Trở Thành Một Nhà Phê Bình Văn Học

 

Nguyễn Tà Cúc

 

 

phỏng vấn bởi Lê Thị Huệ

 

 

kỳ 5

 

bấm vào đây đọc kỳ 1, kỳ 2, kỳ 3, kỳ 4, kỳ 5, kỳ 6

 

 

 


Thư ký Tòa soạn Nguyễn Tà Cúc và Chủ nhiệm & Chủ bút Viên Linh
Tạp chí Khởi Hành, khoảng 2001

 

  



 

Nguyễn Tà Cúc là một cây viết nữ phiêu lưu vào phê bình văn học, gây khá nhiều đấu đá giữa chị và những tên tuổi lẫy lừng khác của văn chương Miền Nam và Văn Chương Hải Ngoại. Cuộc phỏng vấn là một cuộc đối thoại giữa hai người đàn bà tham gia sinh hoạt viết ở hải ngoại, như một cách mò mẫm tìm hiểu nhau, mà đôi khi độc giả có thể thấy ẩn bên dưới những câu chữ dao búa ấy, là một giao thông hào cố gắng đả thông hay tô màu những khác biệt bất khả kháng của một sinh hoạt viết vốn đầy cá tính. (lê thị huệ 18.02.2018)

 

 

Lê Thị Huệ: Chị nghĩ tại sao ông Kiều Phong Lê Tất Điều lại “uýnh” chị tơi tả như thế?

 

 

Nguyễn Tà Cúc:  Nói cho công bình, Kiều Phong Lê Tất Điều (từ nay trở đi sẽ viết tắt là KP Điều)  bị quần hùng quần tà dồn đến nỗi phải kêu cứu tiếp tay khiến Võ Phiến bị họa lây-- anh em cứ nhè Võ Phiến mà mời ra trận tiền-- chứ tôi thì vẫn không hề hấn gì. Nằm dài ở hậu phương mà cứ nghe quân tướng bên kia hò reo "Võ Phiến, Võ Phiến" thì làm sao tránh khỏi phải cưỡi ...lừa ra trận? Lần này, chính Võ Phiến phải lâm trận, nhân một bài phỏng vấn (trên tờ Văn Học), hòng phân trần và bóng gió về những điểm bị tôi chỉ trích trên "Tạp bút không phải là Phê bình văn học" sau khi KP Lê Tất Điều tỏ ra không hữu hiệu, sau khi bị tôi và quần hùng quần tà cùng trăm họ- bách gia xuất hải chính thống-- "uýnh cho tơi tả". Thế nên, như đã trả lời trong một câu trước, nguyên ủy của vụ này là Võ Phiến nên câu hỏi cần đặt ra, như mọi phe thời đó đã chú tâm vào "Tại sao Võ Phiến lại [muốn]“uýnh” tôi "tơi tả như thế?" Nguyên do ấy gồm hai phần: Tham vọng làm lãnh tụ văn học [và lãnh tụ Chống Cộng tại Hải ngoại]  và thái độ khinh thường phụ nữ cố hữu của Võ Phiến đã được tôi chứng minh qua trường hợp nhà văn Nguyễn Thị Hoàng. Trước khi bắt đầu, tôi muốn bàn qua về câu hỏi liên quan đến Kiều Phong Lê Tất Điều của chị.

          Ngay từ đầu, tôi biết --chứ khỏi cần nghĩ gì sất-- tại sao cậu này lại hăm hở gây chiến: Ấy là vì ông anh Võ Phiến và vì chính miệng cậu ta "thông báo" khi tuyên chiến với tôi. Tôi sẽ  trình bày chi tiết để quý độc giả tiện theo dõi mà cũng để cho những tin đồn tương tự về Viên Linh đến lúc phải chấm dứt.

 

          KP Lê Tất Điều, trước đó, có quen tôi trong khoảng 2 năm. Khi nghe nói tôi có bài phê bình bộ Văn học Miền Nam của Võ Phiến, bèn nằng nặc đòi gửi cho xem. Tôi từ chối vì phép lịch sự tối thiểu không cho phép chuyển 1 bài phê bình nặng nề tới một người cật ruột với ông ấy. Cậu ta bảo cứ gửi (!) Vài ngày sau, Lê Tất Điều điện thoại cho tôi từ San Diego. Đây là nguyên văn cuộc nói chuyện đó mà tôi còn nhớ:

 

- "KP Lê Tất Điều: Anh sẽ viết bài đánh cô. Cô không thể viết như thế về anh Võ Phiến."

 

- "Nguyễn Tà Cúc:  Tại sao không thể viết bất cứ cái gì về Võ Phiến? Giở thói kiểm duyệt của Cộng sản bao giờ thế? Nhưng bạn đã muốn 'bôi mặt đánh nhau' thì tôi cũng chẳng hẹp lượng. Nhưng nên nhớ kỹ điều này: Hãy đánh hết sức để nếu thắng thì thắng  trong  vinh quang mà nếu thua, sẽ thua trong danh dự. Đừng để thua rồi ân hận rằng đã không dùng hết sức vì phần bản cô nương, bản cô nương  sẽ không nương tay."

 

          Tại sao tôi có thể trả lời cậu ta một cách bình thản với một thái độ dứt khoát như thế? Vì tôi đã sửa soạn nghênh chiến ngay từ khi gửi bài đó đi cho Võ Phiến. Lê Tất Điều không thể nào ngờ được tôi đã chuẩn bị tinh thần: Một cuộc chiến đã âm ỉ trước khi Lê Tất Điều nhập cuộc chính thức. Cuộc chiến ấy bắt đầu từ Võ Phiến, một nhà văn rất có tham vọng về ngôi thứ trong văn sử Miền Nam.

 

1.     Tham vọng làm lãnh tụ văn học

 

          Trước khi muốn phân tích sâu xa, tôi nghĩ chúng ta cần biết một chút về tiểu sử văn nghệ của nhà văn Võ Phiến trước và sau 1975.

 

          Trước 1975, tuy chăm chỉ nhưng Võ Phiến không có thanh thế của một chủ nhiệm hay chủ bút như Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Viên Linh (toàn Bắc kỳ di cư). Về văn, ông không hơn được Mặc Đỗ, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu (cũng toàn công tử Bắc kỳ di cư). Ông không viết được kịch như Vũ Khắc Khoan (lại Bắc kỳ di cư), không làm thơ được như Cung Trầm Tưởng, Thanh Tâm Tuyền, Viên Linh, Hà Huyền Chi (toàn Bắc kỳ di cư). So với các nhóm "huy hoàng" như nhóm Sáng Tạo hay nhóm Quan Điểm (lại hầu hết công tử Bắc kỳ di cư), sinh hoạt báo chí của ông hầu như thu hẹp vào tạp chí Bách Khoa.  Khốn  nỗi, Võ Phiến không cầm chịch được tạp chí này vì nó đã được sáng lập bởi Huỳnh Văn Lang (công tử Nam Kỳ-Viện trưởng Viện Hối Đoái thời Tổng thống Ngô Đình Diệm). Sau này, Bách Khoa nằm dưới sự kiểm soát hoàn toàn của Lê Ngộ Châu sau khi Huỳnh Văn Lang đã lập một hệ thống tài chính nhắm bảo vệ sự sống còn của nó. Tôi dám nói thế vì chính tôi đã làm loạt bài về xuất xứ của Bách Khoa với sự tham dự của Huỳnh Văn Lang, Nguyễn Văn Trung. Sau đó, tôi báo cho Lê Ngộ Châu cùng Võ Phiến biết trước khi viết bài tổng kết. Bằng sự im lặng, Lê Ngộ Châu và Võ Phiến (với một bức thư gửi cho tôi từ chối trả lời) đã phải công nhận--như Huỳnh Văn Lang công bố cho độc giả và chính Lê Ngộ Châu--về nguồn gốc tài chính của Bách Khoa.

 

          Đằng khác, Võ Phiến cũng không có uy tín của Bình-nguyên Lộc. Nhà văn gạo cội Miền Nam này tạo được một vòng tròn văn nghệ riêng với lớp độc giả đông đảo hai miền trong khi vẫn sinh hoạt thường xuyên với các nhóm Bắc kỳ di cư  khác. Bình-nguyên Lộc khá thân với cả Mặc Đỗ lẫn Thanh Nam (cũng lại công tử Bắc kỳ di cư). Thế nên, tôi không ngạc nhiên khi khám phá nhiều sai lầm cố ý của Võ Phiến khi phê bình Bình-nguyên Lộc (Thụy Khuê viết khá chi tiết về vụ này), nhưng nổi bật nhất vẫn là lối phê bình ác ý với các công tử Bắc kỳ di cư, kể cả thế hệ công tử Bắc kỳ di cư ít tuổi hơn như Nguyễn Đình Toàn sau 1975.

 

          Biến cố 1975 trở thành một cơ hội hãn hữu để Võ Phiến viết lại lịch sử Văn học Miền Nam. Lần này Võ Phiến tung hoành ở một vùng đất hoang, vắng bóng hầu hết công tử Bắc kỳ di cư không kịp di tản hay chỉ thoát được sau một thời gian dài trong bàn tay người Cộng sản. Số công tử Bắc kỳ di cư có cơ hội di tản được như Mặc Đỗ hay Vũ Khắc Khoan, Mai Thảo, vì lòng tự trọng cố hữu, đã không lưu ý tới hoạt động của Võ Phiến.  Cuốn Văn học Miền Nam: Tổng quan (Võ Phiến) ra đời trong nỗi đau xót và nhu cầu cấp bách lưu lại tài liệu nhắm đương đầu với sự hủy diệt văn phẩm và tác giả Miền Nam. Cộng đồng tỵ nạn hải ngoại hăng hái cung cấp tài liệu cho Võ Phiến. Một công tử Bắc kỳ di cư, hiện còn sống tại Nam California, thổ lộ với tôi rằng chính ông đã chuyển cho Võ Phiến rất nhiều sách quý từ kho sách của ông Nguyễn Hùng Trương (chủ tiệm sách Khai Trí) khi quyết định trở về Việt Nam lập nghiệp. Nhiều giáo sư đại học gốc Việt giao cho Võ Phiến tài liệu sao chép từ các đại học Hoa Kỳ. Trong tình trạng thất thoát và hiếm tài liệu như thế, dĩ nhiên Văn học Miền Nam: Tổng quan thoát được sự kiểm chứng của đồng nghiệp. Một thí dụ điển hình là lời nhận xét này của Nguyễn Ngọc Tuấn (bút hiệu của Nguyễn Hưng Quốc) từ năm 1995: 

 

          -"Ông là người đầu tiên, và cho tới nay, là người duy nhất nghiên cứu về Văn học Miền Nam thời kỳ 1954-75 một cách toàn diện, cẩn trọng và đặc biệt, thành tâm." (Nguyễn Ngọc Tuấn, "Võ Phiến, Nhà phê bình văn học", trang 79,  Thế kỷ 21-Số Đặc biệt Nhà văn Võ Phiến, 10.1995, trang 78-84".

 

          Theo tôi, muốn chứng minh Võ Phiến viết đúng hay sai thì cần có hầu hết tài liệu mà tác giả đã sử dụng nhắm kiểm tra sự chính xác, quen thuộc với sinh hoạt văn nghệ Miền Nam (chủ đích của tác phẩm trong trường hợp này) và giao tiếp với các tác giả cùng thời của đối tượng nghiên cứu hầu kiểm chứng. Không có ít nhất 1 trong 3 điều kiện này để đối chiếu  thì  không cách nào quả quyết được điều gì hết. Sau khi Bộ 6 cuốn về VHMN theo nhau ra mắt cộng đồng tỵ nạn, Võ Phiến độc chiếm vị trí phê bình nghiên cứu Văn học Miền Nam và danh hiệu đó càng lúc càng được duy trì chắc chắn hơn với rất nhiều lời ca ngợi công khai dù có khi quá đà của một số tác giả. Tình trạng này được kéo dài cho tới khi tôi xuất hiện với "Tạp bút không phải là Phê bình Văn học" khoảng giữa năm 1999.

 

          Tuy chưa đi sâu vào chi tiết hay vào mọi trường hợp, tôi đã bầy tỏ cho Võ Phiến biết tôi có thừa khả năng kiểm chứng tài liệu và quen biết đủ nhân chứng hầu phơi ra thâm ý muốn trấn át võ lâm của ông. Ngoài Cao Tiêu, Hà Thượng Nhân, Viên Linh vv . còn một trong những nhân chứng quan trọng là nhà văn Đỗ Tiến Đức, Giám đốc Nha Điện ảnh, Việt Nam Cộng hòa. Trái với tin đồn nhưng được đăng vào một số sách báo, Đỗ Tiến Đức xác nhận công khai Võ Phiến không bao giờ phục vụ với chức tước bất cứ một ngày nào tại Nha Điện Ảnh.  Như thế, một người bén nhậy như Võ Phiến phải lập tức nhận ra mối đe dọa cho tòa lâu đài của ông, một tòa lâu đài nhân danh Chống Cộng và Văn học Miền Nam mà ông tốn công xây dựng trong bao nhiêu năm nay. Nhà văn (quá cố) Đặng Trần Huân là người đầu tiên gửi bản sao bài tôi tới Võ Phiến. Sau đó, trong buổi mừng sinh nhật giáo sư Trần Ngọc Ninh tại tư gia ở Huntington Beach, tôi gặp ông bà Võ Phiến. Ông có vẻ lúng túng khi gặp tôi nhưng rất hòa nhã. Tuy xác nhận Đặng Trần Huân gửi rồi, nhưng ông vẫn muốn một bản vì " Tôi có nghe một anh bạn nói đã đọc trên net bài chị phê bình tường tận mấy tập sách mới ra của tôi. Sao không thấy chị gửi cho tôi đọc như chị vẫn gửi? Tôi lắm khi bận quá hay đau ốm luôn, nên có khi nhận rồi mà không báo. Chứ lúc nào cũng đọc kỹ bài của (các anh) chị gửi đến, đâu dám coi thường. Chị nhớ gửi cho tôi một bản cho tôi xem nhé." Tôi đã cho phổ biến lời nói của Võ Phiến vào năm 2000, khi ông còn sống, ghi lại trong bài đầu tiên phản bác KP Lê Tất Điều. Đó là lần đầu và duy nhất tôi có hân hạnh gặp Võ Phiến dù trước đó tôi đã viết thư hỏi, và còn giữ thư ông trả lời, về vấn đề Văn bút Việt Nam Hải ngoại, về những sai lầm trong Văn học Miền Nam Tổng quan (ông hứa sẽ xem lại) mấy năm trước khi tôi cho công bố nghiên cứu của tôi trên Người Mới và sau này, Khởi Hành. Điều cũng đáng nói là phản ứng của bà Võ Phiến. Hiện bà còn sống nên có thể phản bác những gì tôi sắp viết ra đây. Bà tới gần chỗ tôi ngồi, nhỏ nhẹ nói:  "-Anh Võ Phiến rất khen thơ anh Viên Linh." 

 

          Tôi trả lời, không hề ngạc nhiên về lời mở này:

 

          "-Việc khen chê là việc của anh nhà. Như chị đã thấy, bài này không đăng trên Khởi Hành. Tôi không viết vì Viên Linh. Tôi cũng mong ý kiến của chị không ảnh hưởng đến anh nhà khi anh ấy viết mấy cuốn đó."

 

          Tôi chỉ muốn nhắc cho bà ấy nhớ rằng tôi là một nhà phê bình. Tôi chỉ có bổn phận với lương tâm nghề nghiệp (và độc giả). Vị trí của tôi khác hẳn với vị trí của một người tình hay một người vợ không chuyên môn về phê bình. Tôi đã từng được biết về vị trí của bà Võ Phiến qua Hồ Trường An và Trần Long Hồ:

 

          -"Bà Võ Phiến trả lời: 'Có đọc mà không thiêng'. Vận sự đó đến tai anh Nguiễn Ngu Í, Anh bĩu môi dài cả thước -'Hai em đừng có tin bả. Một miếng giấy viết lảm nhảm của chồng bả, bả cũng lượm cất vô hồ sơ. Bả còn biết đánh máy, sửa bản vỗ sách vở do Thời Mới xuất bản. Bả còn giữ việc phát hành, bả làm đủ thứ...'" (Hồ Trường An, "Chuyện phiếm về nhà văn Võ Phiến", trang 48, Làng Văn, Số 43-Đặc biệt Võ Phiến, Tháng 3.1988, trang 47-49)

 

          -"[...] Ông là cái đích cho cái lo của bà. Ai khen Võ Phiến thì bà hớn hở. Ai chê Võ Phiến thì bà buồn rầu, ai đụng tới Võ Phiến thì coi chừng...chết với bà..." (Trần Long Hồ, "Chân dung Võ Phiến", trang 52, Thế Kỷ 21- Số 78-Số đặc biệt nhà văn Võ Phiến, Tháng 10. 1995, trang 48-52)

 

          Thật ra, tôi tin Nguiễn Ngu Í nhiều hơn Trần Long Hồ. Theo tôi được biết, ít nhất bộ Văn học Miền Nam của Võ Phiến là do bà đánh máy và giúp giao dịch với nhà xuất bản Văn Nghệ. Qua cuộc đối thoại rất ngắn ngủi này, tôi có thể suy luận một điều nữa: Võ Phiến là một người biết lượng định tình hình. Một cuộc can qua với tôi--một nhà phê bình có máu lạnh từng từ chối đến thăm "theo Viên Linh" và không chấp nhận chuyện "người nhà" can dự vào -- là không tránh khỏi nếu ông muốn bảo vệ thứ thanh danh nhân tạo ấy.

 

          Sau khi đã có thể xác định nguyên ủy của vấn đề Võ Phiến muốn "đánh" (mà đánh cho kỳ chết, cho "tơi tả" như chữ của chị), tôi có thể bàn tới chung cuộc cách đây nhiều năm. Đó là trận can qua lớn nhất, không những trong lịch sử Văn học Hải ngoại mà còn liên quan trực tiếp đến Văn học Miền Nam chỉ vì những tác giả dính líu tới, ngoài tôi, đều xuất thân từ  nền văn học này. Trong phạm vi cuộc phỏng vấn, tôi sẽ chỉ nói tới các tác gia Miền Nam can dự. Võ Phiến và Lê Tất Điều dàn trận ở một bên. Bên kia là Hà Huyền Chi (với bút hiệu Mậu Binh) và cả Hồ Trường An khi ông có dịp ngỏ ý, cộng thêm lời bình phẩm của Đỗ Tiến Đức rất tai hại cho đời văn Lê Tất Điều. Trận can qua lớn nhất và duy nhất về vấn đề Phê bình & Kiểm chứng Tài liệu Văn học Miền Nam đã xẩy ra sau 1975 một cách tệ hại và hạ tiện đến mức đó vì thái độ khinh thường phụ nữ của Võ Phiến và KP Lê Tất Điều.

 

 

2. Thái độ khinh thường phụ nữ của Võ Phiến

Trước khi bàn tiếp, tôi xin chị, nếu được, cho phép tôi trích lại vài đoạn KP Lê Tất Điều đã viết về tôi trong thời gian này. Theo tôi, Võ Phiến không thể không biết, thậm chí, còn "chứng kiến" loạt bài khinh thường phụ nữ nói chung qua trường hợp tôi, bằng chính lời KP Lê Tất Điều bầy tỏ công khai. Trong một bài viết đã đăng, KP Lê Tất Điều vô tình chứng minh sự tham dự tích cực của Võ Phiến, rằng Võ Phiến chỉ muốn "giáo dục" vì tôi đã “viết ra những lời xấc láo, ngu dốt”, "chửi rủa bằng những lời xấc láo tục tĩu" nhưng Võ Phiến “vẫn muốn...đặt nặng vấn đề giáo dục hơn là trừng phạt...” “vv và vv. Tôi đã gửi một lá thư ngỏ cho Võ Phiến, đăng lại trên Khởi Hành, chính thức yêu cầu ông minh xác. Một bằng chứng nữa chứng tỏ Võ Phiến có biết tới loạt bài của KP Lê Tất Điều:

 

          -"[...] Danh ngôn đẹp đẽ của cô Cúc [...] Nó cũng làm Kiều Phong mừng húm, cuống quít bốc điện thoại gọi cụ Võ Phiến [...] để báo tin mừng (KP Lê Tất Điều, "Mừng hụt", 2000)

         

Dĩ nhiên người ta có thể đặt dấu hỏi về sự tham dự (có hay không) của Võ Phiến, nhưng ngoài những điều KP Lê Tất Điều đã phổ biến, còn rất khó mà không nghi ngờ bóng dáng của ông đã phủ trùm, dù có đồng ý hay không với Lê Tất Điều, đằng sau cuộc tấn công đó. Thật khó tưởng tượng hai nhà văn có một liên hệ quá mật thiết mà người này lại không biết người kia đang viết gì về mình. Trong cuốn Văn học Miền Nam-Ký, Võ Phiến đã công khai bầy tỏ sự mật thiết ấy như sau:

 

          -"Giữa tôi và Điều, không có liên hệ máu mủ, ruột thịt, sở dĩ chúng tôi biết nhau và thương nhau như ngày nay, ấy chỉ nhờ viết lách chữ nghĩa..." (Võ Phiến, sđd, trang 1942, Nhà Xuất bản Văn Nghệ, 1999, Hoa Kỳ)

 

          Trong cuốn Văn học Miền Nam- Truyện, Võ Phiến giải thích tại sao gọi Lê Tất Điều chỉ bằng tên "Điều" trong một chú thích cuối trang 824:

 

          "- Các nhà văn nhà thơ nói đến trong sách này đều được xưng là ông hay bà. Tuy vậy, đối với một ít vị mà tác giả có quan hệ tình cảm thân thiết đã lâu, tiếng ông bà nghe có vẻ vờ vĩnh giả tạo. Vậy xin được giữ cách xưng hô riêng vẫn dùng từ trước". [Võ Phiến, sđd]

         

Rõ ràng hơn, chính Võ Phiến công nhận như sau qua một bài viết của Hồ Trường An:

 

          -" [...] Cũng trong bức thư đề ngày 20.10.87, ông Võ Phiến viết cho tôi như sau: 'Lê Tất Điều gần gũi tôi nhiều nhất, nên để Điều viết về 'con người' về lối sống thường nhật, tính tình, sự ăn ở với bè bạn của tôi...” [Hồ Trường An, "Chuyện phiếm về nhà văn Võ Phiến", Làng Văn, Số 43, Tháng 3. 1988]

 

          Theo tôi, một nhà văn đàn ông bắt buộc phải bầy tỏ thái độ trước những lời đê hạ dành cho một phụ nữ cầm bút khi mình chính là nguyên nhân, nhất là khi tác giả những lời đê hạ đó lại là người "gần gũi, thương nhau" với mình. Nếu không, độc giả lại bảo "Nồi nào úp vung nấy " thì có phải ...bẹp cả nồi lẫn vung không?! Thế nên, sự không lên tiếng của Võ Phiến về loạt bài sẽ trích dẫn có thể cho thấy đây không phải lần đầu tiên ông tỏ thái độ khinh miệt nữ giới. Sở dĩ tôi xin chị cho đăng, vì không có bằng chứng cụ thể, có lẽ chị và cả độc giả nữa sẽ không thể có nhận xét công bằng cho cả họ và tôi.

 

          Tôi bắt đầu trưng một số thí dụ điển hình tiếp theo, từ cây bút KP Lê Tất Điều với một ngôn ngữ hết sức nhơn-nhơn-đểu -cáng khi công kích "Tạp bút không phải là Phê bình Văn học" nhắm bênh vực Võ Phiến, vu cáo, hăm dọa bằng võ lực, đả phá hoạt động của tôi trong Văn bút Việt Nam Hải Ngoại, đàm tiếu về gia cảnh rồi sỉ nhục cả mấy người bạn hoặc đàn ông hoặc hoạt động với tôi trong TT Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại như Hà Huyền Chi, Đỗ Tiến Đức và Viên Linh. Trong những thí dụ đó, chị cũng có thể thấy rõ ràng KP Lê Tất Điều không chỉ tấn công riêng tôi mà còn phỉ báng chung giới phụ nữ:

 

          -" Suốt mấy triều đại, cô đều là quan Trưởng Ủy Ban Phụ nữ (Mẹ kiếp! Hội Văn Bút mà lại có Ủy Ban Phụ Nữ [..] Mà có Ủy Ban Phụ Nữ sao lại không có [...] Ủy Ban Ghế Tơ..." (KP Lê Tất Điều, ngày 3 tháng 12. 1999, trang 118)

 

            -"[…] Cô nhớ trữ sẵn một bộ răng giả ở nhà, để lúc về có cái mà nhai cơm [...] giảng nghĩa chữ ‘chơi hoa’ rồi sỉ vả ổng một trận về cái tội không phân biệt được chuyện ‘chơi cô Cúc’ với chuyện ‘chơi hoa Cúc’... Rồi Nguyễn Đình Thiều viết tiếp (tôi không nhớ nguyên văn): 'May thay, năm 18 tuổi, anh bạn tự nhiên chán trò chơi đàn vô vị đó và bắt đầu mê chơi một thứ đàn khác: đàn bà'..."  [KP Lê Tất Điều, "Chơi chữ",  ngày 4. 2. 2000, sđd]

 

          --"Trong lá thư ngỏ đầu tiên gửi cổ, tôi có dùng mấy chữ: ‘Mẹ kiếp’  ‘Ghế tơ v.v...; liền bị cô ấy chê ngay là dùng chữ thấp hèn...." ([KP Lê Tất Điều, "Thư ta gửi bạn", đăng ngày 21.4.2000- trang 38]

 

           -"[...] Trong một bài trước, tôi có viết: cô Cúc làm tốt ‘CÔNG VIỆC THỔI’ thi sĩ Viên Linh [...] cổ buồn buồn, lôi chữ “công việc thổi" ra giảng, lại tra tự điển của LARRY FLYNT (do HUSTLER v... PENTHOUSE ấn hành) để dậy KP về nguồn gốc và ý nghĩa của “công việc thổi” thì thật... chết cả đám! Cô Cúc. Cô chịu khó đọc kỹ đọan -trên đây nhé ... Để biết các bậc cha chú, các đàn anh của cô... khi cần vẫn có thể chơi chữ để chơi cô nhiều kiểu mê ly, rùng rợn, bậc nào! (Hê! ông Bồ Hòn! Đứng lại! Tôi nói ‘chơi’ cô Cúc là nói ‘chơi’ thôi, ai bắt ông ‘chơi’ thiệt mà ông đùng đùng bỏ chạy...." [KP Lê Tất Điều, "Chơi chữ", bài đã dẫn]

 

            -"[…] Và, mụ Tà Cúc (xin các cô đả tự viên đánh máy cẩn thận dùm, đừng đánh lộn Tà Cúc thành Tà Cứt, lại sinh rắc rối) ...Monica đấy, ... nhưng nhờ thổi president ... Còn mụ nhan sắc thuộc loại: Vô Diệm mất vía, Dạ Xoa giật mình, không lẽ lại chịu thua Monica. Mà thổi Viên prsident -cũng là president- không thôi thì đâu có người biết.  Gặp tui là xong ngay: ... Còn không mở mắt, thì cứ ‘ấy’ vào mồm nó mấy cái cho nó gẫy mẹ nó hết răng, ...]  Ây đừng nhe, Lão Huynh mà nghe thằng cha Thô Bỉ Học "ấy" như thế, lỡ bị mụ thần nanh đỏ mỏ nó truyền nọc độc, hay bị nhiễm trùng đường tiểu thì chết...."[Lê Trí Thâm-- Đăng trong mục do KP Lê Tất Điều phụ trách--"Vừa uống vừa xem", đăng ngày 23.6.2000, -Số 726, trang 44. Lê Trí Thâm là ai? Tôi không biết, chỉ biết người này cùng họ Lê với Lê Tất Điều]

 

            -"[…] Trong lá thư ngỏ đầu tiên gửi cổ, tôi có dùng mấy chữ: ‘Mẹ kiếp’  ‘Ghế tơ v.v...; liền bị cô ấy chê ngay là dùng chữ thấp hèn. Cả đến chữ “sướng” cũng bị cô Cúc cấm. Mà đấy là mình nói ông Viên Linh ‘sướng, mất sướng’ chứ nếu mình nói người khác “sướng" thì thật chết với cô Cúc. Con người thanh tao, "dị ứng" với văn chương thô tục ấy bây giờ lại [...]  đi ra tiệm cóp py rất tốn kém, lại xén tí tiền quà của các cháu để mua tem cò gửi những bài ấy đi khắp bốn phương trời ..." [KP Lê Tất Điều, "Thư ta gửi bạn", ngày 21.4.2000- trang 38]

 

          -"Có phải bây giờ Đỗ Tiến Đức đã thình lình hóa ra đê tiện, vô liêm sỉ [...] chăng? [...] Mai mốt KP sẽ viết một bài dài [...] đưa tiễn chàng Kinh Kha Đỗ tiến Đức uy nghi, lẫm liệt cắp đít sang Tà, gia nhập đoàn quân Cóc Nhái của quan Trưởng Nữ. Thành thực chúc tráng sĩ Đỗ tiến Đức sẽ phục vụ đắc lực dưới trướng em Tà Cúc, sẽ lập nhiều chiến công hiển hách, sẽ được em ân thưởng vài quả “jouir sur les mots'" [KP  Lê Tất Điều, Số 716, trang 98, ngày 14. 4.2000]

 

            -[…] Cậu lại cứ núp sau cái mini-jupe ngắn cũn cỡn của chị Tà Cúc...."  [Đăng trong mục do KP Lê Tất Điều phụ trách, ký tên "Kiều Phong giả của Kiều Phong dổm", đăng ngày 28.4.2000- trang 38]

 

            -[…] Viên Linh núp sau cái mini-jupe ngắn cũn cỡn của em Tà Cúc, phụ với ĐVN và một lũ cóc nhái, chửi rủa KP ồn ào lắm..." [KP Lê Tất Điều, "Ần mật", đăng ngày 14.4.2000- trang 97]

 

            -[…] Nghĩa là cô Tà Cúc quyết liệt, ‘…vục đầu liếm đệm, liếm giường, tầng trên, tầng dưới...cho sạch như chùi mọi dấu vết của đêm’ … Thưa ông Chủ nhiệm Viên Linh… Theo nhà thơ Nguyễn chí Thiện thì bồi bút Cộng sản nhờ "đôi kính đỏ lọc lừa " mà sau khi thè lưỡi liếm đệm, liếm giường ...vẫn không bị " nôn bừa ra khách sạn ". Còn cô Tà Cúc, … thì nhờ món gì để ngăn chận cái vụ "nôn bừa"...? [KP Lê Tất Điều, "Mừng hụt", sđd]

 

            -"[...] Theo lời vị này thì cô Cúc cũng không được dư giả. Ðông con, … gây khó khăn tài chính cho cô không ít. Trong hoàn cảnh ấy mà cô vẫn sẵn sàng hy sinh nhiều giờ, nhiều ngày đáng lẽ dùng để săn sóc con cái, … đồng thời ca tụng Viên Linh! Viết xong, lại xén bớt tiền quà của các cháu để in ấn, trả bưu phí gửi những bài văn trác tuyệt đó đi khắp bốn phương trời!  [KP Lê Tất Điều, "Mừng hụt", sđd]

 

          -"[…] Ngoài địa hạt văn chương, lời khen chê lại cần hưởng một chế độ khoan hồng. Chẳng hạn, hẳn có nhiều lần trong đời, cô gặp những khách hào hoa khen cô ‘trẻ đẹp’. Nếu lúc ấy có kẻ chỉ mặt họ mà dọa: ‘Này, các anh khen thế, có đứa tiểu tâm rình chờ năm, mười năm nữa, gặp cô Tà Cúc ngoài đường, cười ré lên, rồi mắng các anh là lũ khôi hài, thì các anh đỡ làm sao" Khách hào hoa sẽ teo hết. Và, giải pháp hay nhất cho họ là, ngay sau khi khen, họ xòe ra trình cô một tờ ‘bảo đảm’ có ghi rõ: ‘Lời khen trẻ đẹp của tôi chỉ có giá trị một năm, hoặc mười ngàn miles, which ever comes first.’ Quá một năm, hoặc sau khi cô Cúc đã chạy đủ mười ngàn "mai", thời hạn bảo đảm hết hiệu lực, họ không còn chịu trách nhiệm nữa. Những khách hào hoa ấy, làm khó họ mà chi. Bị làm khó, họ còn chữ nào để khen cô nữa? Khen ‘đẹp’ sợ bị cô lôi cổ ra tòa kiện sặc gạch về cái tội...vu cáo trắng trợn. Khen ‘trẻ’ thì ôi thôi, cái khôi hài ‘xồng xộc nó thì theo sau’..." [K P Lê Tất Điều, ngày 3 tháng 12. 1999, trang 118 ]

 

          17 năm sau, KP Lê Tất Điều vẫn giữ thói viết lách đó. Đây là một thí dụ nữa, đăng trên mạng Sáng Tạo, ngày 28. 10 .2016:

 

          -"[...] Ông Viên Linh có tài tổ chức, nhiều sáng kiến lạ nên thời ông làm chủ tịch, VBVNHN coi bộ hoành tráng nhất, trông xôm tụ như một triều đình. Nhiều quan chức lắm! Cô Tà Cúc cũng được cho làm Quan Lớn Văn Bút. Nhớ mang máng hình như cô được thụ phong chức Trưởng Ủy Ban Phụ nữ. Chả hiểu sao mà hội văn bút lại có một ban đặc trách chuyện quý bà, quý cô, mà tên ủy ban cũng mù mờ, lửng lơ, khó hiểu...." (KP Lê Tất Điều, https://sangtao.org/2016/10/28/vien-linh-mot-nhan-cach-la-lung/ )

 

          Một người không theo dõi và không biết rõ sự thành lập của Trung Tâm Văn Bút Việt Lưu Vong (sau đổi thành TT Văn Bút Việt Nam Hải ngoại) và Văn Bút Quốc tế thì không thể nào biết được bài này có rất nhiều tin tức cần xét lại. Tại đây, tôi chỉ phân tích câu trên về tài bịa đặt qua "trí nhớ mang máng" và khả năng xuyên tạc thượng thừa của KP Lê Tất Điều. Kể ra cũng khá lắm đấy khi dẫn dắt người đọc của Mạng Sáng Tạo, www.sangtao.org từ "sáng kiến lạ" của Chủ tịch Viên Linh đến "Quan Lớn Văn bút " Nguyễn Tà Cúc. Nhưng nhiệm vụ Trưởng Ủy ban Nhà văn Nữ lại không phải là "sáng kiến của triều đình Viên Linh" mà là "sáng kiến của triều đình" Văn bút Quốc tế đấy, bớ ông ...thậm tối kiến Kiều Phong giả mạo ôi! (Kiều Phong thiệt mà biết được thì không tránh khỏi một chưởng phế vỏ công Kiều Phong giả mạo.)

 

          Kiều Phong giả mạo chỉ cần vài giây "google" sẽ tìm ra ngay tiểu sử và hoạt động của "The Women Writers’ Committee" thuộc PEN Intenational. Chính vì thế, Văn bút Việt Nam Hải Ngoại sau này mới có  "Ủy ban Nhà văn Nữ". Tôi đảm nhiệm phần vụ "Trưởng Ủy Ban Nhà văn Nữ".  Tại sao một Hội Văn Bút lại không thể có một Ủy ban dành riêng cho nhà văn nữ? KP Lê Tất Điều thiếu hiểu biết đến nỗi đó hay phỉ báng phụ nữ cầm bút khi cố tình gán cho nó một cái tên sai để nêu thắc mắc? Nhất là khi KP Lê Tất Điều có thời là chức sắc của Trung Tâm VBVNHN nếu tôi không nhầm? Hy vọng đoạn dưới đây trích trong Mạng Văn bút Quốc tế, phần "Ủy ban Nhà Văn Nữ" sẽ không những tăng thêm kiến thức, luyện thêm trí nhớ của ông  Lê Tất Điều mà quan trọng hơn, còn giúp ông--một nhà văn chưa bao giờ vào tù một ngày-- kính trọng hơn các nhà văn nữ, nhất là những nhà văn nữ tranh đấu cho quyền tự do phát biểu, kể cả lời phát biểu sàm báng của ông, đang bị bắt bớ cầm tù:

 

          -"The Women Writers’ Committee was set up in 1991 to promote certain issues faced by women writers around the world – challenges at family and national levels such as unequal education, unequal access to resources and actual prohibition from writing. The committee reaches out to both aspiring and practising women writers through PEN Centres and other organisations and networks, and works with the Writers in Prison Committee on behalf of incarcerated or endangered women writers...." (http://www.pen-international.org/who-we-are/women-writers/ )

          Trong Hồ sơ Ủy Ban Văn nghệ sĩ -Bị cầm tù mà tôi là người lưu giữ (vì từng thay thế tạm thời người tiền nhiệm nhà văn Trần Tam Tiệp), Văn bút Việt Nam Hải ngoại đã tranh đấu cho văn nghệ sĩ Miền Nam, trong số có nhà thơ Lý Thụy Ý. Bà nổi tiếng với bài thơ "Lính mà em" (1967). Hồi đó, tôi còn nhỏ nhưng vẫn nghe Hùng Cường hát bài này do Y Vân phổ nhạc.  Không hiểu tại sao ông Trung Úy KP Lê Tất Điều lại không nhớ có ...nhà văn phụ nữ được nhỉ?

Danh tính nhà thơ Lý Thụy Ý xuất hiện tại trang 32, trích trong một "Danh sách Văn nghệ sĩ Miền Nam -Bị cầm tù" -Tài liệu của Nguyễn Tà Cúc

          Một người mà trước khi viết không cần tìm hiểu nguồn cơn sự việc của một chi tiết tầm thường đến thế thì bất cứ cái gì anh ta viết ra có còn tin được chăng? Hay, thật ra, anh ta chỉ "giả mù sa mưa" để có cớ phỉ báng phụ nữ viết văn làm thơ?  Trở lại thời gian đó, trước khi đăng loạt bài của KP Lê Tất Điều, tờ báo lá cải này còn đăng nhiều bài khác, của mấy người khác với sự vu khống tương tự. Đây là mấy thí dụ điển hình để chị và độc giả biết những "tác giả" nào đã xuất hiện và viết lách ra sao với KP Lê Tất Điều:

 

           -" [...] Kêu gọi bà nên có trách nhiệm với 3 đứa con nhỏ tuổi 14, 9 và 6, tối nào cũng mong mẹ vì ...  bà Cúc có một khoản tiền lớn và thường ăn mặc đẹp đến trụ sở Văn Bút 'sinh hoạt' với ông Viên Linh mãi hai, ba giờ sáng mới mò về để con nheo nhóc không có thức ăn ..." [K.N, Đã đăng trên tờ báo thượng dẫn, khoảng năm 1996] 

 

            -" [...] Chỉ hy vọng người chi địa để mướn hotel không phải là "văn hữu" Nguyễn Tà Cúc, một người đàn bà mới ly dị nuôi bốn đứa con còn nhỏ dại ... không thông cảm nổi với tính thần phục vụ văn nghệ tối đa của bà ... Đó là lý do mà ... tôi hy vọng quý "văn hữu” nên hùn tiền để trang trải chi phí đừng để "văn hữu” Nguyễn Tà Cúc phải chi tất cả như từ trước đến nay thì thật là tội nghiệp cho các con của bà...." [Đã đăng trên tờ báo thượng dẫn, khoảng năm 1996]  

 

            -"[...] Do đó,… tôi xin quý “văn hữu" cuối tuần này nên đề cao cảnh giác. Nghe nói cả hai hội báo chí, Hiệp Hội Báo Chí của Duy Sinh và Hôi Ký Giả của Du Miên đều có mặt, lại thêm vài đài truyền hình. Không nghe UB Tổ Chức Bầu Cử cho biết có phải mặc đồ đại lễ? Nhất là đàn bà Mini-dzíp là chắc ăn vì chủ tịch không nỡ đuổi. Theo "gương ăn mặc” của nhà văn nữ Nguyễn tà Cúc là ăn chắc..." [Đã đăng trên tờ báo thượng dẫn, khoảng năm 1996] 

 

          Bởi thế, vì những vấn đề pháp lý liên quan đến cuộc ly dị, cô con gái thứ 2, mới hơn 14 tuổi, phải viết một bức thư bằng Anh ngữ --sau khi người em trai tôi tốn công sức dịch cho cháu nghe về các bài báo này--cảnh cáo chủ nhiệm/chủ bút/tác giả về việc vu cáo gia đình tôi. Tôi không bao giờ dám hỏi quyết định của cháu trở thành luật sư kiêm một người cầm bút chuyên nghiệp, có phải bắt nguồn từ những kinh nghiệm ấy không; nhưng bây giờ nghĩ lại, tôi còn rơi nước mắt vì thương con. Một cô nhỏ 14 tuổi mà phải nghe những lời đê hạ hay những lời bịa đặt cốt sỉ nhục người mẹ? Tôi càng thương con hơn vì cháu hẳn phải lo lắng bội phần khi biết rõ những gì tôi đang chịu đựng và đối phó. Khi viết những dòng này, tôi vẫn không muốn nghĩ lại những gì con tôi phải trải qua khi thảo 2 bức thư đó. May mắn là cô con gái tôi, xem ra, không bị ảnh hưởng gì mà còn dặn tôi (có lẽ theo thói quen của một luật sư)  giữ lại mọi chứng cớ phỉ báng, kể cả 2 lá thư phản bác con tôi đã viết. Đó là lý do tại sao tôi có thể trích dẫn đầy đủ như chị đã thấy. Lúc ấy, gia đình mẹ con tôi-- với một người mẹ phải làm quá nhiều giờ để kiếm sống cùng  mấy đứa trẻ vị thành niên đang bị chấn động vì cuộc ly dị-- thật như một đàn cừu bị vây khổn bằng một bầy lang sói.

 

          Nhưng tôi đã quyết đương đầu, trước hết là để bảo vệ các con tôi, sau nữa là để cho anh em nhà họ Võ biết họ sẽ không bao giờ còn có thể bôi nhọ một phụ nữ khác. Võ Phiến sẽ không thể nhân danh ngành phê bình và Văn học Miền Nam để tấn công Nguyễn Thị Hoàng một cách rất phi văn nghệ. Ông càng sẽ không thể chạy thoát trách nhiệm của ông trong việc tấn công Nguyễn Tà Cúc.

 

3.     Khi phụ nữ làm việc chung (và con trẻ) bị tấn công

 

          Từ việc tôi bị tấn công một cách đê hạ, nhân đây, tôi cũng muốn có vài lời tâm sự với chị và với bất cứ độc giả nào có dịp đọc cuộc phỏng vấn này. Những thí dụ thượng dẫn cho thấy chúng ta khó thể không cảnh giác trước những môn phái Ngây thơ vô số tội, môn phái Le & La và môn phái giả danh trăm họ quây quần quanh 2 môn phái trên. Những môn phái này đã nhân danh ngành Phê Bình, đã nhân danh Cộng đồng Tỵ nạn, đã nhân danh Trăm họ chính thống và nhân danh Văn học Miền Nam để tàn hại người khác. Nhất là những phụ nữ cầm bút. Chị cứ tưởng tượng mấy loạt bài phỉ báng và xúc phạm gia đình tôi đã kéo dài trên tờ báo chợ ấy, trong nhiều  năm, trên toàn thể Hoa Kỳ lan sang Canada? Một người yếu bóng vía hoặc phẫn nộ vì không chống lại được sẽ không có cách nào khác là bỏ đi. Nhưng tôi không thể bỏ đi.

 

          Trường hợp tôi còn tệ hại hơn khi chính các con cũng đã bị đe dọa bằng võ lực vì hai nhiệm vụ Trưởng Ủy Ban Nhà Văn Nữ và Trưởng Ủy Ban Nhà văn -Bị cầm tù trong Văn Bút mà tôi không thể bỏ đi ấy. Trong thời gian đó, ngoài tôi, nhiều anh chị em bị kẻ vô danh gọi điện thoại tới không ngừng, nhất là về ban đêm, quấy rối cả gia đình họ. Đây là một thứ khủng bố nhắm chúng tôi phải bỏ cuộc. Mai Thảo kể lại với Viên Linh ông bị đánh thức dậy để nghe những câu chửi thề nhiều đêm liên tiếp. Phần tôi, tôi phải thay số điện thoại nhưng rồi cũng bị tìm ra. Một ngày kia, khi tôi vừa đi làm về, cô nhỏ 14 tuổi thuật lại rằng, "Một gã đàn ông điện thoại chửi thề và dọa sẽ cho nổ tung nhà mình lên nếu Má còn làm Văn Bút." Tôi hỏi, "Rồi con nói sao?" Con tôi cười, "Ồ, Mình đang sống ở Mỹ mà. Con nói với hắn rằng  hắn là thứ hèn nhát, chỉ giỏi dọa con nít và nếu có gan thì cứ nói nhiều đi, con sẽ gọi cảnh sát; họ sẽ truy được cho hắn ở tù rục xương."  Đúng đấy, trong khi ông Kiều Phong giả mạo sáng tác toàn "Le" và "La" thì có những đứa trẻ dám hỗ trợ cho bố mẹ làm việc chung. Thế mới oái oăm chứ. Chị có thể không tin nhưng con cái một người khác đã rơi vào trường hợp tương tự. Lần này nạn nhân là 2 đứa trẻ 7 và 10 tuổi. Chúng ta hãy nghe anh Hải Triều (Canada) cho biết chi tiết trong cuốn Vũng lầy Văn Báo Hải ngoại:

 

          -" Chuyện tôi bị gọi điện thoại phá rối hay hăm dọa trở thành gần như quen thuộc trong đời sống hàng ngày, nhưng có hôm tôi phải gọi cảnh sát qua 911 đến tận nhà, vì kẻ lạ mặt đã gọi điện thoại vào ban ngày, gặp con tôi bắt máy khi tôi vừa ra khỏi nhà. Khi trở về, tôi gõ cửa, nó không mở, nhìn qua cửa sổ, thấy hai con, hai anh em, đứa 10 tuổi, đứa 7 tuổi ôm nhau trốn trong một góc nhà, run rẩy, sợ sệt. Tôi hoảng hồn lên tiếng gọi con, thằng nhóc lớn 10 tuổi mừng rỡ phóng ra mở cửa ôm chầm lấy tôi, đứa con gái 7 tuổi nhào theo ôm chân bố. Tôi hỏi:

 

- Chuyện gì mà con sợ? Thằng lớn trả lời: - Có ông nào đó nói sẽ đem súng lại bắn ba! - Ông ta nói tiếng Bắc hay tiếng Nam? - Ống nói tiếng Việt Nam! Con nghe được. Ống đòi bắn ba. Con đâu biết tiếng Bắc, tiếng Nam là gì? [...] Tôi ôm hai con vào lòng. Tôi thấy hai đứa nhỏ còn sợ, con bé 7 tuổi còn run[...]  Tôi quyết định gọi gọi cảnh sát, không phải vì tôi sợ, mà vì muốn cho con tôi có được cái cảm giác là chúng nó và bố nó được cảnh sát bảo vệ ngon lành [...]  Chuyện hăm dọa được làm biên bản. Hai người cảnh sát chào tôi, xoa đầu thằng bé và nói “everything's OK!” với nó trước khi ra xe. [...] Tôi dắt hai đứa nhỏ đi Mac Donald, trấn an con và coi như không có chuyện gì xấy ra cho con nó khỏi sợ. Nhưng tôi rất giận. Gọi điện thoại nói chuyện với con nít, dọa giết cho cha mẹ nó là một tội ác về mặt pháp luật, về mặt đạo lý, về mặt con người [...] Kể ra, phải nói kẻ lạ mặt gọi phone là một tên táng tận lương tâm. Tôi coi đây là bọn khủng bố tinh thần con tôi [...] Đây là điều tôi không bao giờ quên, không bao giờ tha thứ được!..." (Hải Triều, sđd, trang 94-95, Canada)

         

          Với tôi, do đó, cuộc can qua này không còn chỉ tuyền về Văn học Miền Nam hay chỉ về tôi. Thứ nhất, đây là một thứ khủng bố sử dụng báo lá cải để tải đi khắp nơi nhắm triệt hạ thanh danh và hoạt động của người khác trong khi chính họ chưa chứng tỏ đã làm gì được cho cộng đồng văn chương và tỵ nạn. Thứ hai, đây còn là một trận can qua với một mục đích rõ ràng:  Tôi sẽ chứng tỏ nữ giới có khả năng bút chiến, nhất là với các anh nhà văn cà mèng, để nếu cần, không những tự vê [ và “uýnh” lại cho “tơi tả”] mà mà còn sẵn sàng bênh vực các nữ đồng nghiệp khác hầu chống lại một hệ thống đàn ông thiếu tiến bộ. Hơn thế nữa, tôi không cần đưa Khởi Hành (hay Viên Linh) vào. Tôi đặt niềm tin vào tôi, anh chị em làm việc chung và công luận.

 

          18 năm sau, nhìn lại cuộc can qua, tôi hết sức tiếc cho Võ Phiến, một trong những nhà văn quan trọng của Miền Nam. Tôi (và Khởi Hành) từng có mặt tại Pháp đình Houston, Texas, vì một bài điểm sách của tôi. Luật sư Hoàng Duy Hùng, bản thân cũng là một tác giả, đứng ra biện hộ không công. Nhờ sự biện hộ hữu hiệu của ông mà Tòa Houston hủy vụ kiện đó. Ông có nói một câu mà tôi nhớ mãi: "Chúng ta không thể bắt chước người Cộng sản. Người Cộng sản sử dụng võ lực để kiểm duyệt hòng triệt tiêu quyền tự do phát biểu và tư tưởng. Chúng ta không thể sử dụng khả năng về Luật hay về tiền bạc để kiểm duyệt mong ngăn chặn quyền phát biểu." Bởi vậy, không một tác gia nào sử dụng lối đánh biển người bằng báo lá cải-- và lối viết mà Nam kỳ chúng tôi gọi là nhơn- nhơn- đểu- cáng ngập ngụa những Le & La-- lại thoát được búa rìu của công luận.

 

          Sau cùng, tôi cũng hy vọng các "tác giả" thuộc môn phái Le & La đã học được một bài học từ tôi, rằng phụ nữ ngày nay không phải...đồ chơi để các anh trong môn phái Le & La giỡn mặt. Các anh có quyền đối xử như thế với nhà-của-các-anh nhưng phải biết kính trọng phụ nữ, nhất là ...bà nội, bà ngoại, mẹ ruột, mẹ vợ hay chị em của các anh; hay phụ nữ tại những nơi hội -hè -đình-đám tại tư gia những nhà-của-bạn-của -các-anh. Nhất là tại tư gia ... bà Võ Phiến với những cuộc họp mặt có toàn tao nhân mặc khách kiểu Trùng Dương, Trần Mộng Tú. Hãy đề cao cảnh giác nhé: Phát ngôn oang oang múa gậy vườn hoang lạng quạng lờ quờ cái kiểu "ấy’ vào mồm nó mấy cái cho nó gẫy mẹ nó hết răng"; với "nhiễm trùng đường tiểu"; với "chơi"; với " "Nguyễn Đình Thiều viết tiếp (tôi không nhớ nguyên văn): 'May thay, năm 18 tuổi, anh bạn tự nhiên chán trò chơi đàn vô vị đó và bắt đầu mê chơi một thứ đàn khác: đàn bà'"; với "thổi"; với ‘Mẹ kiếp"  với "Ghế tơ"; với "chơi thật"; với nhan sắc "Vô Diệm mất vía, Dạ Xoa giật mình" "mười ngàn miles" thì có ngày "chết với (các) bà"! Những cái xe "mười ngàn miles" trùng trùng điệp điệp ấy cộng lại  mà truy đuổi cỡ xe đạp 3 bánh dành cho nhi đồng Lê Tất Điều đang tập đánh vần Le & La thì  thật chỉ có mà thác sớm.

 

 


2- Lê Thị Huệ: Miễn bàn về văn chương Võ Phiến tại đây, nhưng về kinh nghiệm giao tiếp với nhà văn Võ Phiến, tôi thấy ông đối xử với tôi rất trân trọng, và quý mến. Tôi gửi một chuyện ngắn đầu tay, chuyện “Cánh Hoa Trước Gió” đến tạp chí Văn Học (Nghệ Thuật) do nhà văn Võ Phiến và nhà văn Lê Tất Điều chủ biên năm 1979. Ông Võ Phiến nồng nhiệt giới thiệu chuyện ngắn ấy của tôi ngay sau bìa báo Văn Học (Nghệ Thuật): “Tác phẩm đầu tay của một cây bút phụ nữ làm ngạc nhiên văn giới”. Một lời giới thiệu tôi nghĩ rất trân trọng với một cô gái chưa viết văn bao giờ. Một năm sau, hai vợ chồng Võ Phiến lên San Jose, ở nhà ông nhà xuất bản Trí Đăng và viết thư mời tôi lại để gặp. Tôi đã đến gặp hai ông bà. Tôi đã thưa “Bác” xưng “Cháu” với ông từ những bức thư đầu tiên. Tôi thấy ông vui vẻ vì lối thưa gửi của tôi. Tôi chưa hề nghe ông khuyên bảo câu: “Văn Nghệ là luôn xưng “anh” và “em”, một thói quen mà tôi nghe nhiều người kể lại và tôi cũng chứng kiến nhiều cô gái trẻ phải kêu đàn anh văn nghệ già là “anh” như thế. Còn tôi thì miễn đi. Ông nào già đáng bậc bác chú, là tôi thưa chú thưa bác từ đầu!  Vào một dịp sau khi nhà văn Võ Phiến mổ tim, Mr. Nguyễn Hữu Nghĩa chủ biên tờ Làng Văn ở Canada làm số đặc biệt về Võ Phiến, có gửi thư cho tôi nhờ tôi viết một bài về Võ Phiến. Mr. Nguyễn Hữu Nghĩa giải thích vì có hỏi ông Võ Phiến muốn ai viết về ông, ông nói muốn 3 người, họa sĩ Võ Đình, nhà văn Hồ Trường An, và Lê Thị Huệ. Tôi nghe ông chủ bút Làng Văn giải thích thế thì nghe thế (tôi không nghe trực tiếp từ nhà văn Võ Phiến). Nhưng tôi đã từ chối không viết bài về Võ Phiến cho số đặc biệt ấy của Làng Văn Canada- Nguyễn Hữu Nghĩa. Sau khi nhà văn Võ Phiến lành bịnh, sinh hoạt sung sức tiếp tục một thời gian, ông vẫn vui vẻ liên lạc với tôi mà không hế mắng “yêu” là tại sao tôi đã không viết bài cho ông.  Trong kinh nghiệm làm việc với nhà văn Võ Phiến tôi thấy ông rất biết "lấy lòng" các nhà văn nữ trẻ. Nếu không muốn nói là ông rất khôn khéo và bặt thiệp trong mối giao tế với tất cả mọi người, ở vai trò môt chủ bút và vai trò một nhà văn rất nổi tiếng. Được biết thời ông làm tờ Bách Khoa ông là người có nỗ lực "nâng" một số nhà văn nữ lên, như Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng, Trùng Dương, Nguyễn Thị Thụy Vũ ... Dĩ nhiên, thái độ giao tiếp của những người đàn ông với phụ nữ trong đời thường, không lấy gì bảo đảm là họ không kỳ thị phụ nữ trong tác phẩm của họ, và ngược lại …  


 

Nguyễn Tà Cúc: Trong cuộc đối thoại với chị, có lẽ tôi thích nhất câu này vì tôi tin có nhiều độc giả cũng có cảm tưởng như chị. Tôi đã toan đề cập đến nhưng e rằng chị nghĩ tôi lạm dụng cuộc phỏng vấn nên không đi xa hơn. Nay được dịp, tôi sẽ muốn giải thích sự "tréo cẳng ngỗng" đã làm chính tôi cũng phải ngạc nhiên về sự thiếu- khôn -khéo và  kém- tâm- lý dẫn đến một cuộc can qua đã gây nhiều bất lợi cho Võ Phiến. Nếu tôi là Võ tiên sinh, tôi chỉ cần gửi một bức thư cảm ơn và hứa sẽ xem lại những  điều bị phê bình; còn nếu trả lời thì lại càng hào hứng vì tỏ ra sẵn sàng rộng lượng với đàn em-phụ-nữ-trẻ hầu dễ "lấy lòng" độc giả hơn. Thực đấy, một tay bút chiến giỏi thì thiếu gì cách ...né. Nhất là vào thời điểm ấy (năm 2000), tôi chưa được biết đến như ngày nay mà (Ngọc Hoàng) Võ Phiến lại hội đủ mấy điều kiện "thiên thời địa lợi nhân hòa" với sự tung hô vạn tuế vạn vạn tuế của các Táo như Táo Australia-Nguyễn Hưng Quốc, Táo Pháp- Đặng Tiến, Táo Hoa Kỳ-Phan Lạc Tiếp và Táo Ta (nghĩa là không phải Táo tầu)-Lê Tất Điều.

 

          Trước khi bàn thêm, tôi muốn được chia sẻ kinh nghiệm trong việc xưng hô với các nhà văn. Quả thật, tôi rất ngạc nhiên khi chị kể rằng "cũng chứng kiến nhiều cô gái trẻ phải kêu đàn anh văn nghệ già là 'anh'”. Quả thật, tất cả các nhà văn Miền Nam mà tôi quen đều lớn hơn tôi rất nhiều tuổi (chứ còn gì nữa) nhưng chưa bao giờ tôi phải xưng hô kiểu "anh/ em". Theo phép Bắc kỳ, tôi thường xưng tôi và gọi họ là ông. Quen hơn thì " anh/tôi" hoặc "anh/cô". Nếu họ cho phép thì "anh (và chị) / Tà Cúc". Trong vài trường hợp, thì mới có sự xưng "em" với họ. Trong khi đó, trừ vài trường hợp rất rất hiếm hoi, họ đều xưng "tôi", thậm chí nhiều người còn gọi tôi là "chị" dù hơn gần hai chục tuổi, theo đúng tục lệ Bắc Kỳ cổ điển. Tôi không hay trích thư riêng, nhưng xin trích dẫn mấy đoạn trong thư của họa sĩ Thái Tuấn về tục lệ Bắc Kỳ cổ điển này để càng cho thấy sự ngạc nhiên khi đọc đoạn trên của chị:

 

-" [...] Chị nhớ thêm mấy dòng giới thiệu bài viết từ năm 1960 của T. Tuấn là đủ ...( Thư Thái Tuấn, Ngày 2. Tháng 5. 2003

Đúng 4 năm sau, Thái Tuấn và tôi quen biết nhau hơn nhưng trong một lá thư đề ngày 25. tháng 5. 2007, ông vẫn giữ "tôi/chị":

 

-[...] Tôi rất thích cái lối viết thẳng thắn mà vẫn giữ được cái nét lịch sự. Vì giả dối là một điều tôi rất kỵ Những bài viết của chị [...] Cứ áo thụng lạy nhau thì chán ngắt..." [Thư Thái Tuấn]

 

            Nhưng dù ngạc nhiên như đã bầy tỏ, tôi rất tin sự chia sẻ của chị vì cũng có thể tưởng tượng được cái sự luông tuồng của vài nhà văn đàn ông lớn tuổi. Chính vì thế, tôi rất hoan nghênh thái độ của chị: "Ông nào già đáng bậc bác chú, là tôi thưa chú thưa bác từ đầu!" Khác với sự tưởng tượng của " các đàn anh văn nghệ già", phụ nữ chúng ta không phài đàn em của họ. Dĩ nhiên tôi không nói tới những trường hợp thân tình, nhưng trong những trường hợp ấy, chúng ta phải là người quyết định chứ không phải ngược lại. Tôi quả nhận thấy rằng cách xưng hô --ngay từ lần tiếp xúc đầu tiên-- rất quan trọng, vì chúng ta cho họ biết vị trí của họ một cách không thể lầm lẫn. Ngoài ra, còn là một sự "giữ lễ". Khi nói chuyện, tôi luôn luôn bắt đầu bằng "Thưa Linh mục Thanh Lãng" và ông cũng luôn luôn kêu tôi bằng tên. Giáo sư Lê Tuyên còn phép tắc hơn nữa: tôi đã từng được nghe Lê Tuyên xưng hô với Thanh Lãng "ngài/tôi". Với giáo sư Trần Ngọc Ninh--một tên tuổi lẫy lừng của Đại học Y khoa Sài gon và Văn học Miền Nam-- tôi cũng luôn luôn bắt đầu "Thưa giáo sư Trần Ngọc Ninh..." từ  bao nhiêu năm nay (như với Thanh Lãng) dù ông rất ưu ái Khởi Hành. Với Bùi Giáng, tôi rất hiếm gặp hay nói chuyện nhưng luôn luôn chào ông "nhà thơ" rồi xưng "tôi"; lần nào ông cũng cười như nắc nẻ đoạn đáp lại "đào hát". Tôi không nghĩ ông biết tên tôi, trừ Nguyệt Lãng. Tôi cũng nhân đây để chia sẻ thêm rằng tôi rất phục Bùi Giáng vì cách xưng hô của ông: Không bao giờ ông gọi tôi bằng "em", không bao giờ ông đùa cợt. Hai tiếng "đào hát" thay cho tên tôi lúc nào cũng được ông dùng với sự nghiêm chỉnh, tuy tôi biết là ông trêu. Có một lần, ông vớ quyển sách của tôi định ghi thơ vào đó, tôi giật ngay lại. Ông không giận mà còn khen" Đào hát biết giữ sách vở vậy là tốt." Như thế, chúng ta có thể đoán được rằng, các tác gia lớn đều "giữ lễ" một cách ngặt nghèo chứ không phài bạ đâu cũng anh-và-em khiến nạn nhân khó phản đối. Kính lão đắc thọ mà.

 

Sau nữa, tôi phải kêu lên, Ồ, sao ...chị - tôi lại ngây thơ đến thế nhỉ? Về cái sự chị được mời viết trong Chủ đề Võ Phiến. Không hiểu hư thực ra sao nhưng theo Hồ Trường An, Võ Phiến đề nghị 2 người này viết về ông:

 

          -"-"[...] Tuy nhiên trong lá thư tháng 10.87, tôi có viết thư hỏi ông về trận động đất Los Angeles vào đầu tháng đó, luôn tiện hỏi ông rằng trong số kỷ niệm về văn nghiệp của ông, ông muốn ai viết về ông. Ông sốt sắng trả lời: đó là anh Võ Đình và anh Lê Tất Điều. Trước đó khá lâu, ở thư gửi cho tôi đề ngày 20.2.87, ông Võ Phiến có viết về Võ Đình như sau: 'Võ Đình là hoạ sĩ, nhưng tôi cho là một tay văn chương rất cừ, tinh hết sức. Tôi ít thấy ai thưởng văn mà tinh vi và sành sỏi như tay hoạ sĩ này. Ông ta cũng sử dụng chữ nghĩa lão luyện quá lắm.' Còn về Lê Tất Điều, sự giao du giữa ông Phiến và anh Điều suốt 25 năm qua thật tốt đẹp, bền chắc [...] Khi tôi viết bài này thì tôi đã thư cho Võ Đình và Lê Tất Điều yêu cầu cả hai viết về ông Võ Phiến. Cũng trong bức thư đề ngày 20.10.87, ông Võ Phiến viết cho tôi như sau: 'Lê Tất Điều gần gũi tôi nhiều nhất, nên để Điều viết về 'con người' về lối sống thường nhật, tính tình, sự ăn ở với bè bạn của tôi... Võ Đình có thể nhận xét về nghệ thuật, vì ông ta đọc rất tinh và đã từng chọn dịch ra Anh văn mấy tác phẩm của tôi.” [Hồ Trường An, "Chuyện phiếm về nhà văn Võ Phiến", sđd, Tháng 3. 1988]

 

               Dĩ nhiên, là một nhà văn già đời, Võ Phiến không thể "mắng" chị ("yêu"  hay "không yêu") mà cứ lờ đi (lấy cớ có phải ông ấy mời chị đâu?!) để làm như không biết (hay có thể không biết thật đấy-nói cho công bằng). Nhưng về cái vụ-chủ-đề này thì  tôi có thể tin rằng luôn luôn có một sự xếp đặt rất kỹ từ Võ Phiến. Mà được "mời" viết chưa chắc đã hân hạnh đâu đấy nhé. Có nhận lời cũng phải khôn hồn, chớ có nhắc đến "trái tim thời ông còn trẻ [...] cũng có nhiều phen đập những nhịp mạnh  rất...bất thường" v v và vv. mà sau này ...chết oan trong Văn học Miền Nam-Thơ đấy! Cho nên, cái sự chị từ chối hóa ra có lẽ lại là "biết chàng biết ta, trăm trận ...không thua cả trăm". Theo tôi, chị không phải là một người dễ dàng hạ bút để "cho vừa lòng...anh". Nên cũng có thể bài của chị sẽ bị vào bảng phong thần của một nhà văn ...nhậy cảm nhất nước, khiến cho sự "trân trọng với một cô gái chưa viết văn bao giờ" của cụ Võ rồi ra sẽ "như nước trôi qua cầu/ như đàn trổi cung sầu/ chẳng còn nữa đâu/ ..." (mượn Cho vừa lòng em, Mặc Thế Nhân). Cụ Võ sẽ "giận đã ngây thơ" như đã từng "ngây thơ" với tôi và chị đã biết cái gì xẩy ra cho tôi!  Riêng cái khoản mời đến nhà thì tôi phải công nhận ông bà Võ Phiến rất hiếu khách. Ông bà nhắn tôi "Khi nào có dịp thì đến với Viên Linh." Dĩ nhiên tôi trả lời, Yên chí. Có dịp sẽ đến thăm. Một mình. Yêng hùng xa lộ. Không cần ai tháp tùng.

 

          Nay chúng ta sẽ trở lại vấn đề "tréo cẳng ngỗng" rất quan trọng qua cách cư xử của Võ Phiến với giới nhà văn nữ. Về Túy Hồng, bà đã bạch hóa trên Gió-O mối liên hệ "sao anh ở với em nhị tình" cùng Võ Phiến, bầy tỏ một sự thật từ lâu vẫn bị ám chỉ một chiều qua những bức thư tình được ông nhờ cất giữ tại tòa soạn Bách Khoa. Về Nguyễn Thị Thụy Vũ, Hồ Trường An đã thuật lại bước đầu mối giao hảo của hai chị em với ông. Về Nguyễn Thị Hoàng, tôi không rõ lắm nhưng sẽ trở lại trường hợp này sau. Về Trùng  Dương, bà đã tiết lộ truyện ngắn "Sao rụng" được Võ Phiến chọn trong vài truyện bà giao cho để chuyển đăng trên Bách Khoa đặng "ra mắt" giới văn nghệ. Như thế, tôi công nhận Võ Phiến "rất biết 'lấy lòng' các nhà văn nữ trẻ'. Nếu không muốn nói là ông rất khôn khéo và tâm lý trong việc này", như chị  đã cảm thấy. Chính ra, lúc mới quen biết tôi, Võ Phiến cũng rất lịch sự. Khi tôi viết thư, ông hồi đáp ngay. Ông đề nghị nên xưng hô "anh/ chị", không nên e dè thái quá.

 

          Nhưng, trái ngược với diện mạo của Võ Phiến trong các cuộc tiếp xúc với nhà văn nữ (như chúng ta đã có ấn tượng), không những có nhiều dấu hiệu cho thấy ông đã đứng sau một cuộc vận động để không những "đánh"-cho-kỳ-chết mà lại còn phải kiếm cách phản bác tôi. Đó mới là một việc chưa bao giờ xẩy ra với Võ Phiến, một nhà tùy bút tuy bàn đến muôn sự, nhưng luôn chọn thái độ im lặng khi cái sự ấy liên quan đến chính bản thân. Ông đã im lặng ngay cả khi người đồng hương Nguyễn Mộng Giác bạch hóa lý do khiến ông Giác trở thành chủ bút tạp chí Văn Học, hậu thân của tờ Văn Học Nghệ Thuật- Bộ Mới từng mang tên Võ Phiến và Lê Tất Điều. Trước khi Văn Học Nghệ Thuật-Bộ Mới trở thành Văn Học, một cuộc họp đã được dàn xếp tại tư gia Ngô Thế Vinh với sự tham dự của Võ Phiến. Tôi đã trình bày một phần về nội dung cuộc họp trong một bài viết trên Khởi Hành. Võ Phiến, ngược lại, không bao giờ cho biết lý do khiến Văn học Nghệ Thuật phải rời tay ông.

 

          Thái độ im lặng đó không hề làm tôi ngạc nhiên khi Võ Phiến tự chứng minh một lần nữa qua sự từ chối trả lời giáo sư John C. Schafer, tác giả cuốn Vo Phien and the Sadness of Exile về thời gian và khả năng "Chống Cộng" mà, vào năm 1998, Hoàng Nguyên Nhuận đả kích một cách kịch liệt trong bài "Văn nô không thành văn nô, làm sư cũng không hẳn ra sư” (mượn tên bài Võ Phiến phê bình nhà thơ Phạm Thiên Thư trong Văn học Miền Nam-Thơ, trang 3021-3031). Võ Phiến không bao giờ lên tiếng.  Năm năm sau, Schafer cũng đứng trước một bức tường như Hoàng Nguyên Nhuận khi Võ Phiến "tránh né/avoid" những câu hỏi tương tự:

 

          - "[...] Ông cung cấp ít chi tiết về thời gian hoạt động với kháng chiến, mối liên hệ của ông với Việt Nam Quốc dân đảng và thời gian bị Cộng sản cầm tù. Sự kiện này làm ít nhất một độc giả khó chịu.  Vào năm 2004, Hòang Nguyên Nhuận bầy tỏ rằng 'Quãng đời của Võ Phiến trong khoảng 1945-1955 nêu ra hàng trăm thắc mắc'. Khi tôi hỏi Võ Phiến, trong văn bản phỏng vấn, nhiều chi tiết hơn nữa về quãng đời này, ông tránh né các câu hỏi ấy một cách lịch sự, nài tới một trí nhớ đã kém cỏi, nhưng đồng thời cũng thể hiện một sự ngần ngại khi tưởng nhớ lại một thời gian đau đớn trong đời ông. Thí dụ như khi tôi hỏi ông về những gì ông đã dậy bộ đội Việt Minh tại trường học tại Liên khu V, ông đáp bằng cách này: 'Đã quá lâu rồi, 45 năm, gần nửa thế kỷ từ khi tôi tham dự vào việc bồi bổ cho kiến thức văn hóa của bộ đội cộng sản. Ý nghĩ và cảm tưởng của tôi lúc ấy bây giờ đã mờ nhạt, không còn chi rõ ràng. Tôi e rằng bất cứ lời bàn nào của tôi cũng không chính xác nữa. Thành ra, có lợi ích gì khi giờ đây bàn về sự khác biệt giữa tôi và họ?"' / Võ Phiến has provided few details about his time with the resistance, his relationship with the Vietnam Nationalist Party, and his time in a Việt Minh prison. This has frustrated at least one of his readers. “Accounts of Võ Phiến’s life during the period 1945-1955,” says Hoàng Nguyên Nhuận, “raise hundreds of questions” (2004). When I asked Võ Phiến in my written interview for more details about this period of his life, he politely avoided the questions, pleading a failing memory, but expressing also a reluctance to revisit a painful time of his life. For example, when I asked him about what he taught Việt Minh cadre at the People's Secondary School of Interzone V, he replied in this way: 'It's been a long time, forty-five years, almost half a century, since I participated in the work of supplementing the cultural knowledge of communist cadres. The thoughts and feelings that I had at that time have now become dim, not clear anymore. I'm afraid any comments I made wouldn't be accurate. So what's the use of commenting on our differences now?'" (John C. Schafer, Vo Phien and the Sadness of Exile-"Cuộc phỏng vấn Ngày 25. 4. 2003", trang 37; Loạt Khảo luận về Chủ đề Đông Nam Á [Monograph Series on Southeast Asia] thuộc Trung tâm Nghiên cứu về Đông Nam Á [The Center for Southeast Asian Studies], Đại học Northern Illinois University, 2006)

 

          Trên thực tế, tôi đã khám phá rằng, vào tháng 8.2002, nghĩa là chưa đầy một năm trước khi nại cớ trí nhớ kém để từ chối trả lời Schafer, Võ Phiến còn viết một lá thư dài hơn 4 trang cho họa sĩ Võ Đình, dẫn chứng rành mạch và phân tích tỉ mỉ lời bàn của nhà thơ Xuân Diệu về bài thơ Em về nhà của nhà thơ Huy Cận nhân chuyện "gà gáy" trong bài thơ thượng dẫn. Như vậy, tại sao ông phải lên tiếng sau khi loạt bài của Lê Tất Điều không giúp đỡ gì được? Câu trả lời không quá khó khăn: Thứ nhất, tôi không thuộc vào vòng sinh hoạt văn nghệ có tính cách "gia đình" của Võ Phiến với một sự ngưỡng mộ hầu như vô điều kiện; nhưng, thứ hai, quan trọng hơn, tôi đã thách đố ông công khai và không tương nhượng với tư cách một nhà phê bình, nghĩa là tư cách của một người ngang hàng, mà không với tư cách một "phụ nữ trẻ" hơn.

 

          Thứ nhất, muốn hiểu được "sinh hoạt gia đình văn nghệ" của Võ Phiến, chúng ta lại phải trở lại thời tiền-1975. Tôi có một nhận xét, có thể không chính xác, nhưng chắc chắn không trật đường rầy lắm: Võ Phiến trong tạp chí Bách Khoa có lối sinh hoạt khác với Võ Phiến trong Văn hay Khởi Hành.  Trước hết, Võ Phiến trong Bách Khoa là một thứ gia đình có những bí mật chỉ có một số ít người trong cuộc can dự. Trước 1975, tòa soạn tạp chí này được biết đến không những là một ổ xôi đậu mà còn là một ổ tơ tình vương vấn.

 

          Đó là điều do chính họa sĩ Tạ Tỵ phổ biến đấy, không phải tôi đâu, kẻo bị Oan Thị Kính. Sau 1975, Huỳnh Văn Lang tung một trái bom khi công bố trong loạt bài tôi thực hiện trên Khởi Hành --ngay khi Lê Ngộ Châu còn sống--rằng, tòa soạn số 150 Đường Phan Đình Phùng chính là ngôi nhà do ông làm chủ, sau được tặng không cho gia đình Lê Ngộ Châu, ngoài một tặng phẩm hiện kim khác! Nghĩa là nếu ca ngợi  Lê Ngộ Châu giữ được tạp chí này sống sót, như nhiều "nhà phê bình" phe ta và phe  kia vẫn làm, thì hơi quá cả tin kèm ngây thơ cụ khi trên thực tế, Lê Ngộ Châu rớt trúng ổ ...vàng. Ông đã thừa hưởng tòa soạn (nghĩa đen), công lao gây dựng của Huỳnh văn Lang và Nguiễn Ngu Í với vài người khác cộng thêm bao nhiêu quảng cáo từ thanh thế của Viện trưởng Viện Hối Đoái kiêm nhà đại tư bản Huỳnh Văn Lang.

 

          Đó là mối liên hệ giữa Lê Ngộ Châu, Võ Phiến và Vũ Hạnh, nhà văn hoạt động nằm vùng cho Cộng sản trong Bách Khoa và Trung Tâm Văn bút Việt Nam. Sau 1975, theo như tôi biết, Lê Ngộ Châu đã tiếp đón nhiều "phe kia" ngay tại tư gia kiêm tòa soạn. Nếu Tạ Tỵ và nhiều bạn văn biết rõ những lá thư "nhị tình" đó thì Vũ Hạnh phải biết. Vậy tại sao Võ Phiến lại có thời ký chung bút hiệu khác với Vũ Hạnh?

 

          Đó là bà Lê Ngộ Châu, vốn giữ phần thư ký do Huỳnh Văn Lang thu nhận vào làm việc trong tòa soạn từ đầu; cũng như đó là bà Võ Phiến, sẽ được nhắc tới trong các bài viết về "gia đình Bách Khoa" như bài của Trùng Dương. Nhà văn này--một người cho đến nay vẫn tiếp tục cúc cung tận tụy tường thuật về các buổi lễ lạc chúc thọ chúc tết Võ Phiến tại hải ngoại kèm hình ảnh đàng hoàng-- làm chứng cho cảm tưởng thượng dẫn của tôi với bài "Những kỷ niệm với Bách Khoa: Bách Khoa, nơi từ đó..." vào đầu năm 1971:

 

          -[...] Rồi nhân lúc tạm ngưng, thường là chị vừa cười vừa nói: 'Chóng thật! Mới ngày nào hồi cô mới tới chơi với chúng tôi cách đây bẩy tám năm, tôi còn nhớ cô mặc cái áo dài[...]' Song cũng chính vì vậy mà mỗi người tới Bách Khoa đều cảm thấy nơi đó có một không khí gia đình đặc biệt. Tôi viết vì cảm thấy có bổn phận, cái bổn phận của một phần tử trong gia đình, nhân ngày giỗ kỷ niệm, không thể không trở về họp mặt với một món quà để góp mặt, bù vào những ngày lo làm ăn buôn bán, ở phương xa..." [Trùng Dương, Bách Khoa, Số Xuân Nhâm Tý 361-362, 15, tháng giêng, 1972, trang 70 ]

 

          Hơn thế nữa, đoạn trích dẫn sau này, cũng của Trùng Dương, sẽ cho thấy sự tin tưởng vào quá khứ chống Cộng của Võ Phiến, một quá khứ được Võ Phiến khéo léo gieo rắc nhưng sẽ bị Hoàng Nguyên Nhuận lột trần trụi sau 1975:

 

          -  "[...] Tôi rất muốn có cơ hội tìm hiểu về nguyên nhân đã đưa đến sự thất bại của phe quốc gia vào những năm 45-54. Vì thế, sau khi đọc cuốn 'Giã Từ' của anh V.P., tôi nảy ra ý định viết thư làm quen với anh. Trong thư có một đoạn như vầy: 'Tôi thèm khát cái kinh nghiệm của các ông hồi kháng chiến.' Lá thư hồi âm của anh V.P. có một đoạn như sau (vì tôi ký tên thật và bỏ chữ “thị” mà tôi vẫn chê là yếu ở giữa đi, nên anh V.P. đã ngỡ tôi thuộc phái nam) '. . . Còn tôi, tôi lại tiếc là không còn đủ hăng say để tham dự vào thời đại  của các anh'. Chúng tôi quen nhau từ đó...." [Trùng Dương, sđd, trang70-71]

 

          Sau 1975, những cuộc họp mặt khác tái hiện tại tư gia Võ Phiến, Hoa Kỳ. Bà Võ Phiến cũng tái xuất hiện đều đặn đến nỗi nhà văn Trần Long Hồ tự...kiểm thảo trước: "Khi nói tới Võ Phiến mà không nhắc tới bà Võ Phiến thì không phải tôi bị thiếu sót, càng không phải sơ xuất, mà là một lỗi lầm nặng..." (Trần Long Hồ, Thế Kỷ 21, tháng 10.1995, trang 51).

Phan Lạc Tiếp, trong cùng số báo, trầm trồ về một bài thơ ông Võ Phiến làm cho bà Viễn Phố:

 

          -"Mê mệt nhường ấy, đắm say nhường ấy được nói lên ở cái tuổi 'cổ lai hy', phải kể là đẹp lắm, một cuộc tình đẹp quá, chứa chan ân nghĩa. Cuộc sống ấy đã tạo ra bao nhiều tác phẩm cho nền văn học Việt Nam của Võ Phiến, điều ấy bao người đã biết, đã nói, đã viết..."(Phan Lạc Tiếp, "Một viên ngọc quý của văn học miền nam Việt Nam và hải ngoại-Võ Phiến: một cây thông lúc nào cũng xanh tươi", trang 29, Thế Kỷ 21, Tháng 10, 1995)

 

          Chưa hết, sau khi công nhận Võ Phiến là "một đàn  anh vừa có tài năng về văn học, vừa có tư cách về việc tuyển chọn", ông Tiếp còn tán thán suýt xoa đến điều: "Anh như một cây thông mọc trên đỉnh núi, lúc nào cành lá cũng rất xanh tươi, lao xao tiếng gió và tỏa bóng mát rộng lớn cả một vùng. Tôi xin dừng bài viết ở đây với cả tấm lòng kính trọng." (Phan Lạc Tiếp, sđd)

 

          [Tôi đã nói nhiều lần: Không nên đề cập đến người hôn phối hay/và người yêu của một tác gia, trừ phi tối cần thiết hay có lý do chính đáng. Tôi cũng đã nói nhiều lần: Tình yêu, cũng như lòng ngưỡng mộ, nên ủ giấu trong lòng, không nên phơi ...tim cho người đàm tiếu. Ông Tiếp phạm cả 2 lỗi lầm trên. Không hiểu bây giờ nhìn lại cây- thông -xanh- tươi này, ông Tiếp có thấy cảm hoài về những cây thông khác, những cây thông trên một đồi thông của một mùa chấm thi xa lắc xa lơ nào không nhỉ?!]

 

          Tôi trích ra vài đoạn tiêu biểu để chị và độc giả thấy hình ảnh Võ Phiến (và bà Võ Phiến ) đã được gầy dựng ra sao trong đại-gia-đình ấy trước và sau 1975. Thế nên, nếu có một người bỗng đâu xuất hiện với một bài phê bình sát phạt thì Võ Phiến không thể nào chấp nhận được, dẫn đến lý do thứ hai khiến ông phải chật vật tính đường đối phó: Vốn có tiếng giới thiệu mấy nhà văn nữ quan trọng của Miền Nam vào đường văn, ông chưa bao giờ bị một phụ nữ phê bình nói chi tới phê bình với tư cách một nhà phê bình kèm đầy đủ chứng cớ. Chính sự đầy đủ chứng cớ và thái độ ngang hàng khi phê bình ấy đã buộc ông phải mở một cuộc vận động rồi tự thân phản bác (vào tháng 5. 2000 trên tờ Văn Học), dù không dám chỉ đích danh tôi. Trường hợp Võ Phiến còn phản ảnh tinh thần coi rẻ phụ nữ của ông và những người mà ông muốn vận động, mà tinh thần ấy đã được chứng minh qua những bài báo "Le & La". Ngay tại đây, tôi sẽ đề cập tới nhà văn Nguyễn Thị Hoàng, người đã bị Võ Phiến kéo đời tư lên-nhựt-trình nhân danh Văn học Miền Nam. Nếu Nguyễn Thị Hoàng không do ông giới thiệu với Bách Khoa, nhận định của Võ Phiến từ nay cần phải lưu ý như một dấu hiệu báo động về tinh thần bè đảng và tự coi như "lãnh tụ" của một gia đình văn nghệ bất khả xâm phạm.  

 

          Ở trường hợp tôi, sự im lặng của Võ Phiến về những bài "Le & La" có nhắc đến ông sẽ là một tài liệu nhắm xét đoán sự tham dự cũng như trách nhiệm trong một cuộc can qua đã ghi lại trong văn sử hải ngoại. Tên tuổi ông sẽ dính liền với một người cật ruột thuộc "gia đình văn nghệ" khi sử dụng một thứ chữ nghĩa không thể nào nhơ bẩn và đê tiện hơn dành cho một phụ nữ đã dám công khai thách đố khả năng phê bình, kiến thức về sinh hoạt văn nghệ Miền Nam và đặc biệt, thách đố huyền thoại nâng đỡ các tác gia nữ của Võ Phiến.

 

 


Lê Thị Huệ: Lối phê bình rất “tố cáo” của chị với một số nhà văn Miền Nam. Tại sao chị cần phải có một giọng “hung bạo” như thế ? Tại sao không chỉ trưng bằng chứng rồi để độc giả tự kết luận?

 

Nguyễn Tà Cúc:  Nếu đúng như nhận xét của chị, tôi coi sự "tố cáo" ấy là một việc phải làm. Như chị đã biết, tôi quan niệm một tác gia không thể đứng ngoài xã hội. Nếu cần phải tố cáo những tội ác, bất kỳ là ở lãnh vực nào, thì cũng nên làm. Nhà văn Émile Zola đã tố cáo chính phủ Pháp-- dưới quyền Tổng thống đương thời về việc bắt giam và vu khống đại úy gốc Do thái Alfred Dreyfus--bằng một bài có tên "J'Accuse...!" ("Tôi tố cáo...!"), xuất hiện trên nhật báo l'Aurore vào năm 1898. Nếu tôi nhớ không lầm, nhà khảo cứu/ngôn ngữ học Trần Ngọc Ninh cũng đã viết một bài có tên "Tôi tố cáo...!" khoảng những năm 1980 trong đó ông nêu thắc mắc về tiểu sử và sứ mạng của một nhà thơ (Miền Bắc) được phóng thích rồi rời khỏi Việt Nam.

 

          Còn "hung bạo"? Tôi không thể phản đối nhận xét của chị, của độc giả; nhưng không thể chối rằng tôi có lối viết hết sức sát phạt. Thật ra, chính vì lối viết rất sát phạt ấy mà nếu không trưng đủ bằng cớ, chắc đã... đời phê bình tàn trong ngõ hẹp! Tôi mạn phép nghĩ rằng một người phê bình phải là một người có viễn kiến bao quát được lãnh vực nghiên cứu xuyên qua các tác giả/tác phẩm liên hệ; khiến họ nhìn thấu tới một kết quả mà chưa chắc các nhà phê bình khác hay độc giả đương thời kịp nhìn thấy. Như thế, "để độc giả kết luận" là tự giới hạn khả năng sáng tạo của mình. Schopenhauer cho tôi một định nghĩa hoàn hảo: "Kẻ tài năng cũng giống như một nhà thiện xạ bắn trúng được mục tiêu mà những người  khác không thể vói tới. Người kỳ tài cũng giống như nhà thiện xạ nhưng bắn trúng được một mục tiêu quá xa mà thậm chí người khác không sao nhìn thấy được/ Talent is like the marksman who hits a target which others cannot reach; genius is like the marksman who hits a target as far as others cannot even see." Do đó, khi viết, tôi chỉ nghĩ đến viễn kiến ấy và phương cách chứng minh sao cho hoàn hảo. Tôi không nghĩ tới phản ứng của độc giả chút nào. Tôi chỉ nghĩ tới sau khi bài xuất hiện rồi độc giả góp ý kiến. Đôi khi, hãn hữu, tôi gửi bài nháp tới cho một vài bạn, có kinh nghiệm trong giới, để kiểm chứng tài liệu, vì họ là người trong cuộc nên có những sự kiện họ sẽ biết rõ hơn, nhưng tôi vẫn là người chịu trách nhiệm cuối cùng.

 

          Ngoài ra, còn một lý do rất giản dị nữa khiến tôi cần có một "kết luận" rõ ràng mà không đợi độc giả. Tôi thành thực muốn cho các tác gia ấy một cơ hội phản bác vì có phải lúc nào tôi cũng đúng được đâu. Quan trọng hơn, dù phản bác chính thức hay không chính thức, tôi sẽ có cơ hội kiểm chứng tài liệu một lần nữa cùng xác định thái độ của họ hầu dẫn đến một kết luận chung cuộc. Tôi sẽ đưa hai thí dụ để chứng minh.

 

          Thứ nhất, về Võ Phiến, tôi đã phê bình về thói sử dụng những chữ hạ tiện và thái độ khinh thường phụ nữ, nhất là phụ nữ viết văn, của Võ Phiến. Tuy không chính thức, Võ Phiến dùng một cuộc phỏng vấn trên tờ Văn Học để phản bác. Trong một câu trả lời, ông đã nói nguyên văn như sau "[...] vú bà Triệu ẩu đích thực dài đúng mấy thước" (Đăng lại trên  http://www.diendantheky.net/2012/12/vo-phien-ve-bo-van-hoc-mien-nam.html-Tôi dùng bài trên Internet để toàn dân có dịp thưởng lãm)

 

          Giời ơi là giời, thật đúng "còn ai giồng khoai đất này" nữa? Vừa bị phê bình là tấn công vào đời riêng của nữ văn sĩ vừa bị than phiền là nhà văn gì mà dùng toàn những chữ thô tục vv..." thì lại phản bác ngay bằng câu đó?! Võ Phiến dám thắc mắc công khai về (v.) Bà Triệu giữa chốn bá quan văn võ thì xá gì đến chị em chúng tôi, nhất là trong những lúc người quân tử ... ở -chỗ- vắng- người? Hay tưởng nhầm là đang- ở -chỗ -vắng -người như khi viết Bộ Văn học Miền Nam đó?

 

          Thứ hai, về KP Lê Tất Điều, tôi đã kết luận ngay từ đầu, không đủ võ công tỷ thí với ai với lối viết sỗ sàng, nhơn- nhơn -đểu- cáng ấy. Tôi xin chị và độc giả thứ lỗi khi tôi phải dùng đến chữ khiếm nhã này Nhưng đó chính là thứ võ khí được những người như cậu Điều sử dụng hòng áp đảo một nữ -đối phương. Họ hy vọng rằng chúng ta sẽ yếu bóng vía và phải đầu hàng trước. Một khi tôi không yếu bóng vía bằng cách cho phổ biến những thí dụ điển hình thượng dẫn nhan nhản, KP Lê Tất Điều coi như đã tự phế võ công. Từ nay, mỗi khi đọc hay nghe đến tên "Lê Tất Điều", có thể người ta sẽ phải liên tưởng ngay đến "Ủy ban Ghế tơ", "mê chơi một thứ đàn khác: đàn bà", "lôi chữ “công việc thổi" ra giảng, lại tra tự điển của LARRY FLYNT (do HUSTLER v... PENTHOUSE ấn hành...", " Còn cô Tà Cúc, … thì nhờ món gì để ngăn chận cái vụ "nôn bừa", "cái mini-jupe ngắn cũn cỡn của em Tà Cúc", "đừng đánh lộn Tà Cúc thành Tà Cứt" vv và vv..

 

          Viết lách hai mặt như KP Lê Tất Điều-- nhơn nhơn trên tờ lá cải đã viên tịch nhưng "lịch sự" đầy sáng tạo trên mạng (không ám chỉ Diễn đàn trên mạng Sáng Tạo-Mọi sự trùng hợp chỉ là tình cờ, ngoài ý muốn và không cố ý)-- cũng vẫn chỉ là Một- Lê Tất Điều.

 

          Hai thí dụ đó cũng giải thích thêm chủ trương "viễn kiến" mà tôi đã trình bầy. Nếu tôi không viết bài "Tạp bút không phải là Phê bình Văn học" thì chúng ta không đời nào khám phá nổi phản ứng của Võ Phiến và Lê Tất Điều.  Sau loạt bài của Lê Tất Điều trên tờ báo chợ đó, và sau khi đã viết 5 bài phản ứng, tôi không bao giờ còn phải phân vân về bất cứ điều gì do Lê Tất Điều phát biểu. Nhất là khi tôi từng giữ nhiệm vụ Trưởng Ủy ban Văn nghệ sĩ-Bị Cầm tù.

 

          Dù chỉ đảm nhận trong một thời gian ngắn ngủi, tôi cũng nhận ra được rằng, trên đời này, còn có những việc cần làm. Tôi đã cho xuất bản cuốn đầu về lược sử của Ủy Ban này. Tôi hy vọng sẽ hoàn thành cuốn thứ hai trong vài năm nữa.-

 

           

(còn tiếp 1 kỳ)

 

http://www.gio-o.com/NguyenTaCuc.html

 

 

© gio-o.com 2018