Trở Thành Một Nhà Phê Bình Văn Học

 

Nguyễn Tà Cúc

 

 

phỏng vấn bởi Lê Thị Huệ

 

 

kỳ 3

 

bấm vào đây đọc kỳ 1, kỳ 2, kỳ 3, kỳ 4, kỳ 5, kỳ 6

 

 

 


ký họa của họa sĩ Võ Đình

 

  

 

Nguyễn Tà Cúc là một cây viết nữ phiêu lưu vào phê bình văn học, gây khá nhiều đấu đá giữa chị và những tên tuổi lẫy lừng khác của văn chương Miền Nam và Văn Chương Hải Ngoại. Cuộc phỏng vấn là một cuộc đối thoại giữa hai người đàn bà tham gia sinh hoạt viết ở hải ngoại, như một cách mò mẫm tìm hiểu nhau, mà đôi khi độc giả có thể thấy ẩn bên dưới những câu chữ dao búa ấy, là một giao thông hào cố gắng đả thông hay tô màu những khác biệt bất khả kháng của một sinh hoạt viết vốn đầy cá tính. (lê thị huệ 18.02.2018)

 

Lê Thị Huệ: Chị lập gia đình ở Việt Nam? Cuộc hôn nhân ấy hình như không thành ? Các con cái chị nghe nói ngày nay thành đạt sự nghiệp ở Hoa Kỳ . Một bà mẹ đơn thân nuôi con. Chị có thể nói gì về người đàn bà đương đại với hôn nhân ngày nay ?

Nguyễn Tà Cúc: Tôi lập gia đình tại Hoa Kỳ. Gần 20 năm sau, cuộc hôn nhân này tan vỡ; lúc  ấy là lúc bốn cô con gái tôi có tuổi từ 7 tới 18. Nhắc tới hai chữ "con gái" là để cho thấy "người đàn bà đương đại với hôn nhân ngày nay" --qua bốn cô con gái tôi--rất khác với hôn nhân của chính tôi. Người đàn bà bây giờ có chủ quyền về tài chính, đồng nghĩa với chủ quyền một nửa về những gì sẽ xẩy ra giữa hai người, dù ảnh hưởng của tài chính không trở nên quá quan trọng đến nỗi làm lệch được cán cân tình yêu. Nhưng trong trường hợp bất trắc, một sự độc lập về tài chính rất có thể giúp được người đàn bà quyết định một cách dứt khoát, sớm sủa và sáng suốt, ngoài sự đương nhiên là việc nuôi nấng các con sau đó cũng đỡ cực nhọc hơn mà còn giúp các con giữ được hầu hết nếp sống bình thường, tránh khỏi hậu quả tệ hại của một cuộc sa sút hay sa lầy về tài chính. Ngoài ra, nói chung, người đàn bà bây giờ đủ tự tin để theo đuổi sự nghiệp, không bị ràng buộc vào ý muốn của người chồng hay một thứ công dân hạng ba ("chồng nhất, con nhì"). Sở dĩ họ thoát được vị trí thứ ba ấy vì, ngay từ đầu, họ đã bước vào bất cứ một mối liên hệ nào--tình yêu hay hôn nhân--với khả năng tài chính và ý niệm hoạch định đời sống hầu như đã cố định. Đó là sự khác biệt lớn lao giữa những phụ nữ như họ và các thế hệ trước, như tôi. Người yêu hay người chồng tương lai của thế hệ phụ nữ đương đại có cơ hội biết rõ họ là ai trước khi quyết định cùng họ đi chung một đời. Đồng thời, tiến vào hôn nhân, người đàn bà cũng chỉ tiến tới mà không bắt đầu từ đầu. Dĩ nhiên, ngược lại, một sự "bắt đầu từ đầu" (bắt đầu đi học, bắt đầu theo đuổi sở thích riêng, bắt đầu muốn tham gia các cuộc cách mạng ngoài xã hội vv.) sau khi kết hôn lại đại diện cho một thứ biến hình mà người hôn phối có thể không dung thứ hay thông cảm nổi khiến gây ra những mâu thuẫn đến nỗi dẫn đến sự ly dị. Tôi cho rằng cũng là một sự công bằng mà đàn bà chúng ta phải "báo động" cho đàn ông biết chúng ta là ai trước khi gá nghĩa kẻo họ phải tự hỏi  "Ta là ai trước mùa thay đổi ấy" (thơ Đinh Hùng).

 

Lê Thị Huệ: Chị có bao giờ quen biết một người đàn ông nấu nướng chia sẻ việc nhà như thay tã cho con, lau cầu tiêu, lau sàn nhà giúp vợ? Người đàn bà đương đại phải "tậu" được một  ông chồng như thế, ngoài việc độc lập về tài chính, nếu cả hai cùng đi ra ngoài nhà tìm kiếm sự nghiệp. Vì nếu cả hai đều là "career man - career woman", đi làm xong về đến nhà, thể xác ai cũng mệt phờ banh ta lông ra rồi, đàn bà nhỏ con hơn, có khi còn mệt hơn, vậy mà còn phải chui đầu vào làm việc nhà.

 

Nguyễn Tà Cúc: Đấy, chị vừa xui dại tôi gây chiến với các nhà phê  bình, bây giờ lại đụng chạm đến toàn thể quý ông nữa sao?! Thật ra, đó là một thực tế mà không ai chối cãi được. Phụ nữ ngày nay vẫn phải gánh vác hơn một nửa, có khi 90 % công việc nhà. Những giai thoại về các nam tác gia còn đầy dẫy hơn. Các ông được hưởng quyền miễn nhiễm với công việc nhà, với những con số --nhất là những con số của sở Thuế. Nhưng tôi đề nghị chúng ta hãy cố giải quyết bằng cách trở lại từ đầu. Chị Huệ ạ, chị có bao giờ nghĩ rằng, muốn thay đổi tình trạng này thì chúng ta--phụ nữ phải là những người làm một cuộc cách mạng thay vì gánh chịu hậu quả bất công ấy từ đời này sang đời kia?

 

Theo tôi, nếu một người--bất cứ đàn ông hay đàn bà--phải lau nhà hay chùi bếp rồi "khám phá" ra rằng công việc ấy mất 1 giờ đồng hồ một cách cực nhọc thì sẽ có rất nhiều hy vọng nhìn việc nhà với một quan điểm khác. Bởi thế, tôi đề nghị chị em chúng ta hãy dậy con gái cũng như con trai MỌI việc, không phân biệt giới tính. Nghĩa là TẤT CẢ đều phải học cách rửa bát cho sạch; lau nhà bằng những thứ dầu thích hợp; giặt giũ theo đúng đòi hỏi của các loại vải vóc; thay bóng đèn đúng kiểu-nghĩa là không thay bóng 100 W vào một cái đèn chỉ chịu nổi 60 W; sơn nhà một cách điệu nghệ từ sơn lót rồi mới tới sơn ngoài; đọc cẩm nang xe hơi để biết các dấu hiệu trong xe nghĩa là gì; ít nhất thì cũng biết đóng một cái đinh vào tường chứ không vào tay mình; hút bụi và lau toilette, phòng tắm, cửa sổ; tệ lắm thì cũng biết đường đi chợ nấu ăn chứ không chỉ cố thủ với một thùng mì gói; biết khóa vòi nước chính phòng khi vòi nước trong nhà bị bể bất tử; biết nhịn không đi "shop" khi túi rách và biết quản trị tài sản một cách khôn ngoan khi túi lành vv. Chị tưởng tôi đùa à khi liệt kê ra từng thứ ấy? Mà chưa đủ đâu đấy nhé. Chưa đâu.

 

Trước hết, tôi rất thích quan niệm của hai thân sinh tôi. Ông bà chủ trương bất cứ thứ gì cũng phải biết làm qua vì "Ngẫm hay muôn sự tại trời,/ Trời kia đã bắt làm người có thân./ Bắt phong trần phải phong trần,/ Cho thanh cao mới được phần thanh cao./ Có đâu thiên vị người nào.." (Nguyễn Du, Truyện Kiều). Tôi đã được dậy rất kỹ lưỡng và bài học ấy quả là vô giá. Tôi từng có tiền có bạc, từng mua hàng từ những hiệu danh tiếng nhất Hoa Kỳ; nhưng rồi cũng có lúc ăn trưa trong nhiều năm bằng chỉ một ly cà-phê. Tôi từng ung dung ngồi nhà làm thêm nhưng cũng có lúc thức đêm thức hôm làm việc quần quật bên cạnh vài anh chị dao búa bản xứ tại một chỗ  không "thanh bình ba trăm năm cũ" đến nỗi họ cứ phải trấn an tôi:  "Bà ở đây an toàn lắm/You are safe here."

 

Chính vì kinh nghiệm đó mà tôi cổ võ cho một sự giáo dục bình đẳng theo đúng nghĩa đen ngay từ trong gia đình. Một người con trai lớn lên trong môi trường đó sẽ biết việc rửa bát lau nhà không phải nhẹ nhàng nhưng một bổn phận cần chia xẻ vì không ai muốn rửa bát lau nhà thay vì ngồi khểnh xem phim bộ. Nếu không làm, họ cũng tri ân người phải làm,  thay vì coi đó như một sự đương nhiên. Ngược lại, người con gái cũng biết tự lo một số việc căn bản, và quan trọng hơn, khi muốn kết đôi với ai, sẽ rất khó chấp nhận một anh chồng chỉ biết "dài lưng tốn vải ăn no" lại đi nhậu hay đi đánh bài chứ "ăn no lại  nằm" là còn phúc đấy. Tôi nhận thấy đàn bà chúng ta vẫn còn thụ động mà thỉnh thoảng lại đầy thành kiến. [Hẳn chị có nghe những "đào hoa" và "trăng hoa" chứ gì? Hễ đàn ông thì "đào hoa" mà đàn bà thì ngay lập tức mang tiếng "trăng hoa" giăng gió. Thế là thế nào?]

 

Sau nữa, sự đẩy hết gánh nặng việc nhà sang phần phụ nữ (đi làm) không chỉ thiệt hại cho chúng ta, mà còn đào tạo những người đàn ông ích kỷ. Tôi có tính không ghét ai, nhưng gờm nhất các chú tắc -kè và các ông ích kỷ. Đó là một vấn đề rất cần bàn tới. Tôi vẫn tự hỏi làm sao mà những người đàn ông này ngồi yên được khi mẹ, rồi chị, rồi em rồi vợ phải thay phiên nhau hầu hạ, chiều họ như chiều vong? Tôi quả quyết chúng ta sẽ cứu vãn được "thảm họa" này nếu chúng ta giáo dục con em ngay từ khi còn nhỏ để, trước hết, nhận ra sự công bằng bắt đầu từ những việc xem ra nhỏ nhặt nhất; sau nữa, sự tiến thân của một người đàn ông không thể đổi bằng xương máu của những người đàn bà liên hệ, của một người chị, người em gái hay một người vợ cũng có nghề nghiệp và cũng muốn tiến thân.

 

Từ trong gia đình, một sự thay đổi lớn như thế cũng khiến các ông (và cả các bà) quý trọng hơn những nghề lao động như nghề giúp việc nhà chẳng hạn. Dĩ nhiên tôi không nói chung, nhưng muốn thay đổi bất cứ bất công nào trong xã hội, hay đến lúc cần phải kêu gọi toàn dân bảo vệ đất nước phong hóa, thì sự kêu gọi ấy vô nghĩa nếu thường ngày những người lãnh đạo coi tầng lớp (đông đảo)  này là đồ bỏ. Y hệt như các ông chồng vắt chân chữ ngũ, coi vợ như đồ bỏ bằng cách phó mặc gánh nặng việc nhà hết cho vợ, không giúp đỡ mà cũng chẳng tri ân.  

 

 

Lê Thị Huệ: Chị thường đọc loại sách nào ?

 

Nguyễn Tà Cúc: Tôi thường đọc các sách liên quan đến những vấn đề nghiên cứu như nhà văn tiền chiến, nhà văn Miền Nam, Phụ nữ và Chiến tranh Việt Nam. Ngoài ra, tôi tiếp tục theo dõi những sáng tác mới về văn hóa văn học Hoa Kỳ vì ngành của tôi là American Studies. Tôi vẫn đọc thơ của Việt Nam lẫn ngoại quốc. Tôi đọc tạp chí hay báo cũng nhiều: Granta, Harper's, The Atlantic, The New York Book Review, London Review of Books, The New Yorker, The Rolling Stones, The Wall Street Journal và tờ The New York Times, The Los Angeles Times ... Tôi lưu trữ nhiều bộ tạp chí cũ hay đã ngưng xuất bản như Life hay Horizon. Tôi đọc sách báo rất nhanh và nhớ cũng rất kỹ

 

Tôi muốn nói thêm một điều, nếu chị cho phép, qua những cuốn sách, tạp chí và nhật báo mà tôi đọc: Tuy sinh trưởng ở Việt Nam nhưng đồng thời cũng lớn lên tại Hoa Kỳ-- thời gian ở Hoa Kỳ còn gấp đôi ở Việt Nam--tôi là một người Hoa Kỳ hầu như hoàn toàn. Không ai dám kết tội tôi là một người mất gốc vì qua tác phẩm --đã xuất bản cũng như trên Khởi Hành--tôi cũng là một người Việt Nam (Bắc Kỳ) chính hiệu. Tôi nhận thấy, như lời than phiền của giáo sư/nhà nghiên cứu Keith Weller Taylor (Đại học Cornell) rằng ông và chúng ta đọc được ngoại ngữ để theo- dõi- tình- hình- quốc- tế-và-quốc-nội, nhưng nhiều tác gia/nhà nghiên cứu/phê bình Việt hay Mỹ hay Việt -Mỹ chỉ đọc được 1 ngôn ngữ --hoặc Việt hoặc Anh--khiến dẫn đến tình trạng dở khóc dở cười khi nhận định của họ chỉ đúng một nửa, hoặc chỉ phàn ảnh "một nửa" của họ, quốc nội hay quốc ngoại. Điều này dĩ nhiên gây ra nhiều khiếm khuyết, có khi trầm trọng. Trầm trọng nhất là sẽ không bao giờ có đối thoại, nhưng phần thiệt thòi nhất vẫn là vế phía cộng đồng người Việt tỵ nạn Công sản và cả người Việt bị đàn áp trong nước. Tôi sẽ trưng dẫn vài thí dụ cho thấy sự tai hại đó và nhu cầu đọc cũng quan trọng gần như nhu cầu viết.

 

Tôi vẫn được đọc, từ các lời chiêu dụ của các ông nhà nước cho tới một nhà văn quốc nội và một tác gia/giáo sư quốc ngoại, về khối người Việt tỵ nạn lúc nào cũng ôm ấp một bầu đau khổ vô tích sự, cũng chứa chấp một nỗi  thù hận thiệt lãng xẹt, cũng ngong ngóng mong chờ ngày được trở về quê hương Việt Nam. Nhận xét này được cực tả bằng một truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp và được sự cổ võ của những Việt kiều "một nửa người Việt là người Mỹ" đại diện bằng nhà văn/giáo sư Nguyễn Thanh Việt, người đọat rất nhiều thứ giải thưởng từ cao quý (Pulitzer) đến cao sang (MacArthur Foundation) của Hoa Kỳ.

 

Trong truyện ngắn Không khóc ở California, Nguyễn Huy Thiệp kể lại chuyện tình của một người đàn ông Việt Nam với một cô gái đã từ giã anh ta rồi sang định cư tại California được "24 năm". Sau đây, tôi xin trích dẫn lời tự thuật của nhân vật nam qua toàn truyện. Cậu này chắc đang "dài lưng tốn vải ăn no" nhưng không lo nấu cơm rửa bát mà lại lo múa bút viết tự truyện. Nếu nói theo kiểu Bùi Giáng vào mấy ngày cuối của 30 tháng 4 khi gặp chúng tôi tại Đại học Vạn Hạnh thì "Chạy không lo chạy, lo làm thơ (viết truyện)" :

 

-" [...] Anh không biết khi cô gặp anh là ở đằng sau cô đã có một thời gian đằng đẵng, lẫn lộn ở đấy bao đau đớn vui buồn, bao chuyện sinh tử. Ở đấy, người ta không nói thứ tiếng Việt Nam man di, mọi rợ của cô. Cô nói tiếng Anh. Chỉ khi nào thất bại, chỉ khi nào một mình, khi nào nhục nhã ê chề lắm cô mới bật ra tiếng nói mẹ đẻ của cô. ồ - dĩ nhiên, đấy là một tiếng chửi thề, một câu tục tĩu. Sẽ khóc về cảnh tha hương ở nơi đất khách quê người... Sẽ khóc về Anh ngữ và Việt ngữ... Sẽ khóc vì những lo toan trong cảnh gia đình... Sẽ khóc vì chồng con, bạn bè... Sẽ khóc vì những phù du, bội phản... Sẽ khóc cho kiếp làm người..[...]" [Nguyễn Huy Thiệp, "Không khóc ở California", https://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/sach/lang-van/khong-khoc-o-california-2753885.html].      

 

Điệp khúc khuyến khích người Việt tỵ nạn khắp nơi trên thế giới "mạnh mẽ lên" để "không khóc" kéo đi miên viễn trong truyện ngắn "không khóc" này:

 

- Mạnh mẽ lên - Anh nói - Không khóc ở California.
Không khóc ở California.
Không khóc.
Không khóc ở Louisiana.
Không khóc ở quận 13 Paris.
Không khóc
Không khóc ở Beclin, ở Sydney, ở Tokyo
Những người Việt không khóc ở California
Em không khóc
Em không khóc ở California
Em không khóc [...]
Ai huýt sáo một bài hát bên đường
Nhớ anh, nhớ quê hương
Em không khóc
Em không khóc ở California
Em không khóc
Ở chốn xa xăm cuối nơi chân trời
Nơi mẹ sinh ra gọi là quê hương
Em gọi tên là nhớ thương
Người ta gọi là cội nguồn
Sao em lẩm cẩm như một bà già
Em sẽ không khóc
Không khóc ở California [...]
Em yêu mọi người
Mọi người không khóc
Không khóc ở California
Em soi trong gương
Giữ gìn nhan sắc, giữ gìn thói quen

[...]
Em cười một mình.
Và soi trong gương 
Không khóc
Không khóc ở California
Cho dù cách xa [...]

Có hiểu không? Em có hiểu không? Em có hiểu được như thế không?
Kìa có ngọn gió bay qua...Và nắng ấm. Rồi em lại về... Phải không em?  (Nguyễn Huy Thiệp, sđd)

 

Tôi thành thực muốn nhắn một lời công khai tới những người như nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, rằng: "Gee-whiz, give us a break. No Crying, no Loathing  in California". [Tôi đã mượn chữ của ký giả Hunter S. Thompson của The Rolling Stones, "Fear and Loathing in Las Vegas: A savage journey to the heart of the American dream".] Và đặc biệt, "No Fear in California either" khi quyền tự do phát biểu của người California chúng tôi được bảo đảm. Những người như tôi, ở California, không có thì giờ khóc, cũng không có thì giờ thù hận hay bị ám ảnh bởi cái "nguồn cội" và "quê hương" như Nguyễn Huy Thiệp diễn tả vì "quê hương" của tôi cũng là Hoa Kỳ và một Việt Nam tự do. Tại California, chúng tôi rất hạnh phúc. An tâm, chúng tôi vẫn "Giữ gìn nhan sắc". Tôi còn được vài bạn ở Sài gòn phong cho biệt hiệu "nhà phê bình chân dài" và khác với nhà văn Phạm Thị Hoài, tôi không mích lòng chút nào về 2 chữ "chân dài" này. Chúng tôi rất bận viết (nhất là viết tiếng Việt), về nguồn cội Văn học Miền Nam và không có lý do gì để khóc khi được đọc tự do tất cả những gì chúng tôi thích tại California. Như trước khi bị chiếm vào năm 1975, chúng tôi cũng được đọc tất cả những sách gì chúng tôi muốn tại Miền Nam. Thế thì, nói theo lối Nguyễn Huy Thiệp,  chúng tôi dại gì lại về Việt Nam để bị cấm đọc ...Nguyễn Huy Thiệp khi ông bị phong tỏa?! Như lời tường thuật sau đây, của Nhà xuất bản L’Aube, Pháp:

 

- "[...] Do vậy, chúng tôi đã gửi một giấy mời chính thức. Chúng tôi đã thông báo cho sứ quán Việt Nam tại Pháp. Thế nhưng, ông Thiệp không hề nhận được thư mời, không nhận được bất kỳ giấy tờ gì từ phía nhà xuất bản L’Aube. Do vậy, chúng tôi kết luận rằng chính phủ Việt Nam đã không cho phép ông Thiệp thực hiện chuyến đi này. Chúng tôi rất lấy làm tiếc về sự việc này. Mặt khác, chúng tôi được biết là ông Thiệp lại một lần nữa đang ở trong tình thế rất bị cô lập. [Trọng Nghĩa, "Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp không sang được Pháp", ngày  22. 05. 2012 (http://vi.rfi.fr/viet-nam/20120522-nha-van-nguyen-huy-thiep-khong-den-paris-nhu-du-tru-nhan-buoi-ra-mat-mot-tuyen-tap)

         

Bởi thế, "For your own sake, Monsieur Nguyễn Huy Thiệp, don't ever turn yourself into a clueless propagandist or a clown à la Tố Hữu!"  Trong truyện ngắn thượng dẫn, đoạn này làm tôi buồn cười nhất:

-"Chỉ khi nào thất bại, chỉ khi nào một mình, khi nào nhục nhã ê chề lắm cô mới bật ra tiếng nói mẹ đẻ của cô. Ồ - dĩ nhiên, đấy là một tiếng chửi thề, một câu tục tĩu..." (Nguyễn Huy Thiệp, sđd)

         

A! "Cô" này ở California (tiểu bang rất đông người Việt, có thể là đông nhất) tới 24 năm mà chỉ nói tiếng Việt khi "chửi thề, một câu tục tĩu"  "khi nào thất bại, chỉ khi nào một mình, khi nào nhục nhã ê chề lắm..." vv và vv sao?! Thế thì cô ấy đọc gì? Chắc  không đọc luôn cả Nguyễn Huy Thiệp? Vì bận chửi thề?! Tôi nghe nói Nguyễn Huy Thiệp có ghé thăm nhà văn Võ Phiến khi sang California. Nếu tin này không phải tin đồn, tôi rất muốn biết các quân tử nhà ta nói tiếng gì --tiếng Việt man di mọi rợ hay tiếng Anh -- và nói gì với nhau? Nguyễn Huy Thiệp có "chửi thề, một câu tục tĩu", có xổ ra nhiều tràng the-four-letter-word khi cho Võ Phiến biết ông đã bị đàn hạch ra sao tại Việt Nam?

 

Nói của đáng tội, Nguyễn Huy Thiệp không bao giờ sống ở ngoại quốc như một người tự do; hơn thế nữa, còn tranh đấu cho sự tự do của người khác, bởi thế, sự tưởng tượng của ông rất sai và rất tầm thường.

 

Chưa hết, thứ "truyện" mà đọc xong người đọc sẽ "không khóc" nổi này vẫn có chư hầu trung thành. Nguyễn Thanh Việt, khi viết về Chiến tranh Việt Nam và hậu quả kinh khiếp của nó, đã đề cập tới sự thù hận của những người không chung chiến tuyến. Ông đã sử dụng Không khóc ở California để đề nghị với chúng ta --người Việt tỵ nạn Cộng sản--như sau:

 

-"[...] We must remember in order to live, but we must also forget [...] Whether we are winners or losers when it comes to war, the challenge of forgetting is inextricably tie to the question of forgiving [...] Forgetting can be difficult when both war's winners and losers attempt to portray themselves virtuously, as they usually do. They see themselves as victims, never victimizers. Defeat aggravates this sentiment, as is the case in the community in which I was raised, the Vietnamese refugees in America who lost everything except their memories. They have valid reasons to remember their past, but they also tend to forget, particularly in public commemoration, the venality of the southern Vietnamese regime, the violence committed by their own soldiers-who happen to be their fathers, brothers, and sons-and how their sentiments may be viewed from elsewhere. Hence the bracing quality of Nguyen Huy Thiep's short story, “Khong Khoc O California,” or “Don’t Cry in California.” The story's narrator writes from Vietnam to his brethren in exile and says, “Vietnamese people, don't cry in California,” [...]  He also calls out to all the outposts of Vietnamese exile: Louisiana, the thirteenth district of Paris, Berlin, Sidney, and Tokyo. He enjoins the diaspora to "Remember me, remember your homeland,” “the place you long to see.” The narrator, something of a mess after his lover abandoned him for California, believes these Vietnamese exiles and refugees, steeping in their melancholy, loss, and rage, should recognize what they have gained as much as what they have lost. While they might justify crying for themselves, perhaps they would stop crying if they recognized others, namely their own people who had stayed in the land that they left behind. Otherwise, they suffer the fate of all exiles, who, to borrow from Baudelaire, are “relentlessly gnawed by longing.” One way to overcome one's own grief and to haul oneself out of the morass of memory is to remember others, to see oneself in relationship to other and to look at oneself with detachment..."— Chúng ta phải nhớ để mà sống, nhưng chúng ta cũng phải quên đi [...] Cho dù là kẻ thắng hay người thua, nhưng  khi nói đến chiến tranh, sự thách thức trong vấn đề lãng quên được gắn bó chặt chẽ vào dấu hỏi của sự tha thứ [ ...] Sự quên lãng ấy có thể trở nên khó khăn khi cả kẻ  chiến thắng lẫn kẻ bại trận đều cố gắng miêu tả (chỉ có) họ là mới những người đức hạnh, như họ thường làm. Họ coi mình là nạn nhân, không bao giờ nhận chịu họ cũng là thủ phạm. Sự bại trận khiến cảm nghĩ này trở nên trầm trọng thêm; như xẩy ra trong trường hợp cộng đồng-- mà tôi được nuôi dưỡng-- với những người Việt tị nạn tại Mỹ đã mất hết tất cả, trừ ký ức. Họ có lý do chính đáng để nhớ lại quá khứ, nhưng họ cũng có khuynh hướng quên đi--một kiểu thiên vị trong những buổi lễ tưởng niệm công khai-- rằng họ quên chế độ Miền Nam dễ bị mua chuộc, rằng họ quên sự hung bạo do người lính gây ra mà những người lính này lại chính  là cha, anh em, và con trai của họ;họ cũng quên rằng cảm xúc của họ lại có thể sẽ được nhìn từ một nơi  khác (một nơi không cùng cảm nghĩ như cộng đồng của họ). Bởi thế, sự kiện ("nhìn từ nơi khác") ấy  tạo nên yếu tố vững vàng cho truyện ngắn "Khong Khoc o California" hay "Don't cry in California".

 

(Trong truyện,) người thuật, từ Việt Nam nhắn tới anh em lưu vong, rằng: "Người Việt ơi, đừng khóc ở California nữa." Ông cũng gửi lời kêu gọi tới tất cả tiền đồn người Việt lưu vong, tại Louisiana, quận Mười ba Paris, Berlin, Sidney, và Tokyo, nhắm khuyên bảo người di cư phải "nhớ tới tôi, nhớ tới quê hương của họ", "nơi quý vị mong muốn được nhìn thấy lại." Người kể, xáo động tâm tư sau khi bị người yêu bỏ rơi rồi cô ấy sang định cư tại California, tin rằng người lưu vong và người tị nạn Việt Nam chìm đắm trong một nỗi sầu muộn, mất mát và phẫn nộ; trong khi lẽ ra họ nên nhận biết rằng họ đã thu thập được đều như với những gì đã mất mát. Trong khi họ có thể biện minh cho việc khóc lóc, có lẽ họ sẽ ngưng nếu chấp nhận được những người khác, cụ thể là đồng bào đã ở lại tại đất nước mà họ đã rời bỏ sau lưng. Nếu không, họ sẽ chịu chung số phận của mọi người lưu vong,  mượn lời Baudelaire, "bị gậm nhấm một cách tàn nhẫn bởi nỗi khao khát." Một phương cách để vượt qua nỗi đau khổ riêng tư cùng lôi mình ra khỏi thứ đầm lầy của ký ức là nhớ (đến) người khác (nữa), xét tới bản thân trong mối quan hệ với họ và thẩm định chính mình với sự  một sự tách rời (khỏi các ý niệm đã có, liên quan đến mình) ... "[Nguyễn Thanh Việt, Nothing ever dies: Vietnam and the Memory of War- Chẳng có thứ nào chết được cả: Vietnam và Ký Ức Chiến tranh, Nhà xuất bản Harvard University Press, 2016)

 

Đọc hai tác gia nêu trên, chúng ta không thể nhận ra chúng ta, một cộng đồng chống Cộng Sản nhưng tranh đấu cho quyền tự do tư tưởng của mọi người, cả cho tác giả thuộc về Miền Bắc, cả cho những người không bao giờ có một lời cho anh em cầm bút của họ tại Miền Nam. Nguyễn Huy Thiệp và Nguyễn Thanh Việt chắc chưa bao giờ đọc Mặc Đỗ, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Viên Linh và cộng đồng tác gia tỵ nạn như chị và tôi  khi chúng ta sáng tác ngoài nước. Nguyễn Thanh Việt đã trả lời nhà phỏng vấn Terry Gross của Hệ thống Truyền Thanh Hoa Kỳ NPR như sau:

 

-[...] Một khối lớn 800.000 người Bắc Công giáo di cư vào Miền Nam vì được các linh mục bổn xứ thuyết phục rằng họ sẽ bị người Cộng sản tàn sát hay ít nhất cũng bị ngược đãi. Và ý tưởng đó đã được Cơ quan Tình báo Hoa Kỳ, đại tá Edward Lansdale truyền bá.../ [...] a great migration of about 800,000 North Vietnamese Catholics who had been persuaded by their parish priests that the communists were going to massacre them or at the very least persecute them. And that idea had been promulgated by the CIA, by Col. Edward Lansdale..." [Terry Gross, "Author Viet Thanh Nguyen Discusses 'The Sympathizer' And His Escape From Vietnam", Ngày 17, tháng 5. 2016]

 

Dĩ nhiên, nếu tôi là người Việt thì tôi sẽ hỏi lại, rất lịch sự rằng: "Thế thì một khối vĩ đại gồm các nhà trí thức, nhà cầm bút, nhà ký giả, nhà giáo dục, nhà tài tử, nhà nghệ sĩ và cả các nhà dân khác không có đạo Công giáo đã di cư vào Nam thì  họ bị ai thuyết phục?! Chẳng lẽ CIA và Edward Lansdale dựng được vụ Cải Cách Ruộng đất, những vụ đấu tố, những vụ thanh trừng văn nghệ sĩ? Là những vụ đầy thuyết phục đẩy họ ra khỏi "quê hương" Miền Bắc?"

 

Nguyễn Thanh Việt--không có khả năng nói lưu loát và chắc không biết viết hay đọc Tiếng Việt thông thạo (?) -- có thể chưa bao giờ được đọc nhà thơ Đinh Hùng (ra đi)  phản bác lời thóa mạ của nhà thơ (ở lại) Trần Dần. Liệu Nguyễn Thanh Việt có biết nhà thơ Vũ Hoàng Chương--anh rể Đinh Hùng--đã bị giam đến gần chết trong tù Cộng sản? Liệu Nguyễn Thanh Việt, khi khuyên chúng ta "không khóc" tại California và nhắc chúng ta nhớ về những tội ác của chính "cha, anh em và con trai" của chúng ta tại Miền Nam, biết rằng đã có những người Việt tuy không giầu có gì, đã đóng góp vào quỹ  Ủy ban Văn Nghệ sĩ -Bị cầm tù, Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải ngoại để giúp phương tiện cho trung tâm và Ủy ban này hoạt động trong thời tôi tham dự? Dĩ nhiên,  trong một cuộc tranh luận, người ta có thể nhắc đến cả cái xấu nữa nhưng tôi chưa phân tích rằng có một sự khác xa giữa những hành động gây ra bởi cá nhân (quyền lực bị giới hạn) khi so sánh với những vụ tàn sát và chính sách triệt hạ các quyền tự do của nhà cầm quyền Cộng sản (một quyền lực hầu như vô hạn).

 

Tôi trưng thí dụ này ra để cho thấy người Việt tỵ nạn phải tiếp tục đọc rồi viết, nhất là viết bằng tiếng Việt, vì chúng ta có khả năng biết rõ hơn ai hết những điều viết về chúng ta đúng hay sai. Đó cũng là thái độ mà tôi chọn. Họ có quyền viết những điều họ tin tưởng và cảm nhận. Nhưng tôi sẽ chứng minh rằng họ sai, không cần qua tranh luận vì có chứng cớ, rằng những công trình nghiên cứu của tôi đã cố gắng hướng tới một sự công bằng cho cả Miền Nam, tác giả Miền Nam lẫn Nhà Nước Cộng sản (hay những người thuộc chế độ của họ) và cả người đồng minh Hoa Kỳ khi "quê hương" của tôi cũng chính là sự thật hay nghệ thuật, chứ không phải chỉ Việt Nam hay Hoa Kỳ. Mà đã là sự thật hay nghệ thuật thì phải được chấp nhận, không sớm thì muộn.

 

Gặp đạo diễn Đăng Nhật Minh khi ông được Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hoa Kỳ
vinh danh vào ngày 10. tháng 11. 2010, Beverly Hills, California

 

 

 

Lê Thị Huệ: Thường thì diễn tiến tìm kiếm và sưu tầm tài liệu của chị xảy ra như thế nào ?

Nguyễn Tà Cúc: Tôi thu thập tài liệu bằng nhiều ngả. Ngả thứ nhất là truy cập trên Internet rồi cố tìm nguyên bản nếu tài liệu đó đã được số hóa. [Tôi không thể chỉ sử dụng một tài liệu đã được số hóa vì khó tin được phần chính xác của chúng.] Ngày nay, một số lượng khổng lồ tin tức về tác gia, tác phẩm và báo chí Miền Nam đã được phổ biến trên Internet, từ Thư viện Quốc gia Việt Nam đến các trang mạng trong và ngoài nước. Tôi đặc biệt tri ân Diễn đàn Sách Xưa, một diễn đàn trên mạng vừa nhiều tài liệu vừa kèm hình ảnh được phổ biến từ chính nhiều nhà sưu tầm sách, có khi kiêm tác giả. Chính vì họ cũng là tác giả nên tin tức do họ thu thập rồi phân tích dựa trên tài liệu đó sẽ cung cấp những nguồn thông tin vô giá và chính xác cho các tác giả khác. Tôi đặt tên cho diễn đàn này là "Tác gia không biên giới" vì họ sẵn sàng giúp các tác giả khác sao lục tài liệu hay trao đổi ý kiến hoàn toàn trên căn bản văn học nghệ thuật. Một trong nhiều kinh nghiệm của riêng tôi là nếu không có sự giúp đỡ của một thành viên của diễn đàn này thì tôi không thể viết bài nghiên cứu về thái độ tiêu cực của Tự Lực Văn đoàn với Nữ giới cấp tiến Miền Nam, cũng như tái thẩm định được sự đóng góp của Lemur vào tiến trình Áo dài Việt Nam. Ngả thứ hai là qua nhân chứng thuộc Văn học Miền Nam. Một nhân chứng cũng có thể không cung cấp tài liệu trực tiếp nhưng cho một đầu mối khác để dò tìm. Các nhân chứng gián tiếp này cũng đặc biệt quan trọng trong trường hợp nghiên cứu về Văn học Miền Nam. Ngả thứ ba là các đại học Hoa Kỳ. Đại học Hoa Kỳ lưu giữ rất nhiều báo chí và tác phẩm Miền Nam. Tôi từng mượn được một số Xuân của Nhật báo Tự Do, thời Mặc Đỗ. Tôi từng cầm trên tay cuốn thơ Hóa Thân của Viên Linh, giấy ố vàng và rạn như bánh đa, chắc chỉ vài năm sau là nát hết. Ngả thứ tư là do các thân hữu gửi tặng hay cho mượn. Ngả thứ năm là ...đi mượn. Hai ngả này khác nhau xa đấy nhé vì nhiều khi đi mượn năn nỉ ỉ ôi mà vẫn bị từ chối. Ngả thứ sáu là thư mục tài liệu của các tác  giả khác liên quan đến chủ đề đang nghiên cứu. Tôi cần đọc thư mục rồi phân tích các tài liệu đó -- không phải để ...lấy cắp của người ta, như trò ma giáo mà bất cứ nhà nghiên cứu nào có lẽ cũng từng là nạn nhân-- trong khi dẫn chứng để tác giả đó có cơ hội phản bác. Sau nữa, tôi cần kiểm chứng các tài liệu đó xem chúng có được trưng ra một cách chính xác và sử dụng một cách lương thiện hay không.

 

Sau khi thu thập tài liệu tàm tạm rồi thì tôi mới bắt đầu xếp đặt có hệ thống vào chủ đề đã định. Nếu nhận thấy không đủ tài liệu để trình bày vấn đề ấy một cách công bằng hay thuyết phục được chính tôi thì phải xếp lại. Tôi muốn tránh một khuyết điểm rất thường xẩy ra khi chọn đối tượng phê bình: Tưởng có đủ tài liệu. Tôi lấy một thí dụ điển hình: Trường hợp Khái Hưng và Nhượng Tống. Tôi rất muốn viết về hai tác gia này nhưng không đủ tài liệu, nhất là về Khái Hưng. Sự thiếu tài liệu đó sẽ ảnh hưởng trầm trọng đến cả công trình nghiên cứu khi không đặt được tác phẩm vào toàn cảnh sáng tác của tác giả. Hiện nay, tôi chỉ thấy nhà phê bình Cao Việt Dũng (Hà Nội, Việt Nam) mới có thẩm quyền viết về Khái Hưng và Nhượng Tống. Trong khi đó, tại hải ngoại, đã không đủ tài liệu, chúng ta còn chỉ chú ý quá nhiều về Nhất Linh mà không nghĩ tới Khái Hưng cho đủ. Khái Hưng còn có thêm một phần sự nghiệp báo chí ở giai đoạn cực kỳ sôi bỏng. Nhất Linh và Khái Hưng tại 1954 là một trường hợp tương tự như nhiều trường hợp xẩy ra tại 1975 ở cái nghĩa, nói chung, chỉ có một nửa thoát được vòng kiềm tỏa của người Cộng sản. Mặc Đỗ, Duy Thanh, Mai Thảo, Viên Linh, Võ Phiến vv ra đi được; còn Vũ Hoàng Chương, Hồ Hữu Tường, Bùi Giáng, Nguiễn Ngu Í, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên vv. thì không. Tác phẩm cuối của Khái Hưng chỉ tồn tại trên báo và tác phẩm của Nhượng Tống cũng có quyển thất lạc. Nhiều tác phẩm chưa xuất bản hay chỉ xuất hiện trên báo chí của Văn học Miền Nam cũng chịu số phận tương tự. Như thế, nếu không có phương tiện tìm kiếm tài liệu thì không nên bàn phướn làm gì, từ Khái Hưng tới Mặc Đỗ.

 

 

Lê Thị Huệ: Tôi vẫn dị ứng khi đọc phải những nhà phê bình Văn Học Tiếng Việt mang lý thuyết và sự nổi tiếng của Tây Tàu về áp dụng khơi khơi vào việc đọc và phê bình các tác phẩm sáng tác bằng tiếng Việt. Sáng tác thơ văn thường duy ngã độc tôn khủng khiếp. Mà các sáng tác bằng ngôn ngữ của tác giả ấy lại càng riêng biệt chuyên chở văn hóa đọc và văn hóa viết của cái nôi văn hóa nuôi dưỡng họ hơn. Thơ văn là cái món ngôn ngữ đặc thù. Mà cấu trúc của ngôn ngữ nào cũng có thứ thế giới riêng của ngôn-ngữ-ấy-văn-hóa ấy.  Chỉ các khía cạnh này thôi cũng đáng là các đề tài sâu sắc cần đặt nên vấn đề. Thành ra chuyện các người viết phê bình lôi cổ mấy ông Tây ông Tàu về làm thước đo các tác phẩm tiếng Việt với tôi là một thứ sinh hoạt cực kỳ khập khểnh hơi bị thiếu nội lực. Dĩ nhiên tôi không hoàn toàn phủ nhận những bài phê bình làm công việc tô màu pha sắc cho vui vẻ hòa đồng thế giới. Nhưng rất tiếc “CÁI” chính chúng ta không có, mà chỉ toàn là “HÀNG” phụ. Chúng ta thiếu những kiến trúc sư phê bình thiện nghệ mà toàn là bầy thợ hồ tay ngang quơ bèo gạt tép.  Các ông bà phê bình gia Việt Nam vừa không được huấn luyện chuyên môn, vừa không đủ nội lực để phê bình tác phẩm Tiếng Việt, cứ bắt chước các tượng đài ngoại quốc mà quơ quào xí gạt những độc giả lơ tơ mơ, những độc giả không rành ngoại ngữ. Cho đến bây giờ, nền phê bình Thơ Văn Tiếng Việt không sản sinh ra nổi hình hài thân thể thật, toàn là hàng mã lòe loẹt. Thiệt là nản.

 

Nguyễn Tà Cúc: Tôi không bị mắc vào thói quen mà chị nhắc, vì giản dị tôi phải học nhiều quá nên rất ớn cái sự khoe cái thiếu của mình. Càng những anh chị càng dốt lại càng hay sính lòe chúng sinh. Trong khi chúng sinh không hề dốt. Một trong những vấn đề của ngành phê bình là "rượu cũ, bình mới". Rượu Việt Nam đặt vào bình mới nào? Theo tôi, sự áp dụng phương pháp và tiêu chuẩn của ngành phê bình Tây phương vào một tác phẩm Việt chỉ hy vọng giúp chúng ta hiểu thêm/khám phá những điều còn ẩn giấu liên quan đến thời thế chính trị hay xã hội và cuộc đời sáng tác của tác giả trong toàn cảnh. Ngoài ra, kiểu phê bình áp dụng các chủ nghĩa hay triết thuyết không hề liên quan đến những yếu tố trên rất dễ thất bại. Một điều rất thiếu sót, thậm chí đến là khôi hài, của lối phê bình đó cho thấy người phê bình quên rằng người ta không thể gán cho một tác phẩm những triết lý hay tư tưởng mà tác giả không có, hoàn toàn không có, một chút ý niệm nào. Tôi gọi đó là những thứ "ngụy thuyết" để lòe chúng sinh.

 

Phần tôi, như đã nói, tôi rất coi trọng văn bản và nhân chứng. Phương pháp tôi hay sử dụng là kiểm chứng (một cách riêng biệt) văn bản, nhân chứng rồi sau đó, tái kiểm chứng văn bản khi soi rọi nó bằng chính tác giả và nhiều nhân chứng khác. Nếu nói một cách giản dị, tôi theo trường phái Albert Thibaudet (1874-1936) khi sử dụng lối phê bình của truyền thông nhưng với cấu trúc cực kỳ chặt chẽ phát sinh từ các tiêu chuẩn nghiên cứu theo truyền thống đại học với bối cảnh lịch sử là một yếu tố không thể thiếu. Đằng khác, tôi không theo lối phân kỳ văn học, như Thanh Lãng đã làm theo Thibaudet vì văn học sử không đơn giản đến nỗi vậy.

 

Tôi không có may mắn trong đường học. Sự gián đoạn, có khi trong rất nhiều năm. Từ năm thứ ba đến ngày xong Cao học chiếm một quãng 28 năm; bù lại, tôi có rất nhiều người thầy mà tôi phải mang ơn. Ngày rời Sài gòn, tôi chỉ mang theo được vài giấy tờ hộ thân, trong đó có tấm thiếp của giáo sư Hoàng Minh Tuynh.



Bút tự Giáo sư Hoàng Minh Tuynh 1916-1977/
Chủ nhiệm/Sáng lập bán nguyệt san Mai

 

Nếu tôi có thể so sánh một cách rất đại cương thì tinh thần đại học tại Miền Nam như ở Sài gòn rất gần gũi với tinh thần đại học Hoa Kỳ, giản dị chỉ vì các giáo sư Miền Nam thường tốt nghiệp tại các đại học ngoại quốc. Bởi thế, họ thông thạo ít nhất là một, hai ngoại ngữ và có thể đối thoại trực tiếp với đồng nghiệp ngoại quốc. Chị có nhắc tới tiêu chuẩn được đăng trên các "Tạp chí Phê Bình Văn Học (Literary Criticism Journal) do các đồng nghiệp trong ngành (Peer Review) lượng giá". Tôi đồng ý hoàn toàn, không phải chỉ vì người viết phải có bằng Tiến sĩ hay Cao học mà vì hai lý do rất giản dị. Thứ nhất, đó là khả năng trước tác được một bài viết theo đúng tiêu chuẩn chung, một tiêu chuẩn đã được ấn định rõ ràng. Nếu không đi học, không cách nào biết mà tuân theo. Thứ hai, những người đọc bản thảo ("peer review" ) đều là những người có chung một kiến thức nhất định và tối thiểu về một lãnh vực nghiên cứu nào đó. Bởi thế, các loại "phê bình" ú ớ không bao giờ tiến đến đâu. Và cũng bởi thế, tôi cũng không bao giờ phí thì giờ trả lời những người không có kiến thức mà lại cứ đòi có ý kiến về các bài nghiên cứu của tôi. Có trả lời, họ cũng không hiểu nổi đâu.

           

(còn tiếp)

 

http://www.gio-o.com/NguyenTaCuc.html

 

 

© gio-o.com 2018