TTG

NGÔN NGỮ

 

Từ khi bước vào kỷ nguyên thông tin, ngôn ngữ không còn là công cụ để suy nghĩ mà trở thành thứ để lặp lại. Những câu nói từng chắt lọc từ chiều sâu trải nghiệm và tư duy nay bị sao chép, lặp đi lặp lại như khẩu hiệu, dùng để trang trí cho sự suy tưởng đã ngủ quên. Câu chữ từng là kết tinh của ý thức cá nhân giờ đây trở thành món hàng dùng chung, bị cắt xén, bẻ cong để phục vụ những mục đích phi cá nhân. Người ta không cần hiểu mà vẫn nói, không cần trải qua mà vẫn giảng giải. Những lời từng cần phẩm giá để thốt ra, nay được rao giảng bởi những kẻ không có gì ngoài khả năng lan truyền. Trong nhịp sống gấp gáp, ai cũng cần một chiếc phao, và những câu nói tưởng như sâu sắc, dù bị trích sai hay hiểu lệch, vẫn có tác dụng an ủi như một sợi dây cứu sinh, mặc dù hư cấu tạo ra ảo giác rằng đang nắm được điều gì không dễ vỡ. Trong một thế giới mất phương hướng, bất kỳ thứ gì có vẻ chắc chắn cũng dễ trở thành điểm tựa, là dáng dấp của hy vọng.

Cái từng cao quý trở thành công cụ của sự giả tạo. Cái từng là dấu hiệu của chiều sâu trở thành phương tiện dẫn dụ đám đông, và đám đông ấy, bị bỏ mặc quá lâu trong một cơn bão không gốc rễ, giờ ngây thơ và mất phương hướng, xem đó là chân lý, ánh sáng, kim chỉ nam. Họ không biết rằng mình đang bị dẫn đi bằng những ý niệm đã bị bứng gốc.

Đó là thảm cảnh của một thời đại mà ngôn ngữ không còn gắn liền với tư tưởng mà chỉ còn gắn với sự lan truyền. Một thời đại nơi cái “nói hay” thay thế cho cái “nghĩ sâu”, nơi mọi giá trị bị đánh tráo bằng tốc độ và âm lượng, là một thời đại mà lời nói không còn bắt nguồn từ tư tưởng mà chỉ là kết quả của phản xạ. Điều được cho là “hay” thường được đặt lên trên điều “đúng”, dù bản thân cái “đúng” cũng đã bị định nghĩa một cách có chủ đích. Sự gây chú ý lấn át những giá trị có nền móng, những ý tưởng được hình thành từ trải nghiệm thực thể, tri thức tích lũy và sự nghiền ngẫm bền bỉ theo năm tháng.

Thay vì tìm kiếm những điều có chiều sâu, người ta ưu tiên những câu chuyện dễ gây xúc cảm, dễ lan truyền và dễ được tiếp nhận. Lời nói không còn để chạm tới cái chưa gọi tên mà để đánh dấu sự có mặt. Không còn là nhịp nối giữa người và người, mà là tiếng động tự khẳng định mình trong một không gian mà ai cũng sợ bị bỏ quên. Không rõ bắt đầu từ khi nào, mỗi câu nói ra đều mang theo một sự phòng vệ như thể chưa kịp nghe mình, đã phải nghe thiên hạ và chưa kịp sống với điều gì thì nó đã bị định nghĩa bởi người khác.

Không ai sinh ra đã thuộc về tập thể. Ai cũng từng là một đứa trẻ đặt câu hỏi, đầu tiên chạm vào thế giới bằng chính cảm giác của mình. Tất cả những đứa trẻ đều là kẻ sáng tạo nguyên thủy. Mỗi người đều từng có lúc lắng nghe theo cách riêng, nhìn sự vật như thể lần đầu. Nhưng dần dần, cá thể tan vào cơn mưa dày đặc thông tin, trong nhịp sống gấp gáp, trong những “phải” và “nên” do những người khác tạo ra, và xếp hàng, gia nhập đám đông chờ lãnh hội linh hồn.

Phần lớn độc giả ngày nay không còn là người tìm kiếm giá trị tinh thần từ những cuốn sách, mà là người tiêu dùng, cần gấp sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngay lập tức, còn người viết thì đóng vai nhà cung ứng, sản xuất ra câu chữ như một loại hàng hóa tinh thần, đóng gói vừa vặn, dễ nuốt, dễ chia sẻ. Hai phía gặp nhau trên nền tảng của tốc độ, và trong cuộc gặp ấy, không ai thực sự gặp ai. Người viết không cần biết ai đang đọc, người đọc không cần biết ai đã viết. Khi tác phẩm bị đọc như một món hàng, thì nhà văn cũng bị biến thành người cung cấp sản phẩm văn hóa. Mối quan hệ thầm lặng giữa người viết và người đọc, từng không thể thiếu của một cuộc gặp gỡ tâm hồn, từng mang chiều sâu mà không cần tương tác giữa tác giả và độc giả, giờ đây bị thay thế bằng những biểu đồ tương tác, những chỉ số lưu lượng.

Sự trung thực trở nên xa xỉ. Lặng lẽ trở thành lỗi thời. Suy tưởng bị xem là lạc hậu, hoặc tệ hơn không có giá trị ứng dụng. Văn học, thay vì là một cánh cửa mở ra một chiều sâu, giờ đây là một sản phẩm nội dung có thể gói gọn trong vài điểm chính. Cái đẹp, cái thật, cái riêng – tất cả những gì từng làm nên văn chương – đều bị thay thế bởi thứ dễ tiếp nhận, dễ lưu truyền, dễ đưa lên các nền tảng xã hội phục vụ nhu cầu của đám đông vô danh, cần đọc bất cứ những con chữ gì để lãng quên chính họ.

Văn hóa ngày nay được tiêu thụ như hàng hóa. Nhanh, gọn, tiện. Văn học nghệ thuật trở thành nội dung. Tác phẩm trở thành nội dung. Còn người đọc, kẻ từng dấn thân vào từng con chữ như bước vào một sa mạc cô đơn để đối thoại với chính mình, giờ đây trở thành người tiêu dùng nội dung: lướt qua, lưu lại, trích dẫn, phản ứng. Đọc không phải để hiểu, mà để có gì đó để nói. Đọc không phải để đi sâu vào một thế giới khác, mà để có gì để tiêu khiển trong lúc chờ đợi, mà cũng không biết chờ đợi chuyện gì.

Độc giả đích thực, những nhân vật tưởng như nhỏ bé nhưng từng là nền móng của văn chương, những người từng được ngôn ngữ mời gọi để đối diện với chính mình, với đồng loại, với thế giới, thì đang chết dần, trở thành bóng ma lạc lõng. Không ai giết họ cả, họ chỉ biến mất từ từ. Giống như ánh mắt từng biết dừng lại trước một bài thơ, nay không còn kiên nhẫn. Sự im lặng từng là phần thiêng liêng của trải nghiệm đọc, nay được thay thế bằng phản hồi tức thì, bình luận, biểu tượng cảm xúc, lượt chia sẻ, và trích dẫn ngắn gọn, diễn giải sai lệch vô tội vạ. Văn chương từng là vùng đất của cô đơn và cảm xúc riêng tư, giờ trở thành sân khấu mở, ồn ào màu sắc, vô vị vô hồn vô cảm. Và như thế, văn học cũng đang lịm dần, trong khi sách vẫn còn được xuất bản đều đặn.

Tôi cũng chẳng khác gì, nhận ra mình không còn đọc nhiều như trước, gần như không đọc là đúng hơn. Mắt vẫn lướt qua chữ, nhưng tâm trí không vào được vì chữ nghĩa giờ đây không còn róc rách chảy từ hang động mà tôi đã trú ẩn tuổi niên thiếu, mà chỉ còn là sự dàn dựng có vẻ thông minh. Người viết hôm nay và cả hôm qua, viết như thể đang làm nội dung cho một ai đó, không phải đang sống bằng chính da thịt sưng tấy, máu mủ đỏ bầm, mơ mộng sương mù của mình. Tay họ không còn vết chai cứng, ngay chỗ tiếp giáp giữa cổ tay nhạy cảm và mặt bàn chứng nhân.

Tôi đã từng ngỡ ngàng khi đọc qua những tác phẩm được giới thiệu như đại diện cho văn chương đương đại, đề cử cho các giải thưởng văn chương danh giá. Bởi sự tôn trọng, tôi không cần nhắc tên và cũng không cần thiết, nhưng thật sự đây đúng nghĩa là văn chương phổ cập đại chúng, cao cấp hơn những nhà hàng fast food một chút, dành cho thời đại không còn kiên nhẫn, là dạng văn chương cố gắng, trí tuệ cố gắng, tinh tế cố gắng, thông thái cố gắng, triết lý cố gắng – cho những độc giả không cần cố gắng.

Tôi hoàn toàn không coi thường những hình thức giải trí tinh thần, mà thú thật tôi là một tín đồ cuồng tín cho những hình thức giải trí mì ăn liền. Hàn lâm trí thức đến đâu có tôi đến đó, bình dân học vụ đến đâu có tôi ở đó. Có những thứ không mang theo thông điệp gì rõ ràng, không đòi hỏi phải hiểu hay suy nghĩ, không cần nhớ cũng chẳng cần quên, chẳng dẫn đến đâu, vô thưởng vô phạt, ba xí ba tú, làm xàm lẩm xẩm, nhưng đơn giản là giúp tôi vượt qua thêm một ngày, và đối với tôi như vậy là một buổi sáng tuyệt vời.

Nhưng nếu đã mang tên văn học, nếu đã tự nhận là nghệ thuật của ngôn từ, tác phẩm là văn chương thì cần nhiều hơn thế. Điều tối thiểu nhất mà một tác giả phải tạo ra khoảnh khắc khiến người đọc phải dừng lại, không phải để bị thuyết phục mua cao đơn hoàn tán, mà có thể làm lung lay những điều họ vẫn tưởng là chắc chắn, để suy nghĩ, để mơ mộng, để tưởng tượng hình ảnh ý tưởng âm thanh nào đó, để cảm thấy mình còn khả năng phân vân, có cơ hội nhìn lại chính đời mình và cuộc sống chung quanh.

Văn chương không tồn tại để tô điểm cho hiện thực, mà để khơi ra những khe hở của cái được gọi là hợp lý, và để kết nối tất cả những gì không hợp lý đó thành những góc nhìn khác. Nó không nhắc lại những gì đã được xã hội đồng thuận mà gợi mở những điều chưa ai dám nói thành lời. Không phải để đưa ra câu trả lời, mà để đặt ra một khoảng trống đủ thật để người đọc tự lấp bằng chính cuộc sống của họ. Không phải để ban phát chân lý, mà để mở ra khoảng không cho sự kiếm tìm. Nó không trao tay người đọc một câu trả lời mà để lại một khoảng không gian nơi chỉ chính họ mới có thể đặt vào đó điều phù hợp với mình. Văn chương, nếu còn có lý do để hiện hữu, dù mong manh như mây trời, thì chính là khả năng mở ra một con đường, một khả thể, một con đường không được rao giảng, không được trải sẵn, mà xuất hiện giữa những dòng chữ tưởng như vô cảm, những hình ảnh tưởng như đã quen thuộc, đi qua những con chữ vô tri, những âm thanh vô giác, những hình ảnh vô minh. Và bất chợt ở giữa tất cả sự thiên thu vô định đó, họ nhận ra điều gì đó từ sâu trong mình mà ngôn ngữ chưa từng khai sáng.

Nếu văn chương, văn học nghệ thuật lăng nhăng vớ vẩn gì đó còn điều gì còn giá trị, thì đó là khả năng làm cho một người – chỉ một người – thảng thốt trước một dòng chữ, và thấy trong đó một, hoặc may mắn hơn, là những con đường mà họ chưa từng nghĩ mình sẽ đi. Nó tồn tại để đặt dấu hỏi vào những gì đang được cho là đúng, là mẫu mực, là sự phải chấp nhận, khuất phục và những niềm tin lý tưởng chân lý đã được dập vào khuôn mẫu.

Dường như ai cũng đang cố gắng hiện diện. Khắp nơi. Trên mạng xã hội, trên sân khấu, trong một cuộc trò chuyện, trong một dòng bình luận. Không quan trọng là nói gì, miễn là có mặt. Không quan trọng mình là ai, miễn là không bị quên. Sự có mặt trở thành đơn vị đo của giá trị. Không xuất hiện nghĩa là không tồn tại.

Tôi hiểu vì sao người ta sợ bị im lặng. Vì ở đó không ai gọi tên, không ai phản hồi, không có gì bảo chứng rằng mình đang sống. Như thể nếu không ai nhìn thấy, thì mình cũng tự động biến mất. Cái sợ ấy không chỉ là sợ cô đơn. Mà là sợ không được ghi nhận trong một thế giới mà mọi thứ đều phải có dấu vết để được coi là thật.

Ngôn ngữ bị tận dụng cho nỗi lo sợ đó. Mỗi lời nói ra như một lần bấu víu, như thể nếu ngưng lại, dù chỉ một khoảnh khắc thì sẽ bị trôi lạc. Nên người ta viết nhiều, nói nhiều, xuất hiện nhiều. Mỗi cử chỉ đều mang theo nỗi lo lắng bất ổn, nếu không làm, thì người khác sẽ làm thay. Nếu không nói, thì sẽ không còn ai để nhớ về mình. Nhưng sự hiện diện cưỡng bức ấy không làm người ta thật hơn. Nó chỉ làm cho mọi thứ trở nên ồn ào diêm dúa. Cái có thật thì không cần chứng minh, cái đáng nhớ thì không cần lặp lại. Điều cần đến, sẽ đến. Điều cần sống sót tự nó sẽ lưu lại. Nếu còn gì để tin thì nên tin vào sự có mặt không cần quảng bá.

Người ta lên tiếng không phải để khám phá điều mới hay làm sáng tỏ những điều còn mơ hồ, mà chỉ để khẳng định sự bất ổn của mình. Trong một thế giới đầy bất định, sự gây chú ý trở thành cách duy nhất để chống lại cảm giác biến mất. Càng ồn ào, người ta càng được xem là đang sống; càng im lặng, càng dễ bị coi là sự triệt tiêu.

Việc nói không còn nhằm truyền tải giá trị hay khám phá tri thức, mà đơn giản chỉ là để xuất hiện trong dòng chảy thông tin hỗn loạn. Hệ quả là những giá trị bền vững, có nền tảng vững chắc dần dần mai một, trong khi những điều vô nghĩa lại được lặp lại liên tục. Ngôn ngữ, vốn từng là dòng sông nuôi dưỡng tâm trí, giờ chỉ còn là lớp sương mỏng phủ trên bề mặt, mất đi sức sống và chiều sâu vốn có.

Tình trạng này cảnh báo về sự suy giảm giá trị của tư tưởng và lời nói trong xã hội hiện đại, khi sự hấp dẫn bề ngoài và khả năng gây chú ý được đặt lên trên sự chính xác, chân thực và chiều sâu. Điều này không chỉ làm nghèo nàn ngôn ngữ và tư duy, mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến cách con người tiếp nhận và đối phó với thông tin trong cuộc sống hằng ngày.

Khi ngôn ngữ bị bào mòn, khả năng phân biệt cũng mờ theo. Người ta không còn rõ đâu là tiếng vọng từ bên ngoài, đâu là điều phát khởi từ chính mình. Những khoảnh khắc từng là dấu hiệu của chiều sâu giờ bị xem là khoảng trống phải lấp cho đầy. Mọi cuộc trò chuyện trở thành cuộc tranh giành vị trí. Không còn ai hỏi để hiểu, chỉ hỏi để nói tiếp. Những điều chưa kịp nghĩ đã bị nhấn chìm bởi những điều đã được định dạng sẵn.

Giữa một thế giới nói quá nhiều, con người bắt đầu mất khả năng nhận biết cảm xúc thật. Họ mang lên người mình những lớp ngôn từ mượn, những cấu trúc ý tưởng vay tạm, những câu trích dẫn làm nền cho một đời sống chưa từng trải. Họ sống như thể đang diễn lại vai của ai đó. Mỗi khi mở miệng, họ buộc phải tra cứu xem mình nên là ai trong hoàn cảnh đó và trong trò chơi định danh ấy, cái tôi của họ mòn dần, trở thành bóng hình không rõ ranh giới, và lạ lùng hơn nữa, họ lại càng giống nhau, nhìn như nhau, nói như nhau, phản ứng như nhau, đau buồn kêu gào hạnh phúc la hét mần tình cũng như nhau. Khi ký ức không còn gắn liền với ngôn ngữ thật sự của mình, mà gắn với mô-típ xã hội, với những câu chuyện để kể, thì cái tôi cũng trở thành một vai diễn. Ngôn ngữ không dẫn họ vào bản thể, mà che giấu nó. Mỗi lời nói, câu viết, ý nghĩ là một cái mặt nạ mới.

Khi ngôn ngữ mất đi gốc rễ, cái tiếp theo biến mất chính là sự im lặng. Không còn ai chịu im lặng để suy nghĩ. Không còn ai đủ yên tĩnh bên trong để phân biệt đâu là cảm xúc thật, đâu là âm vọng từ đám đông. Người ta vội vã nói, vội vã phản ứng, vội vã đưa ra nhận định. Cái gọi là đối thoại không còn là sự gặp gỡ giữa hai tâm hồn, mà chỉ là hai cơn sóng va vào nhau trong một cái ly rỗng.

Khi ngôn ngữ không còn là công cụ biểu đạt mà trở thành lớp hóa trang, thì tư duy cũng không còn là sự sáng tạo mà chỉ là sự hỗn loạn của sự lập lại. Người ta sống bằng những câu nói vay mượn, những hình ảnh chép lại, những cảm xúc tưởng như thật mà không biết chúng đã từng thuộc về ai.

Sự tha hóa ngôn ngữ không chỉ là một hiện tượng xã hội, mà là cuộc khủng hoảng bản thể, cuộc khủng hoảng lặng lẽ nhưng triệt để, ăn mòn tận gốc rễ cái gọi là con người. Mà chính ngôn ngữ, khi bị lạm dụng và thương mại hóa, đã làm xói mòn khả năng suy nghĩ của đám đông. Khi con người không còn có thể nghĩ bằng ngôn ngữ của chính mình, thì bản ngã cũng trở nên lạc lối. Người ta diễn vai trong một vở kịch không có biên kịch. Họ mặc lên mình những lớp vỏ ngôn ngữ vay mượn bất cứ đâu để che giấu chỗ rỗng ngày một lớn trong nội tâm. Họ không còn biết cảm xúc nào là thật, ký ức nào là của chính mình. Mỗi khi định nói điều gì đó, họ phải lục tìm trong kho dữ liệu thứ gì đó nghe ổn, nghe giống mình, hơi khang khác đám đông một chút, dù chính họ cũng không chắc mình còn là ai.

Và chính trong văn học nghệ thuật, nơi từng là lãnh địa thiêng liêng của những tiếng nói riêng biệt, tạo dựng nên nền móng của xã hội, là những bản thể không thể sao chép, sự tha hóa ấy lại hiện lên rõ nhất. Nghệ sĩ thời nay không còn viết như một hành động sinh tồn, mà viết như một động tác làm thương hiệu. Nhà văn không còn tìm kiếm cái đẹp hay cái thật, mà săn lùng cái gây chú ý. Cái tôi nghệ thuật bị bào mòn trong cuộc chạy đua định danh, định lượng, định giá. Những câu chữ từng một thời cất lên từ vết thương sâu kín, nay lại vang lên từ mục tiêu tiếp thị. Những nét vẽ lạc loài của Van Gogh nay thành màu sắc của đồng tiền. Những bản hợp xướng từ đôi tai không còn nghe được âm thanh của Beethoven nay được biến tấu thành giai điệu câu vè. Những thước phim đen trắng của Fellini được cải biên thành sản phẩm dễ dãi đội danh nghệ thuật. Heidegger, Goethe, Faulkner, Camus, Huệ Năng... trở thành câu đệm tục tĩu tâm hồn thay cho tiếng chửi thề uyên bác.

Ngôn ngữ, vốn dĩ là máu thịt của nghệ thuật, giờ trở thành món hàng giảm giá. Họ viết những gì nghe có vẻ thông minh, giống như đã chiêm nghiệm rất sâu, nhưng thực chất là để né tránh nỗi trống rỗng bên trong. Đó không còn là sự sáng tạo, mà là một thao tác lặp lại đầy kỹ thuật, giống như diễn lại một vai diễn đã được luyện thuộc lòng.

Có thời người ta tin rằng ngôn ngữ là công cụ của tư tưởng. Rằng chỉ cần nói được, viết được, thì con người có thể vén lên những lớp sương mù của cảm xúc, của ký ức, của bản thể với mục đích cùng về miền đất hứa. Nhưng lịch sử của thế kỷ hai mươi từ hai cuộc chiến tranh thế giới, chủ nghĩa toàn trị đến sự đại chúng hóa triệt để của đời sống tinh thần đã cho thấy điều ngược lại, ngôn ngữ không cứu được ai cả, tệ hơn, nó phản bội chúng ta.

Lịch sử triết học Tây Phương hiện đại là lịch sử của sự ngờ vực đối với ngôn ngữ. Nietzsche bắt đầu bằng câu hỏi liệu ngôn ngữ có thể nói lên sự thật. Sartre cho thấy con người bị giam hãm trong ngôn ngữ xã hội. Kundera chứng kiến sự lạm dụng của ngôn ngữ trong chính trị và văn hóa đại chúng.

Nietzsche là người đầu tiên đập vỡ niềm tin cổ điển ấy, “sự thật là một ảo ảnh mà người ta đã quên rằng nó là ảo ảnh”. Với Nietzsche, từ ngữ không nối với thực tại, mà chỉ là ký hiệu chồng lên ký hiệu, lớp mặt nạ chồng lên lớp mặt nạ. Mỗi từ ngữ dùng để mô tả thế giới đã bị định hình bởi lịch sử, đạo đức, hệ hình tư tưởng. Và vì thế, mọi phát ngôn đều là sự phản bội một cái gì đó nguyên thủy hơn, sâu kín hơn, không nói được.

Sartre thì mang cuộc hoài nghi đó về phía con người. Sartre dựng nên một thế giới nơi ba con người bị nhốt chung trong một căn phòng. Họ không bị tra tấn, không có lửa địa ngục, mà chỉ có ánh nhìn của nhau. “Địa ngục là người khác” bởi cái nhìn của tha nhân khiến người khác trở thành một bản sao, một hình ảnh, một định danh không còn thuộc về mình. Ngôn ngữ, trong thế giới ấy, không còn là phương tiện để hiểu nhau, mà là công cụ của quyền lực, của thao túng. Nói để tồn tại trong mắt kẻ khác, chứ không phải để nói điều thật. Mỗi từ thốt ra đều mang dấu vết của sự sợ hãi, sợ không được nghe, sợ không được ghi nhận, sợ không có tên.

Kundera, bằng một giọng điệu nhẹ nhàng hơn nhưng không kém phần lạnh lẽo, nhìn thấy sự mục ruỗng của ngôn ngữ trong đời sống đại chúng. Ngôn ngữ bị thao túng bởi các quyền lực, bởi những diễn ngôn khuôn mẫu. Những từ ngữ như tự do, ý nghĩa, yêu thương, abcd được lặp đi lặp lại đến mức không còn ý nghĩa gì cả. Nhân vật của Kundera sống giữa một biển ngôn từ, nhưng càng nhiều chữ nghĩa thì họ càng ít có khả năng nói thật. Và dần dần, họ mất đi khả năng phân biệt giữa cảm xúc và ký hiệu cảm xúc, giữa hồi ức và huyền thoại cá nhân.

Chúng ta hôm nay không sống ngoài quỹ đạo ấy. Trái lại, chúng ta sống trong một hình thái tột cùng của nó, nơi mọi người đều viết, đều phát biểu, đều truyền đạt nhưng gần như không ai còn biết mình đang nói gì. Ngôn ngữ trở nên lưu loát đến mức nguy hiểm. Người ta phát ngôn về đạo đức, về tình yêu, về lòng bác ái, về cái chết, về thù hận, về tha thứ như thể đó chỉ là một chủ đề chào hỏi mỗi ngày. Từ ngữ được dùng không phải để tìm hiểu, mà để định vị và định dạng. Trong cái thế giới đó, cái tôi không còn là chủ thể tạo nghĩa, mà là sản phẩm phụ của thao tác lựa chọn ngôn từ trong một kho dữ liệu khổng lồ.

Và đây chính là sự phản bội lớn nhất, ngôn ngữ, từng là căn nhà của tư tưởng, từng là nơi trú ẩn khỏi thế giới ồn ào, giờ đây lại là kẻ xô ra khỏi chính mình. Nó khiến ta tưởng mình đang nói điều gì đó sâu sắc, trong khi thật ra ta đang lặp lại những mẫu thức có sẵn. Nó khiến mình nghĩ rằng mình đang suy tư, trong khi thật ra mình đang trôi dạt lục bình, trôi trên một dòng chảy của những thứ nghe hay, nghe giống mình, nhưng không phải là mình.

Không có gì đáng sợ hơn khi con người mất niềm tin vào khả năng tự nói, tức là tự suy nghĩ, tự thấu cảm. Đó là lúc mà bản thể tan vào hư vô, trong khi miệng vẫn cử động, ngón tay vẫn gõ bàn phím, đầu óc vẫn lập luận. Là hình nhân biết nói, nhưng không biết mình đang nói với ai.

Và chúng ta hôm nay, không những tiếp tục sống trong ngôn ngữ bị vấy bẩn, mà còn tạo thêm những lớp giả tạo mới. Ngôn ngữ không còn là công cụ để tư duy, mà là công cụ để giấu đi sự vắng mặt của tư duy.

Khi nghệ thuật đánh mất sự trung thực với nỗi cô đơn, thì nó cũng mất đi quyền được gọi là nghệ thuật. Còn gì bi đát hơn khi ngôn ngữ, từng là nơi trú ngụ cuối cùng của con người, là cầu nối giữa tâm hồn và thế giới lại bị chính con người biến thành kẻ phản bội. Ngôn ngữ vốn là phương tiện để thể hiện sự thật, truyền tải cảm xúc và xây dựng mối liên kết sâu sắc, thế nhưng trong thời đại này, nó không còn giữ được vai trò thiêng liêng ấy mà trở thành công cụ trống rỗng, bị lợi dụng để đánh lừa, thao túng và làm méo mó ý nghĩa. Khi ngôn ngữ phản bội lại chính người dùng nó, thì cũng chính là lúc con người mất đi chốn nương tựa cuối cùng để hiểu và kết nối với nhau. Đó là một bi kịch sâu sắc, khi thứ vốn dĩ nuôi dưỡng tâm hồn nay trở thành nguồn cơn của sự xa lánh, hiểu lầm và cô lập. Nó không còn cứu rỗi chúng ta, mà góp phần làm mờ ranh giới giữa cái thật và cái giả, giữa cái tôi và đám đông, giữa ký ức và sự vay mượn.

Tôi nghĩ, sâu xa nhất, đây là cuộc khủng hoảng của ý nghĩa. Một khi ngôn ngữ không còn kết nối được với nội tâm, toàn bộ nghệ thuật sẽ chỉ còn là sự trình diễn hào nhoáng, và con người chỉ còn là vai phụ trong đời sống của chính mình.

Tư duy không thể tồn tại nếu thiếu im lặng. Mà sự im lặng ấy, thứ từng là nền móng của mọi sáng tạo, mọi thấu cảm, giờ trở nên xa xỉ. Người ta sợ nó, né tránh nó, muốn đánh bật nó bằng tiếng động, tiếng nhạc, tiếng tin nhắn mới, tiếng gõ bàn phím. Đám đông không sợ điều sai, họ chỉ sợ sự yên lặng bởi trong yên lặng, họ buộc phải gặp chính mình.

Họ không biết phải nói gì với họ. Họ không thể chấp nhận họ. Họ quay ngược về quá khứ. Họ quay ngược về tuổi thơ. Họ trở thành em bé hai ba tuổi, bắt đầu có nhận thức, sợ hãi mếu máo khóc lóc la hét khi thấy cái bóng của mình. Họ thật sự sợ hãi chính họ.

Không ai có thể tự định nghĩa mình ngoài ngôn ngữ. Mỗi lần họ kể lại một ký ức, họ không chỉ gợi lại quá khứ, mà còn tái thiết lập cái tôi kẻ lạ. Nhưng khi ngôn ngữ bị vay mượn, bị lập trình, bị thị trường hóa, thì ký ức cũng trở nên méo mó. Và bản sắc cá nhân, thứ từng là độc nhất, họ bắt đầu rơi vào trạng thái mặc đồng phục. Họ nghĩ rằng đang kể chuyện đời mình, nhưng thực ra họ đang lặp lại những mô-típ đã được xã hội hóa, câu chuyện vượt khó, câu chuyện thành công, câu chuyện truyền cảm hứng, câu chuyện chữa lành. Những khuôn mẫu được áp vào như những chiếc áo may sẵn, khiến chính họ cũng hoài nghi không biết ký ức nào là thật, đau thương nào là nguyên bản, hạnh phúc nào là chính xác.

Khi ngôn ngữ không còn là nơi trú ngụ an toàn của nội tâm, thì chỉ còn lại một cái tôi giả định lúc thì hững hờ như nhân vật hiện sinh trong phim của Godard, lúc thì triết lý như một câu trích dẫn trên mạng. Từ đó, bản sắc cá nhân không còn là hành trình sống, mà là sản phẩm của thao tác chọn lọc và chỉnh sửa liên tục.

Giữa những khuôn mặt đang dần giống nhau, lời nói cũng trở nên tiêu chuẩn hóa. Ngôn ngữ mất đường về nơi phát xuất. Nó đi qua các trạm phát tín hiệu, rồi quay lại như một âm bản của chính mình, đều đều, trơn tru, không vết xước. Không còn nhiều niềm tin vào khả năng đại diện của chữ. Những định nghĩa được dùng lại quá nhiều, trong quá nhiều ngữ cảnh không tương ứng, đến mức bản thân chúng cũng hoang mang về ý nghĩa mình từng có.

Chiều sâu không nằm trong ý tưởng lớn. Cũng không nằm trong cấu trúc triết lý. Nó có thể hiện hữu trong sự không có mặt mà không cần giải thích, và chính sự không có mặt đó lại là một sự có mặt không kèm theo mục đích. Có những người giữ được điều ấy mà không cần phát biểu, không vì khiêm nhường hoặc ngạo mạn, mà vì thấy không cần thiết. Những ai còn giữ được khả năng tư duy và sự phân tích thường không có chỗ đứng. Họ lùi lại, rút vào bên lề, nhường hết, vì cảm thấy khó tìm được tiếng nói thật trong khung cảnh bị lấp đầy bởi những khung hình. Họ không còn hiện diện trong đời sống công cộng, không phải vì thiếu lý lẽ, mà vì không còn chỗ để lý lẽ có thể cắm rễ. Họ đã, và nay không muốn tham gia vào trong một thế giới yêu chuộng biểu tượng và vinh danh âm lượng. Họ từ chối sự cưỡng bức phải phát ngôn, mà chọn sự kiên trì đào xuống tận gốc của hiểu biết. Vai trò của họ không phải là giảng dạy, mà là âm thầm gác cửa cho ngôn ngữ, giữ gìn những điều chưa bị biến chất, là những mạch máu li ti trong cơ thể của họ, không để nó biến mất trong sự nhai lại vô tận.

Trong bối cảnh đó, người cầm bút nếu còn lương tâm, không được phép trở thành kẻ tung hứng cho thị hiếu, không được phép giả mù lòa để được vỗ tay tung hô, mà phải có được cái dũng khí còn sót lại, hoặc không có thì phải cố mà có, lội ngược dòng, và phải chịu im lặng cho đến khi từ ngữ viết ra thật sự là của mình để giữ lại cái phần đang mờ dần khỏi trí nhớ chung của nhân loại, và khả năng cảm thụ, khả năng phân biệt, khả năng câm miệng trước một câu nói mà không cần chia sẻ ngay lập tức.

Có lẽ mọi sự phục sinh phải bắt đầu từ một hành động đơn giản: gỡ lớp ngôn ngữ thừa. Gỡ hết những gì không còn là mình. Những câu vay mượn. Những ý tưởng nghe có vẻ đúng nhưng rỗng ruột. Gỡ xuống như gỡ mặt nạ đã đeo quá lâu, để còn lại bản ngã đang thở, đang nghi ngờ, đang không biết, đang ngập ngừng nhưng thật. Có lẽ, điều cần làm không phải là thêm nữa, mà là bớt đi. Bớt nói những điều không cần thiết. Bớt tự mô phỏng chính mình. Gỡ dần những mảng ngôn ngữ không còn dính dáng gì đến nội tâm. Gỡ xuống như một bộ quần áo đã mặc quá lâu. Cởi hết. Để còn lại một cơ thể chưa được định nghĩa, đang chờ đặt tên, đang ở giữa chừng của một trạng thái chưa biết. Từ đó, nếu có thể, một lời nói mới sẽ sinh ra, hoăc nói văn vẻ sáo ngữ hơn, ngũ cung hơn, là một nhánh xương rồng chợt nở hoa giữa sa mạc.

Tôi không mong ngôn ngữ phải cứu rỗi được ai nhưng ít ra, từng có lúc nó làm người ta im lặng một cách tử tế. Nay thì ngay cả sự im lặng cũng bị diễn giải. Một người không viết gì lập tức bị gán cho một ý đồ và người viết thì bị yêu cầu phải nói điều gì có ích, có giá trị, có thể chia sẻ được.

Tôi đã sống bằng ngôn từ của những người khác. Mỗi câu trích dẫn là một viên gạch trong bức tường nhân dạng tôi dựng lên nhưng rồi chính những viên gạch đó làm nghẹt thở. Tôi không còn chắc phần nào trong đó là thật, phần nào chỉ là thói quen của việc phải có một suy nghĩ.

Nay tôi giữ lại rất ít thứ, vài cảm giác, vài hình ảnh, vài khái niệm, vài định nghĩa, vài lý tưởng, nhưng nắm chặt thì càng thấy không có ý nghĩa gì cả. Mỗi lần tôi cố gắng sắp xếp lại tất cả cho mạch lạc, tôi thấy mình xa rời chính phần sống sót ấy. Ngôn ngữ trở thành gánh nặng ở một thời điểm nào đó. Điều có thể nói ra một cách trôi chảy thường là thứ đã được đóng gói sẵn cho số đông, còn cái chưa kịp gọi tên thì luôn lẩn sâu, luôn bướng bỉnh, luôn đòi hỏi một sự chân thật nào đó mà cả đời người chưa chắc đã tìm được. Nó là hành trình, là sự cố gắng liên tục nỗ lực không ngừng tìm kiếm những điều gì có nghĩa cho đời mình nhưng chưa chắc đã có kết quả, chưa chắc đã đạt được điều mình mong muốn.

Cuối cùng hoặc ít nhất là ngay lúc này, ngay lúc tôi chuẩn bị khép lại chương này, lúc tôi đã và đang sống giữa hai thế giới, tôi đong đưa lủng lẳng giữa hai thái cực, và lúc đạt được một số thành tựu cho cả hai cái thế giới tôi, thì tôi không tìm kiếm gì nữa, tôi đã tìm thấy những gì tôi cần tìm: Tôi đế quan tâm. Tôi đế tôi. Như vậy cho nó lành.


 

TTG

(trích “Đời Sống Của Loài Bò Sát”)