con chim én, dù rằng có những con ruồi. Nhưng:
Những con ruồi mới ngoan đạo
con chim én th́ vô thần.
V́ con chim én th́ đang sống, đẹp và bay nhanh.
Con công làm cái bánh xe
sự ngẫu nhiên làm những vật c̣n lại
Thượng-đế ngồi trong đó
và người th́ đẩy xe.
Ư tưởng đó cũng gần giống câu của Alain: Linh hồn nhân loại có thể tạo ra Thượng-đế, th́ cũng có thể không cần tới Thượng-đế (Alain, Étude sur Sterne). Để trả lời câu hỏi tạo sao ông không tin ở Thượng-đế, ông nói là ông tin ở Siêu-thực, không, Siêu-nhiên, tin ở những sự kỳ diệu nhưng không tin sự linh thiêng. Do lỗi ở Thượng-đế, ông phải chịu những nỗi lo buồn hiện-sinh, và sự bối rối về thời gian đổi thay mà con người cảm thấy “Cuộc đời mà buồn th́ cái chết là sự giải muộn” (J.Prévert. Charmes de Londres). Đối với ông có một tín điều là biết sống trong khi c̣n sống. Và t́nh yêu rất cần thiết cho đời sống, v́:
Khi đôi tim của một cặp t́nh nhân
cùng ḥa một nhịp
lũ quỷ sẽ bỏ đi
trong đêm tối thời gian.
V́ phủ nhận Thượng-đế nên cơ ngợi đời sống hôm-nay:
Cha ông chúng ta ở trên trời
xin các ngài cứ ở đó
và chúng ta ở lại trên mặt đất
v́ một đôi khi nó rất đẹp
với những sự huyền bí của New-York
với những sự huyền bí của Paris
với tất cả những tuyệt diệu của thế giới
dâng hiến cho toàn thế giới.
(Pater Noster, PAROLES)
Có lẽ ở điểm này Prévert trở thành bạn của Gide, nhưng không phải v́ thế mà ông trở thành thi sĩ triết gia. Ông có thể là một kẻ vô thần, nhưng không phải một lư thuyết gia về chủ nghĩa này, mà chỉ là một kẻ muốn chống đối, chống đối tất cả, tất cả những ǵ ngược lại với tự do và sự phát triển của con người.
Chống ước lệ xă hội, chống áp bức, chống sự thật, chống Thượng-đế… một cách vui tươi, dí dỏm. Triết lư của ông, nếu cần phải nêu ra, có lẽ chỉ là để vẽ lên trên tấm bảng đen bất hạnh, một khuôn mặt hạnh phúc.
avec des craies de tout couleurs
sur le tableau noir du malheur
it dessine le visage du bonheur
(PAROLES)
Sau cùng ông là một người thật, như bạn ông là R.Queneau nói, ông muốn nh́n thế giới theo sự thật dù rằng:
dịu dàng hay phũ phàng
thực hay siêu thực
ban đêm hay ban ngày
đều đẹp tất cả
Tất cả đều đẹp, beau comme tout. Và chính v́ ông biết thế giới đều tốt đẹp, chính ông cũng là người tốt. (R.Queneau, Revue de Paris, Juin, 1951).
Ông muốn tạo ra một thế giới trong đó:
không có mùa hạ, không có mùa đông
không có mùa thu, không có mùa xuân
chỉ có luôn luôn là đẹp trời.
(HISTOIRES)
Phụ lục: Thơ Jacques Prévert
NGÀY HỘI
Trong những ḍng suối nguồn của mẹ
tôi ra đời vào mùa rét
một đêm tháng Hai
Mấy tháng trước kia
khi giữa mùa Xuân nở
ánh lửa hoa dăng đă tỏa trong ḷng cha mẹ
là ánh mặt trời của đời sống
và tôi đă có bên trong
hai người đă san sẻ máu cho thân tôi
đó là rượu ngọt từ ḷng suối nguồn
không phải dưới hầm rượu
Và cũng một ngày
tôi sẽ bước đi như hai người.
PHỐ SEINE
Phố Seine mười giờ rưỡi tối.
ở góc một phố khác
một người đàn ông chệnh choạng… một người trẻ
đội mũ và mang áo mưa
một người đàn bà lay hắn.
nàng lắc hắn
nàng nói với hắn
và hắn lắc đầu
mũ của hắn đă cũ nát
và mũ người đàn bà sắp rơi xuống phía sau
cả hai đều xanh xao
người đàn ông chắc chắn đang the, đi xa…
đi biệt tích… để chết…
nhưng người đàn bà thèm sống điên cuồng
và tiếng nói của nàng
tiếng nói th́ thào
người ta không nghe rơ
đó là tiếng kêu than…
… người đàn ông nh́n nàng mắt quay đi
hắn làm những điệu bộ bằng cánh tay
giống người sắp chết ch́m
câu nói trở lại
phố Seine ở góc phố nào khác
người đàn bà tiếp tục
không mệt mỏi…
tiếp tục câu hỏi lặng lẽ
vết thương không thể nào hàn gắn
Pierre nói thật cho em đi
Pierre nói thật cho em đi
em muốn biết sự thực
hăy nói thật cho em đi…
Chiếc mũ của nàng rơi xuống
Pierre em muốn biết tất cả,
hăy nói thật cho em đi…
Câu hỏi ngu xuẩn và lớn lao
Pierre chỉ biết trả lời
Nó mất rồi
Cái kẻ mang tên Pierre ấy…
hắn có nụ cười có lẽ muốn làm cho dịu dàng
Và nhắc lại
Thấy không, em hăy b́nh tĩnh em điên rồi
Nhưng hắn không tin hắn nói
Nhưng hắn không trông thấy
Hắn không thể thấy tại sao
Miệng người đàn ông méo đi v́ nụ cười…
hắn nghẹn thở
thế giới đề trên hắn
và làm hắn tức thở
hắn là tù binh
bị đóng chặt v́ lời hứa…
người ta đ̣i hắn những bản tính toán…
trước mặt hắn…
một cái máy tính
một cái máy chữ và những bức thư t́nh
một cái máy khổ đau
giữ lấy hắn…
móc vào hắn…
Pierre nói thật với em đi.
BĂI CÁT LÚN
Ma quỷ và kỳ diệu
Gió và thủy triều
Phía xa bể khơi đă rút đi
Và em
Như chiếc rong biển vỗ về bởi gió
Trên cát làm giường em mơ màng động đậy
Ma quỷ và kỳ diệu
Gió và thủy triều
Phía xa bể khơi đă rút xuống
Nhưng trong đôi mắt em hé mở
Vẫn c̣n hai đợt sóng
Ma quỷ và kỳ diệu
Gió và thủy triều
Hai đợt sóng để làm anh ch́m đắm. (NQH dịch)
Tập san VĂN số đặc biệt về JACQUES PRÉVERT, tháng 11-1964
Nguyễn Quang Hiện
Nguyễn Quang Hiện sinh năm 1938 tại Hải Dương. Di cư vào Sài G̣n năm 1955 học Trung học Chu văn An. Học đại học Luật Khoa. Phụ tá Tổng Giám Đốc Nha Ngân Sách Ngoại Viện. Du học về kinh tế tại The Hague Hoà lan.
Năm 1975 bị tù cải tạo 3 năm tại Trảng lớn, Tây ninh. Vượt biên tới Songkha Thái Lan. Sang Mỹ năm 1979. Định cư taị Maryland học vi tính và làm việc trong ngành đó cho tới khi về hưu năm 2007.
Trước năm 1975 đă có sáng tác văn thơ đăng trên các tạp chí VĂN, VẤN ĐỀ …
Gió O nhận được một tuyển tập sáng tác của nhà văn Nguyễn Quang Hiện do tác giả và nhà thơ Nguyễn Thanh Châu gửi đến. Được biết hiện có thân hữu đang thu xếp cho in tuyển tập này tại hải ngoại. gio-o.com sẽ giới thiệu một số sáng tác xuất sắc gồm: văn, thơ, tản mạn, của nhà văn Nguyễn Quang Hiện đă xuất hiện trước 1975 trên các tạp chí văn chương uy tín ấy, trong nhiều kỳ. (11.2014)
http://www.gio-o.com/NguyenQuangHien.html
© gio-o.com 2015