TTG

phong cách

 

Sáng tạo là một hành động cô đơn, bất kỳ ai bước vào con đường sáng tạo đều phải đối diện với một sự thật hiển nhiên là không ai có thể thay mình đi qua nỗi hoài nghi nội tâm. Tài năng, kỹ năng, hoặc sự công nhận của công chúng đều đến sau. Điều đến trước và luôn ở lại, là giọng nói thầm thì trong đầu, liệu những gì mình đang làm thực sự có ý nghĩa?

Cái tôi sáng tạo đôi khi không xuất hiện như một tiếng sấm sét hay một khoảnh khắc bất ngờ, mà mơ hồ len lỏi trong những năm tháng tuổi trẻ khi tôi chưa đủ từ ngữ diễn đạt những gì mình cảm nhận, nhưng đã mang trong lòng một cảm thức rằng thế giới này không đủ cho tôi, hoặc chính tôi không đủ cho thế giới này. Sáng tạo đến từ nơi sâu kín nhất trong bản thể và được hình thành từ những sự không phù hợp, những khoảnh khắc tự nhận mình là người xa lạ. Tôi sống như thể mình đang ở bên lề cuộc sống của chính mình, chỉ quan sát và ghi nhận, như một nhà nhân chủng học giữa lòng xã hội hiện đại.

Nhiều người nghĩ sáng tạo là hành trình tìm kiếm vẻ đẹp. Tôi thì nghĩ nó là hành trình đi xuống đáy để có thể chạm vào người khác một cách tử tế. Cách đây bao nhiêu năm khi viết những trang đầu tiên, tôi chẳng hề nghĩ là có người đọc. Tôi viết như đang cầu cứu, như đang trả thù, mà đó cũng là thảm kịch của tuổi trẻ, và cả tuổi không còn trẻ, là không biết nguyên nhân của sự cầu cứu và sự trả thù. Những nhà đạo đức học đặt tên cho sự cầu cứu đó là sự mất phương hướng tuổi trẻ, những nhà phân tâm học thì đặt tên cho sự trả thù đó là sự uẩn ức tuổi trẻ, còn tôi thì tiết chế ngôn từ hơn, gọi đó là sự động cỡn tư tưởng tuổi vị thành niên.

Khi viết, tôi không bao giờ tưởng tượng mình là trung tâm của thế giới. Ngược lại, tôi viết như thể thế giới không cần tôi. Tôi không viết để được chấp nhận. Viết như một kẻ đứng ngoài lề, một kẻ bị ruồng bỏ, bị hiểu lầm, bị bỏ rơi. Tôi học cách yêu sự lạc loài. Chính cảm giác bị đẩy ra ngoài, không được thuộc về, lại là món quà lớn nhất cho người sáng tạo, buộc tôi phải quan sát thế giới như một kẻ lạ. Tôi tập không tin những gì người ta tin. Tôi thường không lặp lại điều người ta nói, hoặc nếu có, thì tôi lập lại với sự kính trọng cao nhất mà có thể, với sức nặng của trí tuệ, và tùy theo cảm xúc để lãng mạn hóa, hoặc thô tục hóa với khả năng ngôn ngữ có sẵn. Tôi hoài nghi, tôi đặt câu hỏi, tôi phá vỡ hình mẫu. Viết như tôi không được mời vào bữa tiệc của thế giới nên tôi dựng lên bữa tiệc của riêng mình. Tôi tìm kiếm ngôn từ, bất luận ngôn ngữ gì, ký hiệu gì để diễn đạt ý nghĩ của tôi, thay vì sử dụng ngôn ngữ để bộc lộ ý tưởng. Tôi làm ngược lại. Tôi đẻ ngược, tôi bị đẻ ngược. Tôi không cố gắng hòa nhập để rồi đánh mất cái nhìn riêng biệt.

Ngòi viết trung thực không tin vào sự khách quan mà chỉ tin vào việc không giấu mình. Viết, trong nghĩa ấy, là hành động sống giữa hai thái cực, biết rằng sự thật không thể trọn vẹn, nhưng vẫn cố gắng đến gần nó bằng giới hạn của chính ngôn ngữ. Trung thực không nằm ở nội dung của lời kể, mà ở ý thức rằng lời kể luôn thiếu thốn.

Tôi không tin vào sự nghiệp văn chương, càng không tin vào việc trở thành một tác giả được ngưỡng mộ. Độc giả đến và độc giả đi, các phê bình gia thì có quota mỗi tuần, mắng ba tên khen hai mống, những lời ca ngợi chê bai cũng đi theo mây trôi gió cuốn, chỉ có tôi là còn ở lại thì sao lại quan tâm. Người viết không phải là người nắm giữ chân lý, mà là kẻ lang thang đi tìm những mảnh vụn của sự thật, dù biết sẽ không bao giờ ghép được chúng lại. Mỗi cuốn sách tôi viết, là một nỗ lực bất thành để chạm vào cái vô hình. Và phong cách, nếu có thể định nghĩa chính là dấu vết của những nỗ lực ấy. Tôi chưa bao giờ thực sự chạm tới sự thật, vì sự thật rất khó mà thêu dệt, còn sáng tác ra sự thật thì dễ hơn nhiều. Tôi thường làm chuyện khó hơn một chút, nhưng nếu khó quá thì dành cho những người có số mệnh khó hơn.

Tôi có thói quen trầm lặng quan sát hơn là hồ hởi tham gia. Những gì người khác cho là thực tế, tôi thường cảm thấy như lớp vảy rắn chưa lột, bọc bên ngoài một thực tại sâu thẳm hơn. Trong các cuộc đối thoại đời thường, tôi thường thấy mình như đang đóng một vai trò nào đó và chỉ khi viết, may ra tôi mới đối thoại với tôi.

Từ xưa đã vậy và giờ cũng thế. Tôi viết vì không thể không viết, như một hành vi sinh tồn, một cách để thoát khỏi cảm giác mình là kẻ thừa thãi trong một thế giới vốn chẳng dành cho những tâm hồn quá mẫn cảm. Sự hình thành của cái tôi sáng tạo là sự hình thành của một vùng lãnh thổ riêng, nơi tôi có thể được là chính mình, rất cô độc, rất kỳ dị qua nhận xét của những người khác, và ngược lại tôi cũng thấy họ như thế.

Mỗi người nghệ sĩ, mỗi nhà sáng tạo đều mang trong mình một hành trình riêng biệt, một câu chuyện cá nhân hòa quyện với những suy tư sâu sắc về cuộc sống và sự tồn tại. Phong cách sáng tạo không phải là điều ngẫu nhiên hay tự phát, mà là kết quả của một quá trình dài đằng đẵng, quá trình mà trong đó, tất cả những kiến thức, chiêm nghiệm, cảm xúc, suy nghĩ, phân tích và cả những khủng hoảng nội tâm được tích tụ, chuyển hóa và biểu đạt thành ngôn ngữ nghệ thuật.

Không ai bước vào sáng tạo từ vùng an toàn. Hầu hết những tác giả làm tôi toát mồ hôi giữa trời băng giá đều bắt đầu vì một thứ gì đó không ổn, về thời thơ ấu, thân phận, cái chết, hay một nỗi xáo trộn âm thầm đã kéo dài quá lâu trong im lặng. Có thể đó là một vết thương không ai thấy, một sự mất mát hoặc những câu hỏi không bao giờ có lời giải nhưng chính từ những đám tro tàn ấy, họ lắp ghép nên thế giới của họ và thế giới của chúng ta. Họ không viết để kể chuyện, mà như thể đang gỡ từng manh nha trí tuệ.

Sáng tạo không phải là sự chơi đùa với chữ nghĩa mà là một cuộc phẫu thuật không gây mê, là lúc họ vừa mở mắt thì thấy bóng dáng của họ, vừa là người bệnh nhân lõa lồ và cũng vừa là người bác sĩ mù lòa.

Không có sự sáng tạo nào là không trải qua những khủng hoảng nội tâm và đối kháng sâu sắc. Tôi nhận thức rõ rằng những lúc bi quan, hoang mang, thậm chí tuyệt vọng chính là những thời điểm quan trọng nhất trong hành trình sáng tạo.

Thay vì né tránh hay chối bỏ, tôi đón nhận, cho phép bản thân được trải nghiệm trọn vẹn mọi cung bậc cảm xúc. Điều này giúp những gì tôi viết không chỉ là sự thể hiện bề mặt mà còn là sự phản chiếu của tâm hồn.

Viết, nếu thực sự nghiêm túc, là cuộc đối đầu với vực thẳm. Mỗi câu chữ là một cú nhảy vọt ra khỏi vòng tròn vô hình, mỗi đoạn văn là một lần đứng trước vực thẳm tâm linh. Ngôn ngữ, không phải để kể lể, mà là hình thức diễn tả mà sự bất lực của con người tìm được để định nghĩa cái không thể gọi tên. Mỗi người viết chân chính đều hiểu nếu hôm nay không viết thì ngày mai không bao giờ đến. Nếu không được như vậy thì chỉ là sự nhạt nhòa, thì thà đừng viết.

Khi bắt đầu viết, ảnh hưởng là điều tự nhiên. Tuy nhiên, để bị ảnh hưởng cũng cần phải có một căn bản tri thức hùng hậu, vì nếu thiếu thì chỉ là sự nhai lại thiếu lương thiện. Đọc càng nhiều, ảnh hưởng càng khủng khiếp. Đến một lúc, giọng văn, suy nghĩ, cấu trúc câu, cả nhịp thở trong từng đoạn, tất cả tưởng là của tôi, hóa ra lại là của họ. Tôi nghi ngờ khả năng tiếp nhận của mình và rồi nhận ra sự trải nghiệm dù vô hình hay hữu hình của họ, không đủ sức nâng đỡ những gì tôi đã đi qua. Và ngược lại, cuộc đời tôi cũng không thể sống trong kết cấu có sẵn của bất kỳ ai. Sự ảnh hưởng, nếu không được tiêu hóa, sẽ trở thành mô phỏng mà mô phỏng thì ngắn hạn, có thể đánh lừa những người đọc dễ dãi nhưng sẽ rỗng ruột dưới ánh mắt của những kẻ đã từng bước qua hình hài và trong số đó tôi là người đầu tiên và cũng là kẻ phán xét cuối cùng cho những mẫu tự của mình, rồi quyết định, một là nhổ những giọt nước bọt khinh bỉ vào gương mặt của mình, hai là chấp nhận con người của mình và hệ quả của nó, ba là chửi đổng vì họ sinh ra trước nên viết trước tôi, hoặc sinh sau nhưng viết trước tôi, và bốn là không viết gì cả.

Những gì tôi đã sống, quá riêng tư, quá lệch khỏi biên độ thông thường, không thể nằm trọn trong giọng nói của người khác, để ngay cả một cuộc đời vô cùng bình thường tẻ nhạt cũng có thể vô cùng đặc biệt nếu biết kể lại theo cách nhìn đặc biệt. Tôi nghiệm ra là cuộc đời của một người chỉ có thể bình thường qua nhận xét của những người cũng bình thường như thế. Và một người bình thường thì cũng không thể sống bằng thân xác của những người phi thường hoặc bất bình thường. Tôi phải nghĩ và phải thở như tôi đã được tạo ra.

Không có ai đi với mình để vào tận cùng giấc mơ thì cũng chẳng có ai cho mình vay mượn bất cứ những gì trong giấc mộng đó. Phong cách không thể học được và cũng không thể vay mượn từ bất cứ thần tượng nào, mà cách đây hơn trăm năm Nietzsche đã tiên đoán về hoàng hôn của các thần tượng. Phong cách là dấu vết của những đêm, nơi tôi nhìn trừng trừng vào bóng tối và bắt đầu phân biệt được đâu là tiếng vang và đâu là tiếng vọng.

Sự nghiệp viết lách của tôi kéo dài như những cuộc tình ngắn nhất thế gian, chớp nhoáng, mãnh liệt, rồi lụi tàn trong chính cơn mê của nó, như chục nụ hôn tưởng tượng thoáng qua với chục người tình vô tình gặp lại trong chục buổi tiệc liên hoan với hàng chục món ăn, hàng chục chai rượu, như một ngọn lửa bùng lên dữ dội như thể không gì có thể dập tắt và cũng chính sự tuyệt đối ấy khiến nó không thể kéo dài để tự thiêu rụi. Viết, vào những thời khắc ấy, là một hành động bản năng, gần như hoảng loạn, như thể tôi phải nôn ra những gì không thể giữ lại trong người. Thật sự là tôi không có cấu trúc, không có phương pháp, không có khả năng đối thoại lâu dài với chính mình.

Mỗi lần cầm bút là một lần lao vào không toan tính, không phòng bị nhưng chỉ cần một chút sai lệch, một cảm giác xa lạ len vào là tôi buông bút. Tôi không thể viết khi biết mình đang giả vờ. Không phải vì thiếu đam mê mà vì quá nhiều hoài nghi. Viết, khi không còn trung thực thì chỉ còn lại sự diễn xuất với các bóng ma, và tôi luôn bỏ đi khi cảm thấy mình đang diễn một vai trò quá lâu, nhất là khi diễn trò với mình.

Thời gian đầu, tôi chịu ảnh hưởng nhiều từ văn chương thi ca từ Đông sang Tây, mật tông Tây Tạng mặc khải Latin, triết học Hy Lạp tôn giáo bốn phương, hội họa đầu đường âm nhạc xó chợ. Tôi bị ám ảnh bởi sự trống trải của tôi nhưng đồng thời lại say mê vẻ đẹp mong manh của tư tưởng. Có những lúc tôi viết như kẻ mộng du, viết cả chục trang giấy, viết trong đêm, viết giữa chợ, viết ở quán cà phê, viết ở trong phòng tắm, nhưng lại không tìm thấy mình trong những mẫu tự abcd hoàn toàn lạnh lẽo. Mỗi câu chữ tuôn ra như thể là bản thể bị vỡ vụn mà tôi không chỉnh sửa, không cân nhắc, không hối tiếc, vừa tỉnh táo đến tàn nhẫn, vừa mềm yếu đến trần trụi, là sự va chạm không ngừng giữa hai thái cực: ánh sáng và bóng tối, lý trí và mộng tưởng, sự sống và cái chết. Câu chữ trôi chảy, giọng văn chỉn chu, ý tưởng sâu thẳm nhưng hoàn toàn vô hồn như thể đang thực hiện kỹ năng đã được rèn luyện, hùng hục thực hiện bản năng sinh dục với một người xa lạ.

Tìm kiếm ngôn ngữ riêng là một hành trình vừa tri thức, vừa bản năng. Tìm được giọng nói riêng là một cuộc khai sinh đau đớn, không đến từ cảm hứng, mà từ khoảnh khắc khi mọi thứ vay mượn bắt đầu ruồng rẫy và chỉ khi tôi dám giữ lại những đoạn khiến mình phải rung cảm, tôi mới thật sự bắt đầu viết. Tôi cần một thứ ngôn ngữ không mượn từ ai, không lặp lại ai, không tô son trát phấn như ngôn ngữ nhai lại. Tôi cần một thứ tiếng nói nguyên thủy, gần với tiếng thở dài, tiếng thổn thức, tiếng thầm thì của linh hồn, vừa tăm tối, vừa rối loạn. Tôi không phủ nhận vì có lẽ đó chính là sự trung thực duy nhất tôi sở hữu. Tôi có thể phản bội với mọi người nhưng dứt khoát, không khoan nhượng, cố gắng không phản bội chính mình sau những lần vừa phản bội với chính mình.

Bất hạnh nhất là nhiều người sống cả đời không có phong cách. Họ vay mượn, họ trích dẫn, họ chạy theo để rồi họ tan biến như cát bụi ngay lập tức, ngay tức khắc, trước khi mực khô, trước khi họ đọc lại câu từ vừa viết xuống.

Mọi phong cách đều bắt đầu từ sự trăn trở khi nhận ra những sự thật trần trụi về xã hội và con người. Tất cả những phi lý ập đến khi tôi còn quá non nớt để lý giải, nhưng đủ nhạy cảm để hiểu. Cái tôi phản kháng được sinh ra từ nỗi thất vọng ấy. Tôi viết không phải để dựng lại những gì đã sụp đổ mà để kiểm soát những điều tôi không thể kiểm soát trong đời thực, hành động chống lại sự lãng quên, nỗ lực giữ lại ký ức, giữ lại nhân phẩm, giữ lại cả những điều đã mất. Tôi đã từng thử thỏa hiệp với thực tại nhưng mỗi lần như thế, tôi lại cảm thấy mình đánh mất một phần linh hồn. Viết là cách tôi nói: “Tôi không đồng ý”. Là cách tôi chống lại sự đồng hóa, chống lại cái tầm thường mà chính từ sự nổi loạn ấy mà phong cách cá nhân bắt đầu lộ diện.

Chính vì thế phong cách sáng tạo của tôi luôn chứa đựng sự chân thật tối thiểu, sự dấn thân vào những vùng tối của tâm hồn để tìm ra ánh sáng. Những trải nghiệm cá nhân không chỉ là chất liệu mà còn là linh hồn của tác phẩm, làm cho mỗi tác phẩm trở nên sống động, có chiều sâu và sức nặng cảm xúc.

Phong cách sáng tạo không thể tách rời khỏi những suy ngẫm triết lý sâu sắc về bản thể, thời gian và ý nghĩa cuộc sống. Đời sống hằng ngày như một tấm gương phản chiếu những thay đổi của tâm hồn và cảm xúc cá nhân, như dòng chảy liên tục, được hình thành từ nhiều yếu tố đan xen, bổ trợ lẫn nhau. Đó là sự phản ứng mãnh liệt với cuộc sống, suy ngẫm triết lý về bản thể và thời gian, sự tự do tuyệt đối trong tưởng tượng và giấc mơ, sự đối kháng nội tâm và khủng hoảng sáng tạo, là tính độc lập tư tưởng, sự kết nối sâu sắc giữa cá nhân và thế giới chung quanh để những yếu tố ấy hòa quyện tạo nên một phong cách đặc thù.

Tưởng tượng và giấc mơ là những không gian tự do tuyệt đối, nơi mà tôi có thể thả hồn bay bổng, vượt qua mọi giới hạn của thực tại và lý trí mà mọi quy luật, mọi ràng buộc đều bị xóa nhòa, chỉ còn sự tự do thuần khiết và sự sáng tạo vô hạn.

Tôi tin rằng sự mơ mộng không chỉ là những hình ảnh mơ hồ trong tiềm thức mà còn là nguồn cảm hứng dồi dào cho nghệ thuật. Những giấc mơ có thể phi lý, không đầu không đuôi, nhưng chính sự phi lý ấy lại mở ra những chiều sâu mới, những ý tưởng đột phá mà lý trí không thể chạm tới. Sự tự do tuyệt đối trong sự mơ mộng giúp tôi khám phá những khía cạnh mới mẻ của bản thân và thế giới, tạo nên sự phong phú và đa dạng trong phong cách sáng tạo. Tôi thường lấy cảm hứng từ những giấc mơ để xây dựng những hình ảnh biểu tượng, những câu chuyện mang tính ẩn dụ sâu sắc, giúp người đọc không chỉ nhìn thấy mà còn cảm nhận được những tầng ý nghĩa sâu xa.

Mơ mộng đóng vai trò như một chiếc chìa khóa bí mật mở ra vùng ký ức bị kìm nén. Nhiều chương sách bắt đầu từ một hình ảnh mơ hồ xuất hiện trong mơ, một căn phòng, một tiếng động, một tấm nệm futon, một khuôn mặt không rõ nét. Tôi không tìm cách giải nghĩa giấc mơ, tôi chỉ tưởng tượng và tái tạo lại cảm xúc nó để lại qua những con chữ nhảy múa trong đầu.

Hình ảnh người rơi từ đỉnh núi cao xuống vực thẳm là biểu tượng sống động cho hành trình sáng tạo, cuộc hành trình của sự vật lộn, sợ hãi, đau thương, nhưng cũng là hành trình của sự sống và sự hồi sinh. Khi rơi, hắn sáng tạo trải qua sự giật mình, thảng thốt, rúng động và nỗi sợ hãi trước cái chết đang đến gần. Hắn không muốn chết, hắn chối từ cái chết bằng cách bám víu vào những cành cây khô cằn mọc trên sườn núi, dù những cành cây ấy làm hắn bị thương, máu chảy tràn che kín mắt. Nhưng những vết thương ấy không chỉ là đau đớn thể xác, mà là dấu ấn tâm hồn, là những kinh nghiệm quý giá mà người sáng tạo mang theo suốt hành trình sáng tạo.

Và ngay lúc đó, khi đời sống tan rã, nghệ thuật bắt đầu.

Đây là hành trình không ngừng nghỉ của sự hồi sinh, là sự kết nối sâu sắc giữa bản thân và thế giới, giữa cái hữu hạn và cái vô hạn. Mỗi tác phẩm là một lần sinh ra và chết đi, mỗi lần kết thúc là một khởi đầu mới, và chính sự liên tục của chu kỳ này tạo nên sự sống động, sự đổi mới không ngừng của nghệ thuật và cuộc đời.

Cái chết của tác phẩm cũ không phải là kết thúc tuyệt đối, mà là sự mở đường cho tác phẩm mới, một chu kỳ sáng tạo bất tận, nơi mỗi lần kết thúc lại là khởi đầu mới, mỗi vết thương là bài học, mỗi trải nghiệm là nguồn cảm hứng cho sự đổi mới.

Văn chương không cần những kẻ biết hết mà cần những kẻ dám đi vào bóng tối với một cái bật lửa và điếu thuốc lá còn một nửa, không cố giải thích thế giới mà chỉ nhìn mọi vật run rẩy. Và đôi khi, trong sự không biết, một điều gì đó hiện ra, mơ hồ nhưng sống động, như một hình thù trong gió. May ra, như vậy mới tạm được gọi là văn chương.

Có một giai đoạn tôi viết để che giấu sự ngu dốt, sự thiếu sót, sự hoang mang. Tôi sợ người đọc nhận ra mình không biết gì. Nhưng khi tôi đọc lại chính những gì tôi viết mà không biết, thì tôi mới ngộ ra đó là thứ làm nên văn chương, còn những gì tôi đã viết để chứng minh là tôi biết thì lại là ngụy văn chương.

Không ai sáng tạo trong khoảng không vô định. Tôi đoán là tôi bị ảnh hưởng sâu sắc từ những ký ức tuổi thơ, vật vờ những chiếc xe lam xe xích lô xe ba gác chất đầy bụi bặm văn hóa, từ bóng dáng những người mẹ gánh hàng rong giữa trời mưa, đến tiếng rao ai ăn bánh giò lúc nửa đêm, mà những điều tưởng như nhỏ bé ấy lại là chất liệu nền tảng tạo nên thế giới trong tôi.

Sự ảnh hưởng văn hóa không phải là sao chép, mà là sự thẩm thấu. Tôi không cố ý đưa yếu tố dân tộc vào văn chương như một chiếc áo truyền thống khoác lên nhân vật. Tôi để văn hóa đông tây nam bắc chảy trong máu, và viết như một kẻ mang vết tích của những lời rao giảng rong rêu qua bao thế hệ.

Tôi tự học ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ cũng như những ngôn ngữ khác, rất không chính thống. Tôi học theo kiểu của tôi.

Tôi bứng chữ ra khỏi từ điển, lên đồi thả chữ bay lượn trên những cánh đồng xanh mướt. Đôi lúc tôi chạy theo để bắt lại, đôi lúc tôi đứng yên, và có những lúc tôi bỏ mặc, chỉ nhìn theo. Đến thì giữ, không thì thôi. Tôi đẩy chữ, tôi đặt chữ, tôi chơi chữ, tôi đẻ ra chữ, tôi phá vỡ chữ, tôi xếp chữ theo từng nếp nhăn trong trí tuệ, mà vì thế tôi không bao giờ xem nhẹ ngôn ngữ. Từ đó tôi bắt đầu tập viết bằng cách tháo rời từng câu, từng chữ, mà mỗi từ là một viên gạch, mỗi câu là một nhịp cầu, dẫn từ bóng tối sang ánh sáng, từ hoang mang sang thức tỉnh.

Tôi viết bằng một loại ngôn ngữ tôi yêu như yêu da thịt người khác, nhưng ngữ vựng trong tôi không chỉ là công cụ, mà là không gian tâm linh nơi tôi bấu víu khi không còn tin vào bất cứ điều gì khác. Trong từng nhịp dấu lạc nhịp, từng âm tiết lạc loài, tôi nghe được tiếng vọng của tổ tiên, của những bài hát ru không còn người hát, của lịch sử đã bị bỏ quên trong những trang sách giáo khoa khô khốc mà tôi nhớ hồi xưa lớp hai lớp ba. Phong cách viết của tôi vì vậy không nằm ở lớp tư trường làng, lớp sáu thị trấn, lớp chín thành phố. Tôi vận dụng khả năng lật ngửa con chữ, tôi nhìn nốt ruồi tay trái, tôi nhìn vết chai tay phải, và tôi nhìn chữ nghĩa từ từ tứa ra từ mười đầu ngón tay.

Ngôn ngữ là vũ khí sắc bén để bóc trần sự giả dối và cũng là vũ khí tiêu diệt sự thành thật, dẫn con người vào thế giới u mê, vào tình yêu và thù hận, vào chiến tranh và hòa bình.

Ký ức tập thể của một dân tộc từng chịu nhiều biến cố, chiến tranh, chia ly, cũng len vào trong từng trang viết, dù rằng tôi hoàn toàn không hề can dự và đóng bất cứ vai trò gì. Tôi không viết tiểu thuyết truyện ngắn truyện dài truyện vừa, lẩm cà lẩm cẩm, nói xa nói gần, ám chỉ lăng nhăng, đánh hôi vài câu chiêm nghiệm cuộc đời, len lén xen kẽ vài dòng triết lý sâu xa, nhưng trong các nhân vật của tôi luôn có nỗi đau lẩn khuất của một thời đại. Một đứa bé vừa sinh ra đời đã cưu mang cả vận mệnh và di sản của dân tộc, vì thế tôi tin rằng phong cách sáng tạo cá nhân không thể tách rời khỏi ký ức tập thể, và nhiệm vụ của người viết là nói hộ những điều mà cả mọi người đã lãng quên hoặc không dám nói. Mọi chuyện đối với tôi rất đơn giản, một là trực diện dũng cảm viết lên những khắc khoải của mình và những người khác, hai là im lặng, dũng cảm chấp nhận sự bất lực hèn nhát của mình.

Viết lâu ngày, tôi nhận ra rằng không chỉ là cách viết, mà là cách sống, bất phục, hoài nghi, trung thành tuyệt đối với trải nghiệm cá nhân. Nó thể hiện trong việc tôi lựa chọn im lặng hay lên tiếng, lựa chọn chi tiết hay bỏ qua, lựa chọn tha thứ hay chất vấn.

Tôi sống như cách tôi viết, khước từ những điều hời hợt, đi tìm tầng sâu của mọi hiện tượng, và luôn để lại chỗ trống cho cái không thể nắm bắt. Tôi viết cũng như tôi sống, đi tìm những gì hời hợt nhất để tạo nên ý nghĩa của đời sống.

Viết đã dạy tôi nhiều bài học về sự kiên nhẫn, về nỗi đau, về cái đẹp và sự ngắn ngủi. Nhưng trên hết, nó dạy tôi rằng cuộc sống, cũng như văn chương, không cần hoàn hảo, chỉ cần chân thật. Và có lẽ, chân thật chính là vẻ đẹp duy nhất còn lại trong thời đại của những tiếng la hét ồn ào mà nếu cố gắng bịt hết thất khiếu thì sẽ nghe được tiếng của những người đang gào thét trong im lặng.

Phong cách sáng tạo, với tôi, không phải là một đích đến. Nó là một quá trình luôn vận động, luôn tái sinh từ chính những va đập của cuộc sống. Có thể ngày mai tôi sẽ viết khác hôm nay, như là sự phản bội để trung thành với bản thể đang đổi thay.

Phong cách, nếu có thể gọi tên, là bóng dáng của linh hồn trong từng lựa chọn sáng tạo. Nó không thể bị sao chép, vì nó không chỉ là kỹ thuật, mà là lịch sử của những ẩn ức, những giấc mơ và cả những điều chưa từng dám thốt thành lời. Phong cách là cách người viết tồn tại trong thế giới, không phải bằng sự hiện diện bằng thể xác, mà bằng những gì họ để lại trong lòng người đọc sau khi đã khép trang sách.

Tôi mất nhiều năm sống trong ngộ nhận mới nhận ra một điều tưởng chừng đơn giản, người ta không thực sự hiểu tôi, và cũng không muốn hiểu tôi, họ chỉ muốn diễn giải những gì tôi viết và tôi nói, theo giới hạn nhận thức và mức chấp nhận của chính họ. Họ không đọc tôi, họ đọc chính họ qua tôi. Họ không nghe tôi, họ nghe cái họ đã tin, rồi dùng lời tôi để củng cố nó. Kẻ thiển cận thì bóp méo cho vừa khuôn cạn cợt. Người tưởng mình sâu sắc thì gán ghép những tầng nghĩa chưa từng tồn tại. Ai cũng tự tin là đúng. Và tất cả đều sai và đều đúng.

Tôi từng cố sửa lại, từng giải thích, từng thử dùng lời lẽ rõ hơn, gãy gọn hơn, nhưng càng giải thích, tôi càng bị hiểu sai. Càng mở miệng, càng bị bóp méo. Cho đến một lúc, tôi dừng lại vì thấy không cần thiết nữa. Được hiểu là một ảo tưởng, bị hiểu sai là mặc định và tôi học cách sống chung với điều đó, không còn nhu cầu được ai hiểu hay đồng cảm. Mà hiểu gì? Hiểu điều tôi đang cố gắng diễn giải ư? Họ không thể. Còn hiểu chính con người tôi? Càng không thể. Bởi chính tôi còn chưa chắc đã hiểu được đầu óc mình, suy nghĩ mình, cảm xúc mình, thể xác mình. Tôi không hiểu tôi, thì ai hiểu được? Không cần ai chạm tới cái lõi nào đó trong tôi để làm gì. Tôi không cần được hiểu, không cần được giải thích, không cần được đồng thuận, và không thể để ai hiểu, ngoại trừ khi não bộ hấp hối, thở hắt sinh khí.

Thảm kịch của cá nhân, nhất là những người tự nhận là kẻ sáng tạo, là chưa viết thì thiên hạ đã biết viết gì, chưa nói thì thiên hạ đã biết nói gì, và chưa nghĩ thì thiên hạ cũng đã biết nghĩ gì.

Sự bí ẩn là quyền lực cuối cùng còn sót lại của người viết khi ngôn ngữ đã mất đi sự ngây thơ, và sự thật đồng nghĩa với giả dối. Trong một thế giới nơi mọi điều, mọi thứ, cùng tận của sự phi nghĩa, tất cả đều bị phơi bày đến tận cùng, hành động nổi loạn duy nhất là giữ lại phần không thể hiểu, phần im lặng phía sau con chữ. Mỗi câu văn hé mở cũng phải biết che giấu; mỗi lời thú nhận cũng phải giữ lại chút linh hồn, bởi khi đánh mất sự bí ẩn, người viết chỉ còn là một kế toán viên ghi chép cộng trừ nhân chia các con chữ.

Tôi từng nghĩ viết hay là đủ. Nhưng không. Viết hay mà không có đạo đức thì chỉ là trò chơi chữ nghĩa. Cái đạo đức tôi nói đến không phải là luân lý xã hội, không phải thứ đạo đức mà người đời kêu gào. Mà là thứ đạo đức âm thầm, sâu kín khi không lợi dụng người khác để viết, không viết ra điều mình không tin, không lừa dối bản thân để được vỗ tay.

Mỗi dòng chữ là một quyết định đạo đức. Khi viết, phải chọn điều gì nên tồn tại và điều gì không vì khi đã quyết định tự làm thượng đế trong thế giới sáng tạo nhỏ nhoi của mình thì từng dấu chấm phẩy hỏi ngã đều là luật lệ. Sáng tạo cũng là hành vi đối diện với đạo đức, với sự thật. Sự thật không phải lúc nào cũng đẹp. Nó có thể bẩn, có thể đen, có thể trần trụi đến mức không ai muốn nghe, nhưng không thể quay đi.

Là người chịu đau thay cho người khác. Là người lôi cái thật ra ánh sáng bằng mọi giá.

Để trở nên chân thực trong thế giới này là một hành động dũng cảm. Không có gì thê lương hơn khi một người từ chối im lặng, từ chối giả vờ, từ chối cúi đầu trước những gì họ không tin tưởng. Trở nên chân thực có cái giá của nó, nhưng nó cũng có phần thưởng: sự tự do. Tôi thà mất tất cả còn hơn đánh mất chính mình và suốt bao nhiêu năm, tôi vẫn lầm tưởng như thế.

Tôi không phải là nhà văn, cũng không là nhà thơ, triết gia, doanh nhân, quản đốc nhà máy, hay chủ quán cà phê. Tôi là, như tất cả chúng ta, chỉ khác là tôi tạo ra nhiều thời gian hơn, vì thế tôi suy nghĩ nhiều hơn.

Càng suy nghĩ, càng viết lách – tóc càng thưa. Tôi đoạn tuyệt cả hai và thất bại, mà đó cũng là phong cách của người cầm bút.\

 

TTG

(trích “Đời Sống Của Loài Bò Sát”)