
TTG
SUY TƯỞNG
Tôi nghiệm thấy rằng cuộc đời tôi trôi qua trong bốn giai đoạn của bóng tối, như thể cuộc sống không được đo bằng ánh sáng, mà bằng những lần đêm xuống.
Ban đầu là những giấc ngủ không mộng mị. Tôi chìm vào giấc ngủ như một cánh cửa khép lại, không âm thanh, không hình ảnh, không để lại dấu vết gì khi tỉnh dậy. Có lẽ đó là lúc tôi yên ổn nhất, hoặc trống rỗng nhất. Không cần gì, cũng không mong gì không hình ảnh, không hồi ức, không cảm giác. Sự trầm mặc toàn triệt như một phôi thai chưa thành hình lơ lửng giữa hư vô.
Giai đoạn thứ hai là khi tôi bắt đầu mong chờ đêm xuống. Không phải vì giấc ngủ, mà vì những giấc mơ. Tôi muốn mơ. Tôi mơ thấy mình đang mơ. Những thế giới mù mờ mở ra, đầy hứa hẹn và cũng đầy ngờ vực. Tôi không biết mình là ai trong đó, nhưng có cảm giác rằng có một ai đó đang sống giùm, suy nghĩ giùm, và yêu đương thù ghét giùm. Tôi chỉ là kẻ quan sát bị hút vào một cõi mà tôi không tạo ra chẳng vì những điều đẹp đẽ, mà chỉ để biết rằng bên trong mình vẫn còn chuyển động. Những giấc mơ đến chậm rãi, như những thước phim không lời theo tôi đi mãi trong một thành phố không có ai, và cũng không biết đang tìm gì nhưng ít ra, tôi còn có những con hẻm để đi.
Rồi đến giai đoạn thứ ba, tôi thức dậy giữa chừng, không nhớ mình là ai trong giấc mơ, không rõ mình vừa rơi vào đâu. Cảm giác như vừa lỡ chuyến xe, hay vừa đánh mất một điều gì đó. Giấc mơ với những ngổn ngang nảy mầm bất chợt từ ngón tay không rõ hình dáng, âm thanh bật nguồn gốc, con đường bị rách ngang. Cái tôi trong mộng trở nên mảnh mai, lẫn lộn giữa người và bóng, giữa nhân dạng và ảo ảnh.
Và bây giờ, tôi bước vào giai đoạn thứ tư. Mỗi đêm là một chuyến đi không có điểm khởi hành rõ rệt, không có điểm đến cụ thể. Giấc ngủ chập chờn, đan cài bởi những lát cắt từ ý thức và tiềm thức. Nhưng rất lạ, tôi chưa bao giờ gặp ác mộng. Như thể tôi đã làm hòa với bóng tối. Hoặc giả, tôi và bóng tối là một. Tôi bắt đầu tự hỏi, có phải ban ngày là nơi tôi ngủ, và chỉ đến đêm tôi mới thực sự thức?
Nhưng rồi đến một lúc tôi nhận ra rằng, tôi đã đồng hóa màn đêm là sự tĩnh lặng, lần mò tìm đến như kẻ hành hương về chốn linh thiêng, lắng nghe chính cái âm thanh không có giọng nói. Tĩnh lặng không bao giờ thăm thẳm mà chứa đầy ngữ vọng li ti da diết của cảm giác không khống, nghe được chính sự hiện diện mong manh trong căn phòng nhờ nhợ siêu thực, để mơ hồ nhận ra là những căn nhà tôi ở tại các thành phố lớn, phải là những chỗ vắng lặng nhất, mà khi nhìn ra đường, bước ra trước cổng, không thể có những nhân dạng dai dẳng, lan man tiếng động tiếng cười tiếng nói của bất cứ ai, ngoại trừ những bóng dáng của quá khứ và tương lai, còn hiện tại thì tôi không bao giờ nghĩ là có thật, vì khoảnh khắc khi xác định là hiện tại thì nó đã là quá khứ hoặc là tương lai.
Tôi hay mơ giữa ban ngày, nhưng không giống như trong đêm, giấc mơ ban ngày không cần màn đêm mà vẫn trườn ra từ những khe cửa, len lén lẫn theo ánh sáng nghiêng ngả của những người xa lạ thoang thoảng qua phố. Tôi thấy những phiên bản khác của mình đang sống những đời sống rất mộng du. Một tôi ngồi ở góc phố đọc một cuốn sách chưa viết, một tôi đứng bên bờ biển nghe một người phụ nữ không mặt đọc thơ của chân trời, một tôi đang ngắm một bức tranh chưa từng vẽ. Có lúc, tôi nghĩ chính cái gọi là thực tại chỉ là một giấc mơ bị kẻ vô danh nhận là tỉnh thức. Tôi từng cố gắng nghiêm túc với bản thân, định nghĩa, kể lại cuộc hành trình mơ mộng, nhưng mỗi lần làm vậy, tôi bắt đầu xem chính mình như một trò chơi không có người chơi, không có luật lệ, chỉ có một sân khấu xoay và mỗi lần quay là một khuôn mặt mới. Tôi không còn biết ai thật, ai giả, và rồi tôi ngừng phân biệt và ngừng ngân nga.
Có những ngày tôi thê thiết mà không biết vì sao, chỉ là một lớp sương mù nhờn nhợt mồ hôi đổi mùa tâm trí, không đủ đặc quánh để làm nghẹt thở và cũng không nham nháp mưa nồm. Ngày đêm dễ dãi qua tôi như thể như một nền xám mà mọi cảm xúc khác chỉ là hoa văn mờ nhòe không khí.
Và tôi lại thấy bóng dáng những người không còn trong đời tôi, đàn ông đàn bà con trai con gái con nít con nôi ăn xôi chạy nhảy nhưng họ hiện diện hơn bất kỳ ai khác. Họ sống trong cách vắng mặt, cách tôi nhìn ra cửa sổ, cách tôi pha cà phê, cách tôi bẻ điếu thuốc làm đôi, cách tôi kéo ba hơi rồi dụi, và cách tôi thầm thì với tôi.
Tôi không gọi đó là sự nhớ nhung, vì nhớ có điểm bắt đầu. Còn cái này thì không. Sự tưởng nhớ hoàn toàn lệ thuộc vào thời gian, để thấy rất rõ là thời gian uốn cong theo ký ức, gãy khúc theo tâm trạng, và đôi khi đứng yên như thể chờ ai đó nhìn thẳng vào tuổi thơ.
Đó là những ngày tôi sống lại một khoảnh khắc cũ với tất cả cảm giác mới, là những đêm tôi không biết mình đang ở năm nào. Quá khứ, hiện tại, tương lai, tất cả chỉ là cách con người bày biện sự vô nghĩa cho có ý niệm.
Sống giữa hai chiều nhận thức. Một chiều gật đầu, mỉm cười, đưa ra ý kiến hợp lý, tuân thủ đúng luật, chơi bời đúng kiểu. Chiều còn lại hoài nghi tất cả, kể cả chính mình. Một câu nói nghe có lý, một niềm tin chung, một hành động gọi là đúng đắn, với tôi, luôn kèm theo dấu hỏi. Không bác bỏ thế giới ấy, nhưng cũng không thể thuộc về nó. Và cũng không chắc thế giới của mình còn đủ khả năng trí tuệ để chấp nhận.
Cái thật là cái đo được, cái nhìn thấy, cái có thể chứng minh, cuộc đời vẫn thường định nghĩa như thế. Nhưng tôi lại sống bằng những gì không thể diễn đạt, cảm giác lạc lõng, nỗi nhớ một điều chưa từng xảy ra. Có thể gọi đó là giả nhưng nếu giả là thứ khiến tôi thức giấc giữa đêm, thì làm sao nó không thật?
Mượn suy nghĩ và cấu trúc niềm tin chung để tồn tại, nhưng hồi sinh chỉ có thể trong những khoảnh khắc không ai nhìn thấy, khi chỉ còn tôi với câu hỏi tĩnh mịch của chính mình. Giữa hai thế giới ấy, không chọn bên nào vì không thế giới nào chứa được tôi trọn vẹn, nhưng cũng chính trong sự trôi dạt đó, có lẽ chính sự không thuộc về mới là của tôi.
Tôi đã sống cả một đời trong chuỗi chu kỳ lặp đi lặp lại ấy. Tôi không mơ một giấc, mà tôi chính là giấc mơ, không có người mơ, không có kẻ chứng kiến, chỉ có dòng chuyển động lặng lẽ giữa các lớp da của thực tại. Trong giấc mơ, bản ngã không còn là điều bắt buộc, nó là ký sinh hoặc thậm chí là tạp âm, một mảnh tiếng vọng từ thế giới bên kia mà thôi.
Tôi từng nghĩ bản ngã là điều thiêng liêng nhất của con người, là cái lõi không thể phá vỡ. Nhưng càng đi sâu, tôi càng hiểu nó chỉ là trò chơi ngữ pháp của tâm trí, tôi, tôi, tôi, như thể liên tục cần được khẳng định để không vỡ tan. Nhưng điều đáng sợ không phải là bản ngã không có thật, mà đã sống quá lâu trong một cái tôi không phải của mình. Mỗi sáng thức dậy, khoác vào người một chiếc mặt nạ vô hình, của trách nhiệm, của đạo đức, của kỳ vọng. Và rồi đến một ngày, nhìn thấy gương mặt ấy nhăn nhúm khi mỉm cười, để rồi không biết mình là ai.
Vì cái giả không thể tồn tại trong hư vô. Nó cần người nhìn, cần phản ứng, cần sự đối lập. Còn cái thật, cái thật không cần gì cả, nó là vậy. Như một giọt sương chênh vênh trên cỏ chờ đợi chín mùi để rơi xuống.
Chính trong chu kỳ ấy, tôi sống, không phải sống như một người có lý lịch rõ ràng, có tên họ, nghề nghiệp, hay niềm tin, mà như một khối ý thức tạm trú trong thân xác bất kỳ. Tôi từng là đứa trẻ ngồi giữa sân trường nhìn mây trôi mà quên cả tên mình, là thanh niên đi lang thang qua những thành phố lạ, nói cười với những người không bao giờ gặp lại, là một kẻ thành đạt xúng xính trong bộ áo quần thanh lịch rất thời trang, vừa ký hợp đồng vừa nghĩ đến chuyện đi đái. Danh tính tôi như một con rắn lục giao cấu với con kỳ đà dưới cái giường sặc sụa ẩm mốc, mỗi lần cựa mình là nảy sinh một lân tinh mới, mỗi lớp da tróc vảy là một gương mặt khác.
Đã có thời tôi tin rằng mình có thể giữ lấy một cái tôi trung thực, trọn vẹn, không đổi thay. Nhưng bản ngã không bao giờ đứng yên. Heraclitus cho rằng đời sống bất biến mà không ai tắm hai lần trên một dòng sông, tôi thì phán rằng muốn tắm trăm lần trên một dòng sông thì cứ việc mơ mộng tưởng tượng mà tắm, nếu cần thì rủ nhân vật trong dòng sông ly biệt của quỳnh dao cùng tắm cho vui, cần gì phân biệt duy vật duy tâm, không diễn bày được thì thêm vài chủ thuyết duy tưởng duy mơ, có gì mà rắc rối.
Bản ngã cá nhân thật sự được tạo nên từ cái nhìn người khác, thêu dệt bởi nhận thức của họ, rồi dần biến thể thành cái tôi. Rồi tôi nhận ra: cái gọi là “tôi” chưa bao giờ hiện hữu như một thực thể cố định; nó chỉ là chuỗi vai diễn cho vừa lòng đời sống, được lặp lại đến mức thuần thục, để chính tôi tin đó là thật, là một khối đá pha lê có thể sờ mó được, nhưng rồi tôi hiểu, càng nắm, càng tan. Càng buông, càng hóa hình. Và ở tận cùng của sự với đến, là một khoảng trống vô hình vô tướng, không thuộc về bất cứ ai, kể cả chủ thể.
Một trong những ngộ nhận lớn nhất của tri thức là sự tin tưởng mù quáng vào bản ngã cố định, nhưng thật sự cái tôi chỉ là một chuỗi phản ứng dây chuyền khi các hiện tượng bị phơi bày. Khi tôi viết những dòng này, tôi không chắc người đang viết là ai. Có thể là tôi của bao nhiêu năm trước. Có thể là một bóng người tôi từng thấy trong mơ. Có thể là một ý niệm chưa thành hình. Tôi nghi ngờ bản thân như kẻ lạ. Tôi thấy nhiều khuôn mặt chồng lên nhau, thay đổi theo ánh sáng và tâm trạng. Bản ngã, hóa ra, chỉ là ánh sáng phản chiếu trên mặt nước. Cứ tưởng là mình, nhưng không thể chạm vào được.
Mỗi buổi sáng nhìn vào gương, tôi nhìn thấy một người mà tôi không còn nhận ra. Nhưng tôi không hoảng sợ như thời tôi còn mê muội với chính tôi. Tôi mỉm cười, và người ấy mỉm cười lại. Có thể đó mới là tôi. Có thể không. Nhưng không quan trọng nữa. Tôi là tất cả những gì tôi từng là, và cả những gì tôi không dám trở thành. Tôi là người mơ mộng chết giữa đời thật. Là đứa trẻ già cỗi nhăn nhúm và cũng là người lớn chưa kịp trưởng thành.
Ký ức trong tôi không cố định. Mỗi lần nhớ lại là một lần viết lại. Không có sự thật tuyệt đối, chỉ có những phiên bản nhuốm màu thời gian, phong ba cảm xúc, và cả sự thao túng vô thức. Tôi từng tin có những điều không thể quên, nhưng không quên không có nghĩa là nhớ đúng. Có khi tôi chỉ nhớ vì đã từng kể đi kể lại trong đầu quá nhiều lần, đến mức chính mình tin rằng nó là thật. Ký ức là tấm gương méo mó, càng nhìn càng mờ mịt, càng cố níu kéo lại càng biến mất.
Khi mọi thứ tan rã, tôi không còn bám víu vào ai, vào đâu, vào điều gì. Tôi đối diện với hư vô. Nó không đáng sợ như tôi nghĩ. Nó không tối, không lạnh, không trống. Nó chỉ không có gì cả. Và trong cái không ấy, tôi được tự do. Không còn mục tiêu, không còn vai diễn, không còn nhu cầu để được thấu hiểu hay được yêu mến. Tôi chỉ tồn tại, như một cái cây không tên mọc giữa rừng không người đặt chân tới. Nếu nói nghiêm nghị như vị thầy hòa thượng hay cho tôi tiền tiêu vặt hồi xưa, gọi là tiền chùa, là trạng thái chuẩn bị bước vào giác ngộ, không phải đạt được điều gì, mà là không cần nữa, là một trạng thái cao siêu của tỉnh thức (dù rằng lúc đó tôi chỉ hiểu là trạng thái sắp được dẫn bồ đi chơi). Sau tôi tin đó là lúc chấp nhận được hư vô, không phải chống lại nó, không phải lấp đầy nó bằng triết lý hay niềm tin, mà nhìn nó như nhìn vào đôi mắt mình, trống rỗng, thẳm sâu, lặng lẽ. Nhưng giờ thì tôi hiểu sâu hơn, là khi tóc đã lưa thưa thì không còn gì để mất mát.
Tôi đi qua thế giới này như một kẻ lang thang giữa những lớp mặt nạ. Ai cũng đeo. Tôi cũng đeo. Nhưng tôi học được cách phân biệt mùi hương của sự thật. Sự thật không bao giờ to tiếng, không quảng bá mình, không xuất hiện trên sân khấu cuộc đời. Còn cái giả tạo thì luôn ồn ào, đòi ghi nhận vào tâm thức, đòi ghi hình vào ký ức, đòi vỗ tay vào tri giác. Sự giả tạo vô cùng hào nhoáng mê muội, và nó nhốt chúng ta trong đó, mãi mãi. Tôi đã đứng trên những sân khấu diễn đàn, nói những điều được vỗ tay, làm những việc được ngưỡng mộ, nhưng không có lấy một giây phút nào tôi cảm thấy xúc động và chắc hẳn mọi người cũng thế. Đó là sự mỉa mai cùng cực nhất, khi sự tôn trọng được dựa trên những câu nói ra vẻ cao siêu, những việc đã làm tưởng rằng có ý nghĩa, những quyền lực vô hình, những tương lai mờ mịt, những quá khứ tô đậm mà tưởng chừng đó là giá trị cá nhân. Không hề, nhất là với tôi.
Tôi cũng không nhớ mình bắt đầu đóng kịch từ bao giờ. Có thể từ khi tôi học nói, từ khi học cách cười đúng lúc, khóc đúng cách, cúi đầu trước uy quyền mà tôi khinh miệt, và phản kháng đúng giới hạn cho phép. Những cái tôi mà tôi đã từng là, mỗi cái đều rạn nứt. Tôi từng là kẻ nổi loạn giữa đám đông, là người thinh lặng giữa những tiếng hò hét, là tư tưởng gia ngồi xé giấy trong một quán cà phê vỉa hè, và là một đứa trẻ trốn ông già lén bà già chạy qua xóm nhà lá ở truồng tắm mưa.
Tôi sống như thể có thể phân biệt được đâu là thật, đâu là giả. Nhưng ranh giới đó mỗi ngày mỗi mờ đi. Một cái ôm chặt cũng có thể là giả. Một lời xin lỗi có thể đến từ thói quen. Và những giấc mơ, đôi khi lại là điều thật nhất tôi từng sống. Sự giả tạo đôi khi an ủi hơn sự thật. Tôi đã mỉm cười trước một cái chết giả tưởng, và tan vỡ trước những câu nói trần trụi. Càng đi sâu vào đời sống, tôi càng thấy: cái giả được bảo vệ, trau chuốt và sùng bái. Còn cái thật trần trụi, mấp mé giữa thiên đàng và địa ngục, giữa cảm xúc và nhục cảm, thường bị chối bỏ.
Tôi đã nhìn thấy sự thật ấy trong ánh mắt người mẹ bồng đứa con hấp hối tại bệnh viện mà tôi ghé thăm. Tôi đã nghe được nó trong tiếng thở dài thất vọng của một người cầm trịch tương lai, để làm tôi thất thanh câm nín. Và chính trong sự im lặng ấy, mọi điều giả tạo trở nên lố bịch đến mức không thể chịu đựng nổi. Tôi không còn tìm kiếm sự thật nữa. Tôi để nó tìm đến tôi trong những lúc bất ngờ nhất, như khi tôi bước qua một con hẻm nhỏ lúc một giờ sáng, nhìn thấy một đứa nhỏ xíu bế bồng một đứa nhỏ hơn lúi húi đếm những tờ bạc lẻ. Thêm vài bước tôi lại thấy chắc hẳn là một người phụ nữ bán hoa ở độ tuổi mà không còn gì trên cuộc đời để trao đổi với thiên hạ, mà tôi đoán là mẹ của hai đứa bé lạc loài kia, ngóng nhìn người qua lại và cả tôi với đôi mắt tuyệt đẹp và tuyệt vọng nhất của kiếp người. Không ai chú ý đến son phấn che đậy thân thể đã lõa lồ, không ai đưa ngón tay giữa ra hiệu ngoắc tới, nhưng tôi muốn quỳ sụp xuống để cảm tạ, vì giữa những tầng lớp khốn khổ của thế giới này, vẫn còn một điều gì đó không thể bị thay thế. Là cái đẹp trơ trụi nhất, bất hạnh nhất, đau thương nhất, thì không bao giờ ở chỗ người ta hay tìm.
Thường thì thiên hạ nói về cái thật và cái giả như hai cực đối lập, như ánh sáng và bóng tối, như sự hiện hữu và hư ảo.
Nhưng đến một lúc nào đó, như bây giờ chẳng hạn, khi tôi không còn chắc ngay cả tên mình có thật hay không, vì thật và giả không phải là hai mặt của một đồng xu, mà là hai lớp sương chồng lên nhau, ký sinh và tồn tại lẫn nhau như âm dương. Tôi đã sống trong những cuộc đời có danh tính, có quá khứ, nhưng trong lòng tôi vẫn cảm thấy đó chỉ là sân khấu, là phông nền được dựng lên để vai diễn của tôi có chỗ đứng. Và rồi có những điều tưởng chừng là giả, một giấc mơ, một câu trong một cuốn tiểu thuyết, một ánh mắt bắt gặp trong quán cà phê năm xưa lại hiện về với sức nặng không cưỡng nổi, khiến tôi bất ngờ. Cái gì là thật? Cái được đa số công nhận? Cái được lặp đi lặp lại đủ nhiều lần để trở thành quy ước? Hay chỉ đơn giản là cái khiến ta đau đớn và hạnh phúc? Nếu vậy thì nỗi đau trong mơ cũng thật, như nỗi đau giữa ban ngày. Và nếu ký ức có thể bị bóp méo, thì cái giả của ngày hôm qua, hôm nay có còn thật?
Tôi không còn tin vào ranh giới ấy nữa. Tôi bước đi giữa những lớp tầng của tồn tại như kẻ mộng du. Có lẽ, cuộc đời là một hỗn hợp của những lớp thật giả chồng lên nhau vẽ bị vẽ lại, xóa đi, rồi vẽ tiếp. Mỗi chúng ta chỉ là một đường nét chưa kịp khô trên lưới mạch vô định đó. Và nếu có một nơi nào thật sự tồn tại, thì có lẽ nó không cần phải là thật hay giả, mà chỉ cần là nơi mà ta có thể hiện diện, dù chỉ trong một khoảnh khắc, không nghi ngờ – mà cách đây nhiều thập kỷ, tôi đã tiên tri cho cuộc đời của tôi qua những con chữ từ cây bút chì. Bởi vì vậy, tôi không tin ngôn ngữ có thể cứu rỗi con người, ít nhất là cho cá nhân tôi. Mỗi chữ tôi viết ra đều là một lần thất bại. Không phải vì tôi không biết viết, mà vì có những điều không thể nói. Ngôn ngữ giống như cây đèn cầy le lói, chỉ chiếu sáng được phần nào trong căn phòng tối đen. Phần còn lại, nơi tôi thực sự sống, vẫn bị bỏ quên trong câm lặng. Tôi viết không phải để nói ra, mà để thừa nhận rằng có những thứ không bao giờ nói được. Viết, chỉ là cách tôi thú nhận cho sự bất lực của mình. Ngôn ngữ của tôi hồi nhỏ cũng chỉ để cua gái, giờ thì cũng chẳng khá gì hơn, cùng lắm là cho những người đã chết, những người mà cuộc đời cũng chưa chắc đã phong phú như tôi, hoặc cho những người còn sống nhưng đã chết từ lúc chưa sinh ra đời, để họ cùng nhíu mày hỏi nhau là cái thằng đm lộng ngôn dân chơi cha căng chú kiết này chui lên từ đâu.
Người cầm viết, thật ra, là kẻ hèn nhát nhất, ít nhất là trong trường hợp của tôi. Không dám sống, chỉ dám viết. Không dám đối diện, chỉ biết trốn. Viết trong ẩm ướt. Trốn vào ý niệm. Trốn trong những giấc mơ vay mượn và của chính mình. Viết ra những khắc khoải, rồi gắn lên đó một giọng nói có vẻ cao thượng, có vẻ gan lì, có vẻ dám nói thay thiên hạ. Nhưng thật ra là không. Chỉ là sự trốn chui trốn nhủi chuột chù trong bóng tối. Và tưởng rằng mình dám sống trong cái viết của mình.
Ngay cả lúc hô hào thế gian phải dũng cảm – phải, phải và phải – cũng chỉ là tiếng thét bắt chước thiền sư trong cái vang vọng âm ba từ nỗi sợ hãi. Và ngay cả lúc viết ra những câu thơ mơ mộng nhất, những áng văn được ca ngợi là bay bổng nhất, cũng chỉ là vết nhòe của những lý tưởng phá sản được thần thánh hóa bởi bộ óc nhỏ bé nhất – những bộ óc không đủ dũng khí chịu đựng thực tại, nên phải tưởng tượng ra một thế giới khác để sống tạm.
Viết về sự thật ư? Đó mới là thứ nhảm nhí đến cùng cực. Vì bản chất của sự thật là không cần, và không thể, được giải thích. Sự thật không nằm trong ngôn từ. Nó không chấp nhận bị bóp méo trong ngữ pháp, không chịu bị buộc lại trong ý niệm. Mỗi người đã có sẵn cho mình một sự thật, một hệ quy chiếu bất khả xâm phạm. Họ không đi tìm sự thật, họ chỉ đi tìm sự xác nhận cho cái họ đã tin là thật.
Và khi ấy, tôi hiểu: viết không phải là để thay đổi thế giới. Viết chỉ là để sống sót trong thế giới này dù yếu ớt, dù thất vọng nhưng vẫn âm thầm rả rích.
Hồi xưa, cái thời còn mê muội và đầy lý tưởng, tôi từng tin rằng sự sáng tạo là cốt lõi của nền văn minh nhân loại. Rằng chữ nghĩa, câu nói, được thốt ra từ con tim khối óc có thể làm thay đổi cả thế giới. Tôi đã từng tin một câu thơ có thể san bằng những ngọn núi cao nhất, lấp đầy những đại dương sâu nhất. Một câu chữ, nếu đúng thời điểm, có thể khiến người ta bật khóc, vùng dậy, thay đổi cả định mệnh. Một niềm tin ngây thơ, và sự thơ ngây thì lúc nào cũng sai lầm, không thực tế.
Để rồi tôi nhận ra, tất cả, hết thảy, chỉ là ảo tưởng. Sự thật đơn giản hơn nhiều. Là chiến tranh, là thù hận. Cái Đẹp viết hoa mà nhân loại đã từng tôn thờ đã thoát thai, đã biến hóa theo ý muốn của những người đại diện cho cái đẹp, và thường những kẻ ngu xuẩn nhất, lại có đám đông ngu xuẩn hơn để phục tùng và ca tụng. Tuy nhiên, với họ, sự tiêu diệt cái Đẹp cũng là cái Đẹp.
Có thể ngày mai tôi sẽ chết. Có thể tôi chỉ vừa mới được sinh ra. Mọi thứ đều có thể. Trong giấc mơ, không có thật hay giả. Chỉ có một điều chắc chắn: tôi đang sống trong cái mộng mị ngất ngơ, đã đến gần ngưỡng cửa tuyệt chủng của nhân loại.
Ngay cả trong giấc mơ, nơi nó cố tháo bỏ xiềng xích, nó vẫn không thể dừng lại trò chơi ấy, vẫn tiếp tục kiến tạo, tiếp tục phân tích, tiếp tục phản chiếu, ảo vọng giấc mơ thành một giấc mộng khác, mềm mại hơn, êm ấm hơn, thu hút hơn.
Tôi bắt đầu nghi ngờ ý thức chính là hình thức tinh vi nhất của dối trá. Không phải dối trá với thế giới mà là dối trá với bản thể. Ý thức không đi tìm chân lý, chỉ khát khao một trật tự có thể chịu đựng được. Ý thức không sinh ra từ ánh sáng chân lý, mà từ nỗi sợ hãi hư vô. Nó cần một nguyên nhân, một câu chuyện, một cái tên, để không bị chìm trong hỗn loạn của sự phi lý. Mà chỉ vì nếu đã thức tỉnh, thì không còn đường lui. Người tỉnh giấc không thể quay về giấc mơ. Ngay cả ý thức, dù là kẻ phản bội, cũng là vũ khí duy nhất để thỏa hiệp cho những suy niệm về ý thức.
Ý thức không chịu nổi sự tự do. Bởi vì tự do đồng nghĩa với trách nhiệm tuyệt đối. Không còn Thượng Đế để nương tựa, không còn số phận để đổ lỗi, không còn “nghĩa” nào ngoài cái mà ta buộc phải tạo ra từng giây, từng phút. Và để sống sót giữa khoảng không ấy, ý thức tự nảy sinh ra những từ ngữ mơ hồ như đạo đức, tình yêu, kỷ niệm, lý tưởng... những chiếc phao rỗng ruột mà nó ôm chặt lấy, không phải để bơi tới đâu, mà chỉ để không chìm thì nó bắt đầu lắng xuống, tan vào sự hiện diện đơn thuần.
Có lẽ, ý thức là vết rạn nguyên thủy, là điểm đứt gãy đầu tiên giữa tôi và sự bình yên không tên thuở sơ khai. Không còn nổi loạn. Không còn phản kháng. Chỉ có sự hiện hữu không tranh đấu. Một thứ tự do khác, không phải người hùng don quixote mà của kẻ tịch nhiên, không chém cối xay gió, cũng không phá bỏ nó, chỉ an nhiên ngắm sương mù kéo đến.
Cách đây bao nhiêu năm, khi tôi còn đứng lơ lửng giữa thiếu niên và thành niên, ở cái lằn ranh mong manh giữa một thế giới vẫn còn nguyên vẹn thơ mộng và một thế giới đang rạn vỡ dưới ánh nhìn đầu tiên của sự tỉnh thức, là khi tôi đọc được dăm chữ u uẩn của Nietzsche: “God is Dead”, Thượng Đế Đã Chết, và bốn chữ tàn nhẫn của thiền sư Lâm Tế: “Phùng Phật Sát Phật”, Gặp Phật Giết Phật. Một người đến từ phương Tây, một người từ phương Đông, hai tiếng nói cách nhau cả nghìn năm, nhưng vang vọng từ một vực thẳm. Họ không nói về cái chết của tôn giáo, mà nói về sự sụp đổ của một điểm tựa. Một cuộc đoạn tuyệt. Một lời từ khước, không phải vì thù hận, mà vì khát khao tự do.
Nietzsche giết Thượng Đế để con người có thể bước ra khỏi chiếc bóng mà chính họ đã dựng nên suốt hàng thế kỷ. Lâm Tế giết Phật vì ngay cả Phật cũng không được phép trở thành thần tượng. Một bên là cú đập búa của kẻ nổi loạn, một bên là nhát chém vô niệm của người buông xả. Nhưng cả hai đều dẫn đến cùng một nơi: nơi không còn gì thiêng liêng, không còn ai để quỳ gối, không còn niềm tin, chỉ còn chính mình, trơ trọi, không nơi nương tựa, một thân một mình.
Đó không phải là sự chối bỏ, mà là sự trưởng thành. Không còn sống dựa vào những biểu tượng bên ngoài. Không còn cần ánh sáng của kẻ khác để soi rọi con đường. Nietzsche gọi đó là buổi trưa, nơi cái bóng biến mất. Còn Lâm Tế chỉ im lặng, vì im lặng là tất cả những gì còn lại khi mọi ngôn từ đã vỡ nát.
Lúc đó tôi hiểu rằng, tôi đã chính thức bước vào sự hấp hối của lý tưởng.
Không còn ai để tin. Không còn gì để giữ. Không còn một bóng dáng thiêng liêng nào đáng để quỳ xuống. Mà thật sự, nếu tôi tập tễnh theo bóng đổ của Apollinaire, Goethe, Nguyễn Du, Whitman, của thi sĩ của các thi sĩ, mà ngôn từ chỉ cô đọng trên những ngón tay, thì bóng dáng duy nhất để tôi chiêm ngưỡng chính là dư ảnh mượt mà của những cánh hạc Kawabata bay lượn tuổi thơ.
Tôi mơ hồ nhìn thấy những vết rạn trong bức tường ý thức. Đằng sau mỗi hành động, mỗi giấc mơ, mỗi lựa chọn, là một vũng lầy mơ hồ mà tôi không thể gọi tên. Ý thức, tưởng như gần gũi nhất, lại trở thành một chiếc hộp kép: tôi ý thức rằng mình đang ý thức, nhưng không thể nào vươn tay ra ngoài nó. Như một cái gương chiếu vào một cái kính. Tôi đi qua những năm tháng đầu đời như thể đi trong giấc mơ của bóng đêm thay đổi hình dạng theo từng giờ. Không nghĩ. Không phản kháng. Không khát khao vượt thoát. Vì còn vượt đi đâu nữa, khi tất cả đã được tháo gỡ, khi cái vượt cũng chỉ là một ảo ảnh cuối cùng của ý thức.
Từ đó, tôi bắt đầu học lại từng chuyển động nhỏ nhất của đời sống, như thể chưa từng biết sự sống là gì. Tiếng muỗi vo ve trong căn phòng mốc thếch, ánh sáng sớm vỡ vụn trên mép tường, một mẩu thuốc rơi chạm vào mặt đất, tất cả không còn là dấu hiệu của điều gì khác, không là biểu tượng, không mang một ý nghĩa nào. Chúng chỉ đơn giản là. Như tôi, sau cùng, cũng chỉ đơn giản là.
Sự là đó không giống cái chết. Nó là sự tái sinh, nhưng không có thiên thần, không có ánh sáng chói lòa, không có bàn tay vẫy gọi. Chỉ là một sự trở về, nói theo kiểu thiền tông mẫu giáo, về với chính mình, nhưng không còn “mình” nữa, vì chẳng còn ai quan sát.
Đôi khi trong những giây phút hoàn toàn tịch lặng đó, tôi cảm thấy như mình chưa từng tồn tại, và đó không phải là một bi kịch hậu hư vô. Trái lại, nó nhẹ nhõm, không có bản thể để mang vác, không bị buộc phải trở thành ai nữa. Không cần là trí thức nạ dòng, doanh nhân nửa vời, lữ hành ngõ hẻm, bụi đời chợ búa, ngợm người thất lạc bình minh, hoàng hôn xé nát ngôn từ xa xôi.
Tôi chỉ là, như hơi thở cuối cùng của một buổi chiều hoang vu tại một thành phố nhiệt đới mà chẳng ai mong đợi cơn mưa bất chợt, dù chỉ để ngắm những chiếc áo mưa xanh đỏ vội vã chạy ngược chạy xuôi.
Nếu có ai đó hỏi tôi, rốt cuộc điều gì còn lại sau tất cả những cuộc nổi loạn, những lần tuyệt vọng, những lý tưởng từng rực cháy, tôi sẽ không trả lời.
Tôi đã sẽ đang lặng lẽ ngẩng đầu, nhìn lên một bầu trời không tên, nơi không còn câu hỏi nào được đặt ra nữa. Có lẽ vì vậy, tôi không hề xa lạ với hư vô. Hư vô là điều tôi luôn mang bên trong, như một mạch ngầm, một phần của cấu trúc. Khi tất cả niềm tin đã rơi rụng, khi không còn khái niệm về điều đúng, điều sai, khi kể cả đau khổ cũng không còn sắc cạnh, hư vô xuất hiện, lặng lẽ, như một người bạn cũ trở về.
Không một hệ thống tư tưởng nào đủ sức chống đỡ sự trống rỗng đang mở rộng. Không một giấc mơ thơ mộng nào cứu nổi kẻ đã tỉnh giấc.
Và giống như Sisyphus, tôi cúi xuống lăn hòn đá lên đỉnh núi, với sự tỉnh táo, lạnh lùng của kẻ đã nhìn thấy hư vô, mà vẫn tiếp tục bước đi, đến nơi cuối cùng, nơi không còn đỉnh núi, không còn con dốc, không còn cả hòn đá, chồm hổm cà phê cà pháo với Camus, nói rằng cái áo pardessus của anh chưa đủ phong trần, nhưng mấy cái hình của anh chụp với điếu thuốc lưng lửng trên môi cũng có vẻ nghệ sĩ suy tư, và khi đẹp trai hơn, bồ bịch nhiều hơn, thì cũng không nên cà khịa với Sartre làm gì.
TTG
(trích “Đời Sống Của Loài Bò Sát”)