Trở Thành Một Nhà Phê Bình Văn Học

 

Nguyễn Tà Cúc

 

 

phỏng vấn bởi Lê Thị Huệ

 

 

kỳ 2

 

bấm vào đây đọc kỳ 1, kỳ 2, kỳ 3, kỳ 4, kỳ 5, kỳ 6

 

 

 


Thư ký Tòa soạn Khởi Hành Nguyễn Tà Cúc
photo: http://www.hocxa.com/VanHoc/TD_

 

  

 

Nguyễn Tà Cúc là một cây viết nữ phiêu lưu vào phê bình văn học, gây khá nhiều đấu đá giữa chị và những tên tuổi lẫy lừng khác của văn chương Miền Nam và Văn Chương Hải Ngoại. Cuộc phỏng vấn là một cuộc đối thoại giữa hai người đàn bà tham gia sinh hoạt viết ở hải ngoại, như một cách mò mẫm tìm hiểu nhau, mà đôi khi độc giả có thể thấy ẩn bên dưới những câu chữ dao búa ấy, là một giao thông hào cố gắng đả thông hay tô màu những khác biệt bất khả kháng của một sinh hoạt viết vốn đầy cá tính. (lê thị huệ 18.02.2018)

 

 

Lê Thị Huệ: Chị giải thích thế nào về việc chị gọi những nhà phê bình tại Việt Nam là " những nhà phê bình xứng danh " khi mà các tác phẩm xuất bản tại Việt Nam bị cái kéo kiểm duyệt chính trị của ông nhà nước như cây búa và lưỡi liềm cửa cổ sáng tạo và tự do. Sách vở xuất bản ở Việt Nam không được sự tín nhiệm từ người đọc. Trình độ đọc sách của các sinh viên đại học rất hạn chế, rất yếu kém. Tôi thường xuyên gặp sinh viên đến từ Việt Nam trong trường tôi, Evergreen Valley College tại San Jose, một trường có 40% sinh viên Việt Nam, tôi nhận thấy sinh viên mới từ Việt Nam sang gặp khó khăn về môn Đọc Sách (Reading) rất nặng. Học sinh ở Mỹ học môn “Đọc Sách” (Reading) khác với môn Tập Làm Văn (Writing) từ mẫu giáo đến đại học.  Một em học sinh ở Mỹ không những được giao bài làm cho môn Reading là phải đọc thêm sách ở ngoài trường học, mà sách vở đến từ ngoài trường học là kho tàng vô giá đáng tin cho cá nhân trưởng thành trong nền giáo dục Mỹ. Trong khi ở Việt Nam trường học ít dạy con người khả năng đọc và suy luận qua việc Viết và Đọc thì chớ, tất cả sách vở chính thống trong chế độ Cọng Sản ở Việt Nam bị dân chúng cho là không đáng tin cậy, không đáng học, không đáng đọc. Kết quả là người Việt lớn lên trong nền giáo dục Cọng Sản rất thiểu năng về việc Đọc Sách (Reading).

 

Nguyễn Tà Cúc: Không, tôi không gọi (tất cả) những nhà phê bình tại Việt Nam là "xứng danh". Tôi chỉ nhắc tới các tác giả mà tôi được đọc như những tác giả góp mặt trong cuốn Những cạnh khía của Lịch sử Văn học hay một số khác mà tôi biết rất rõ. Và không, tôi cũng không tin là chị "hơi khắc nghiệt" vì có rất nhiều bất cập trong nền giáo dục hiện nay tại Việt Nam. Chỉ cần đọc xem họ giáo dục --kể cả giáo dục quần chúng-- thế nào về cuộc tấn công bất ngờ của họ vào Tết Mậu Thân là biết ngay. Chỉ có một sự coi thường trí thức của một nửa nước (Miền Nam)  mới giải thích nổi hiện tượng này. Mới nửa thế kỷ mà chẳng lẽ quý vị đang ngồi trong các đại học từ Sài gòn cho tới Đà lạt, Cần thơ vv đã quên hết rồi à?! Nhưng dưới màu đỏ phất phới, trí nhớ chỉ là một xa xỉ phẩm. Tôi cũng đồng ý là có một loại chỉ "lòe" "dân yếu ngoại ngữ và thiếu trình độ chuyên môn". Tôi càng đồng ý là "nghiên cứu và phê bình mà không có bằng cấp chuyên ngành thì rất khó tin là họ đang làm cái gì" dù bất cứ ở đâu. Nhưng nói đi phải nói lại, phần tôi, tôi lạc quan về những người thừa kiến thức chuyên môn và dầy tài liệu mà tôi tin rằng họ, dù ít ỏi thế nào, mới là những người đại diện cho ngành phê bình trong nước. Chính vài trong số người này đã giúp nâng phần nghiên cứu hiện nay về Văn học Miền Nam và Tiến chiến tại Việt Nam qua một trang sử hoàn toàn khác. Phần còn lại, tôi không bao giờ coi họ là...nhà phê bình cả. Tương tự, tôi không bao giờ coi một số "nhà" ngoài này là nhà- phê -bình. Chứng cớ là sau 40 năm, các "nhà" ấy đã có khám phá gì "kinh thiên động địa" chưa? Dĩ nhiên, lòng trắc ẩn khiến tôi lúc nào cũng lịch sự nhưng không đồng nghĩa với sự quan tâm tới hoạt động của họ. Chị--hay độc giả--có thể kết án tôi là một kẻ ngạo mạn, nhưng tôi chủ trương chúng ta cần... khắc nghiệt hơn nữa bằng cách lơ đi, hay sát phạt các "nhà" này nếu cần, nếu cảm thấy sự thiếu-kiến-thức của họ làm di hại cho sự nghiệp văn chương của người khác. Có lẽ tôi đã mang tiếng "gây sự không cần thiết" vì chịu không nổi các nhà này. Cũng theo kinh nghiệm của tôi, thời gian là một thứ máy lọc tàn nhẫn. Trước các nhà-phê-bình mà chị nói tới bây giờ, là một loạt Phan Cự Đệ, thứ công thần Cộng sản mà một người phê bình ngoại quốc phải gọi là "henchman". Tác phẩm của ông ta cũng đã ra nghĩa địa cùng với ông ta. Tôi đang chờ xem bao nhiêu tác phẩm của các "nhà" trong và ngoài nước theo nhau ra nghĩa địa, có khi sớm hơn chủ nhân của chúng rất nhiều.


Chúng ta có thể ngạc nhiên vì tới giờ này, nghĩa địa đã đợi sẵn, bao nhiêu chữ đã viết, bao nhiêu sách đã in mà vẫn có những nhà, kể cả nhà giáo dục trong nước, vẫn "bổn cũ soạn lại." Điều chị phát biểu rất mạnh mẽ về khái niệm Đọc và sự giáo dục để áp dụng tại Việt Nam, cũng có lý do chính đáng. Sở dĩ trẻ em bên này được dậy cách Đọc với một tinh thần thu thập rồi phân tích chính vì chúng ta ở đây có tự do hơn. Nếu Đọc dù với tinh thần thu thập nhưng không có tự do để phân tích, cũng sẽ thất bại khi Viết, nói chi lại không được tự do Đọc? Như thế làm sao Thầy soạn được sách, nhất là sách dậy các Trò của thế hệ kế tiếp? Bởi thế, nếu sinh viên ra khỏi Việt Nam, bị lấy đi cái "nạng" mà kiểu giáo dục ấy cung cấp thì có thể họ sẽ không ứng phó nổi. Tôi có một nhận xét nữa, không biết có lố không. Khi tôi gặp một học sinh Việt Nam xuất thân từ một trường giúp em đó đọc được và nói được ngoại ngữ thông thạo thì em đó hầu như quen ngay với kiểu học bên này, không đến nỗi chật vật như các em không giỏi ngoại ngữ. Như thế, có phải vì cách học và sự tự do đã theo các em ấy một cách rất bất ngờ không? Ở một ngả không lường trước được khi các em đó được đọc rất nhiều sách ngoài chương trình chính thức ở trường?

 

 

6. Lê Thị Huệ:  Ngày xưa lúc tôi học đại học Đà Lạt ở Việt Nam, tôi nhớ các giáo sư Viện Đại Học Đà Lạt khi khảo bài sinh viên thường đưa ra đề tài và và kèm theo câu: "Các phương pháp giáo dục Tây Phương là thế, còn anh chị sẽ áp dụng vào Việt Nam như thế nào?". Chị có bao giờ phân vân về việc ứng dụng các học hỏi của chị ở đại học Pensylvania State vào việc phê bình các tác phẩm Văn Học Việt Nam không?

 

Nguyễn Tà Cúc:  Tôi muốn tách câu hỏi này thành hai phần: Phần Một về sự áp dụng các phương pháp hay lý thuyết Tây phương vào các đề tài trong văn học Việt Nam/Miền Nam của những nhà phê bình trước tôi, Phần Hai về cách ứng dụng của tôi,

 

PHẦN MỘT: ÁP DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP HAY LÝ THUYẾT TÂY PHƯƠNG VÀO CÁC ĐỀ TÀI TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM

 

Có ít nhất 2 cách mà tôi thấy đã thành công rồi từ 2 nhà phê bình xuất thân từ Miền Nam trước 1975: Lê Tuyên và Thanh Lãng.

 

Trường hợp Lê Tuyên

         

Thứ nhất, chúng ta có thể sử dụng một phương pháp hay lý thuyết Tây phương để bình giảng một tác phẩm Việt Nam theo một cái nhìn hoàn toàn mới, hoàn toàn khác, hoàn toàn Tây Phương. Một trong số hiếm hoi nhà phê bình Miền Nam và Việt Nam làm được điều đó là giáo sư Lê Tuyên, Đại học Huế. Ông đã sử dụng phương pháp hiện tượng luận và hiện tượng luận hiện sinh cùng sức hiểu biết rất sâu xa về triết học, về các triết thuyết khác và nhất là về  phân tâm học của Gaston Bachelard khi áp dụng vào phương pháp phân tích văn bản để dựng một lâu đài tráng lệ, dệt những sợi tơ óng ả kết từ Tây Phương xa xăm cho một dải lụa Phương Đông huyền nhiệm của ca dao, thơ Vũ Hoàng Chương hay Truyện Kiều  vv. Tôi trích dẫn một đoạn trong "Triết lý cuộc đời trong Ca Dao Việt Nam" trong đó ông dịch chữ " (les) rêveries" --một thuật ngữ  quan trọng-- thành "(những lối) mơ về": [...] cho nên người nghệ sĩ bình dân đã dễ san sẻ lòng mình với ngọai vật. Ngoại vật như nơi mình gửi tâm sự, trước khi đạt tới con người. Ngoại vật là tha nhân thứ nhất mà nghệ sĩ bình dân đã gặp, và chính là một tha nhân đã từng hiểu, đã từng mến yêu mình. Cho nên tâm sự của mình, khát vọng của mình, người nghệ sĩ bình dân ký thác trước tiên vào lòng vạn vật. Đó là một tha nhân chỉ biết tiếp thu, gìn giữ và làm sáng ý nghĩa của tâm hồn mình chứ chưa bao giờ biết phản bội, và đấy là lý lẽ thứ hai để người nghệ sĩ bình dân tin rằng sự vật có thể hoàn thành dự ước giúp mình. Sự vật trở nên như người bạn đồng hành trên con đường đi tìm thể hiện khát vọng. Như Gaston Bachelard đã nhận dịnh trong thiên Rêverie et Cosmos rằng: "Dans les rêveries cosmiques primitives, le monde est corps humain, regard humain, souffle humain, voix humaine." "Trong những lối mơ về vũ trụ sơ khai, thế giới là thế nhân với cái nhìn thế nhân, hơi thở thế nhân, tiếng nói thế nhân". Cái nhìn của người nghệ sĩ bình dân chính cũng là cái nhìn sơ thủy ấy trong thế tương giao giữa người và vũ trụ. Cho nên đem khát vọng của mình truyền qua vũ trụ, con người của ca dao muốn ký thác vào vũ trụ như một bạn đồng hành. Vũ trụ của sự vật do đấy không còn câm lặng, mà vũ trụ của sự vật đang cùng thương nhớ: 'Buồn trông chênh chếch sao mai /Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ?'..." [Lê Tuyên, "Triết lý cuộc đời trong Ca Dao Việt Nam", Thể tánh của Thi Ca, trang 39]

 

Kế đó, hầu như không có nhà phê bình nào mà không muốn bình luận về Truyện Kiều. Lê Tuyên cho chúng ta một cái nhìn rất khác về Từ Hải:

 

Từ đi tìm một tương lai, nghĩa là Từ muốn tạo lập nên một hiện hữu lý tưởng, một hiện hữu chỉ có thể bắt gặp được trong tương lai một hiện hữu của ước nguyện, chuyển mình thành sự thực, một trạng thái tâm hồn hiện hữu của mình. Nhưng tế nhị hơn cả Pascal và Schopenhauer,VladimirJankélévitch phân tích một luận chứng siêu hình về con người hiện hữu qua sự chán chường trước hiện tại vô lý. Theo Jankélévitch, con người có những     niềm xao xuyến phức tạp, những mối u hoài không bắt gặp được chỉ vì chán chường là một căn bệnh mang một sắc thái thời gian, một căn bệnh về ý nghĩa thời gian: "Buồng riêng, riêng những sụt sùi / Nghĩ thân mà lại ngậm ngùi cho thân." Con người đặt thân phận mình trong một biến trình trôi chảy, không phải khách quan của đời, mà chính chủ quan của mình, không giải nghĩa được hiện hữu mà chỉ thấy tất cả là một nỗi chán chường bao quát: "Thân sao bướm chán, ong chường bấy thân" rồi để mặc hiện hữu của thời gian trôi qua mà không cần sống đến, con người như cố lắng lòng để nhìn thực trạng tâm lý của mình đang sống ra ngoài biến cố mà bản thân mình phải chịu...[Lê Tuyên, trang 172, sđd]

 

Lê Tuyên đặt giả thuyết về lý do Thúy Kiều cần được thoát khỏi 15 năm đoạn trường:

 

Không gian tươi lên trong một vài thoáng gợn, nuôi dưỡng hy vọng của Kiều, hy vọng đã làm cho Kiều sống được qua bao nhiêu hủy diệt và đổ vỡ của thời gian, hy vọng đã an ủi Kiều nhưng chính cũng làm Kiều khổ đau, chua xót trong một cảnh đời, trong một số phận lưu lạc hay tái ngộ, Kiều sống chuyển vần quanh một trục Tình yêu, chua xót khi còn trong hội đoạn trường, nhưng bi đát hơn trong ngày hội ngộ. Và bắt đầu từ điểm thời gian này, từ phút hoàng hôn mở đầu cho vũ trụ ban đêm của Đoạn Trường Tân Thanh, Kiều sẽ ở mãi trên những "dặm về", trên những dặm thời gian xao động của sự chuyển vần ngoại tại, mãi cho đến một vị trí không gian: "Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau".  Mà chính Kiều không biết phải qua bao nhiêu tháng năm mới đạt đến. Buông mình xuống Tiền Đường mới thấy rõ bao nhiêu "dặm về" mà thân mình đã trải : "Mười lăm năm, bấy nhiêu lần..." nhưng giòng nước Tiền Đường lại không giữ lấy Thúy-Kiều, mà trả Kiều về bờ bên kia cuộc sống, đưa Kiều thoát khỏi đêm thời gian tưởng chừng như vô tận đã chụp lấy đời Kiều. Cho Kiều ra thoát khỏi đêm dài bạc mệnh, Nguyễn Du muốn cưỡng lại sự phi lý của thời gian và nấm mồ hủy diệt. Muốn thế, Nguyễn Du phải vận dụng sự qui định của một yếu tố siêu hình. Cho nên vớt Kiều lên khỏi Tiền Đường, Nguyễn . Du muốn minh định rằng trên cả thời gian ngoại tại và sự  chuyển vần khách quan của vũ trụ, còn có một sức mạnh siêu hình vạn năng của Tôn giáo, mà thời gian ngoại tại cũng như sự chuyển vần chỉ là một hình thái đem ra ứng dụng, một phương tiện tùy thuộc sự quyết định tối cao của một ý thức siêu hình ở ngoài thời gian chuyển vần của vũ trụ con người hiện sống...[Lê Tuyên, sđd, trang 142]

 

Tôi muốn kèm một thí dụ nữa để cho thấy Lê Tuyên đã áp dụng được các triết thuyết và phương pháp Tây phương tài tình, nhất là khi áp dụng Gaston Bachelard. Lần này, ông viết về Nguyễn Khuyến: [...] Gaston Bachelard khi qui định về giấc mơ của nhà thi sĩ đã quan niệm như sau: "La rêverie que nous voulons étudier est la rêverie poétique, une rêverie que la poésie met sur la bonne pente, celle que peut suivre une conscience qui croit. Cette rêverie est une rêverie qui s'écrit, ou qui, du moins, se, promet d'écrire." (1) Như thế giấc mơ của nhà thi sĩ là một giấc mơ về sáng tạo. Ý thức càng trưởng thành thì giấc mơ càng phong phú, và đây là một giấc mơ để thể hiện một tâm trạng, một tình cảm, một ý tưởng, chứ không phải chỉ là một lối mơ suông [...] "Ngại ngùng những bước chông gai,", trong khi bao nhiêu con mắt tục đều nhìn vào như mù, không thể nào thấu hiểu cho được: "Trần gian nhẫn nhục nào ai biết gì !" Cái đẹp của con người là ở đấy, ở chỗ có, nhưng mà có trong tất cả huyền nhiệm của tâm linh, chứ không cần phải phô trương, trưng bày ở trước con mắt của người đời tục lụy [...] Do đấy, nếu giấc mơ nhân bản là một giấc mơ hàm chứa ít nhiều đau thương vì không có môi trường thực hiện trong một hoàn cảnh bi đát nhất định, thì đấy vẫn là một giấc mơ rất đẹp, đẹp đến tuyệt đối, vì đây là một giấc mơ muốn sống với tất cả nỗi niềm chí thiết ao ước sống của mình. Thi ca Nguyễn-Khuyến trong hướng diễn đạt này vì vậy không đi xa cuộc đời, không đi xa thân phận, mà trái lại chỉ muốn hoàn tất một số phận trong thân phận, một số phận có nhiều nét đẹp, nhưng nét đẹp nào cũng cao cả và xứng đáng với nhau để tạo nên một khuôn mặt số phận thanh cao, lý tưởng làm người ở trong thế giới. Trong viễn tượng giải thích đó, ta có thể nhận định được hai hướng mơ về của giấc mơ Nguyễn-Khuyến, tạo nên một cái nhìn tương hợp và thoát ra từ nhau, làm cho giấc mơ của thi nhân tuy có nhiều dị biệt về đối tượng, nhưng đồng nhất trong nội dung ý nghĩa. Đấy là hướng mơ về thế giới thiên nhiên, như một lối mơ tiếp giao cùng vũ trụ, và khi thấy sự đồng hòa ấy không đem lại được những an ủi cho thân phận làm người, thi nhân liền từ những thực tại của vũ trụ, chuyễn sang những đối tượng nhân sinh, làm cho giấc mơ gần gũi và trùng hợp với một quan niệm làm người ở trong cuộc sống...[Lê Tuyên, "Nguyễn Khuyến Và Giấc Mơ Nhân Bản" (trang 218-244), Tạp chí Dòng Việt số 10-Chủ đề Đại học Sư Phạm Huế Tập II, 2001, Hoa Kỳ; trang 218, 221; Chủ trương biên tập: Lê Văn và Liên Chi *một bút hiệu của Lê Tuyên-Chú thích của Nguyễn Tà Cúc]

 

Xin chị cho phép tôi trích dài như thế để bầy tỏ 2 điều. Thứ nhất, bất cứ một nhà phê bình nào, kể cả tôi, nên tự dặn phải cố gắng nhiều hơn nữa sau khi được chứng kiến cái học-rồi-hành kiểu Lê Tuyên. Một nhà phê bình nên chứng minh tài năng khi áp dụng chúng  vào nghiên cứu, chứ không phải chỉ vào những cuốn sách dẫn giải đại lược về những phương pháp đã học, một việc mà các nhà phê bình giả hiệu rất sính làm dù vô ích vì đại chúng thì không cần biết tới, còn dân trong ngành thì đã có giáo sư chính hiệu chỉ giáo. Thứ hai, đây là một trường hợp điển hình mà các nhà phê bình không đọc đủ báo chí cần lưu ý. Độc giả có thể đọc nửa-cuốn- sách nhưng nhà phê bình thì không. Hiện nay, nghiên cứu của Lê Tuyên đã bị thất thoát khá nhiều dù chỉ mới cách đây chưa tới 40 năm. Theo tôi biết, chỉ có Thể tánh của Thi Ca, nhan đề của một tuyển tập tập trung 5 bài giảng của ông tại Đại học Huế do giáo sư Lê Văn (Khoa trưởng Khoa Sư Phạm, Đại học Huế) viết "Thay lời tựa" được SEACAEF xuất bản, 2000, California, 290 trang. Ngoài ra, còn một số bài như "Nguyễn Khuyến Và Giấc Mơ Nhân Bản" đăng lại trên Dòng Việt. Dưới bút hiệu Liên Chi, ông còn viết về các mối giao tình với văn hữu như với Thanh Lãng, người giữ chức chủ tịch Trung Tâm Văn bút Việt Nam hay Hiếu Chân, Tổng Thư ký sáng lập.  Lê Tuyên, hội viên Trung tâm VBVN, chọn đường vượt biển sau 1975 và may mắn sống sót. Nếu không, có thể hải ngoại sẽ không bao giờ còn được đọc lối mơ-về đặc trưng của ông.

 

Trường hợp học giả Thanh Lãng

 

Chúng ta có thể hệ thống hóa lãnh vực nghiên cứu, cải tiến môn phê bình bằng cách cung cấp Tài liệu /Văn bản Gốc, dậy sinh viên cách sử dụng, so sánh,  phân tích rồi có sáng kiến phân kỳ theo một hướng mới, theo phương pháp Tây phương để, không những giáo dục những nhà phê bình tương lai, mà còn góp phần làm sáng lãnh vực đó. Tôi muốn nói tới học giả Thanh Lãng, Đại học Văn khoa Sài gòn. Trước đó, phương pháp phân tích Tài liệu /Văn bản Gốc và phân tích so sánh các phó bản để khám phá con đường văn hóa lịch sử chung quanh những sửa chữa hay thay đổi --vốn là một vấn đề cực kỳ quan trọng khi nghiên cứu hay phân tích -- chưa có một chỗ xứng đáng tại Miền Nam, một phần lớn cũng vì sinh viên không có cơ hội nhìn thấy Tài liệu /Văn bản Gốc.

 

Linh mục Thanh Lãng--cùng thế hệ với Lê Tuyên, cùng được giáo dục tại ngoại quốc trong một thời gian rất dài, một thời gian gần bằng 1/6 cuộc đời tại thế của ông-- chính là người tiên phong  thuộc đại học trong 2 hoạt động thượng dẫn: phân tích văn bản gốc và suy luận về những hậu quả liên hệ.

 

Thanh Lãng đã áp dụng sự phân kỳ lịch sử văn học căn cứ trên Thế Hệ theo phương pháp của Albert Thibaudet. Ông bỏ tiền mua sách báo quý hiếm hoặc nhờ cậy những người sưu tầm cho mượn lại những bộ sưu tập hầu có thể dẫn lại toàn văn các phần cần thiết hầu có thể hướng dẫn sinh viên phương pháp so sánh nghiên cứu bằng văn bản gốc. Sau 1975, tác phẩm của ông bị thất thoát hầu hết, gần đây mới được giới nghiên cứu và sưu tầm thu thập rồi cố gắng phổ biến. Nhưng nhiều bản thảo công phu của ông cũng đã tiêu tan trong ngọn lửa phần thư, một phần do chính tay ông theo đúng nghĩa đen, sau 1975, không bao giờ tìm lại được. Không lần nào tôi viết tới ông--dù chỉ trích hoạt động của ông trong Trung Tâm Văn bút Việt Nam 1957-1975--mà không đau đớn khi nghĩ tới công lao của ông trong cả hai ngành giáo dục và phê bình thuộc Miền Nam. Tiện đây, xin quý độc giả nào còn giữ được những tác phẩm hay bản quay ronéo tác phẩm/ sách giáo khoa dành cho sinh viên Văn khoa của Thanh Lãng, xin phổ biến nguyên bản trên Internet nếu được đặng giúp đỡ các thế hệ phê bình tương lai, như một số đã làm hết sức âm thầm qua thí dụ của Mạng Tủ sách Tiếng Việt (http://tusachtiengviet.com/).

 

Trường hợp Lê Tuyên và Thanh Lãng cũng đưa chúng ta trở về một thực tế: Được huấn luyện trong môi trường giáo dục Tây phương là một yếu tố quan trọng nhưng chưa chắc đã quyết định được một chỗ đứng đặc biệt trong ngành. Lê Tuyên và Thanh Lãng đã chứng minh rằng khả năng sáng tạo khi áp dụng vốn học mới ấy và sức làm việc bền bỉ mới là 2 yếu tố quyết định sau cùng.

         

PHẦN HAI: CÁCH ỨNG DỤNG CỦA TÔI

                  

Sau khi may mắn được huấn luyện và giáo dục trong môi trường đại học, tiếp tục kiến thức âm ỷ từ những ngày theo học tại Sài gòn và tự học, tôi khẳng định được 2 điều đã lượng định và áp dụng  từ 1996 dù lúc đó chưa được tốt đẹp và đầy đủ như bây giờ: Thứ nhất, thu thập rồi phân tích, lượng giá các Tài liệu Gốc& Nhân Chứng một cách lương thiện theo các phương pháp đã được học. Thứ hai, phải hiểu biết sâu xa tới bối cảnh xã hội, tác gia, địa lý và lịch sử khi các tài liệu đó xuất hiện, nhất là xuất hiện khoảng thời gian  54-75 là quãng Miền Nam mở ra cùng với thế giới với các cao trào học hỏi, chịu ảnh hưởng, và áp dụng lý thuyết và phương pháp  Tây phương. Đây là lúc sự học hỏi về nền văn học này sẽ cần thiết dù không sử dụng nhiều lắm.

 

Tôi có thể chọn con đường như Lê Tuyên: Trình bày các tác gia Miền Nam dưới một cảm quan triết học từ Tây phương. Hay con đường như Thanh Lãng: Hệ thống hóa lịch sử Văn học Việt Nam mà ở trường hợp này, Văn học Miền Nam.

 

Nếu tôi có bao giờ phân vân như chị hỏi là vào những trường hợp này: Liệu tôi có nên áp dụng các triết thuyết, các chủ nghĩa như chủ nghĩa hiện sinh, hiện đại, Marx, duy tâm hay cấu trúc luận vv và vv. vào một cái nhìn mới về thơ văn Miền Nam kiểu Lê Tuyên đã nhìn Cung oán ngâm khúc hay Truyện Kiều? Có lẽ nên dùng chữ "bị cám dỗ" thì đúng hơn. Có bao giờ tôi "bị cám dỗ"?

 

Có, tôi đã từng thử phân tích đời văn của Mặc Đỗ với một số truyện ngắn có những cái chết bi thảm--nghĩa đen hay nghĩa bóng--của nhân vật nữ. Søren Kierkegaard mới ảnh hưởng rất lớn vào tác giả này mà không phải Albert Camus. Đó cũng là một trong những hiểu lầm lớn nhất về ảnh hưởng của Camus ở Miền Nam. Rất nhiều tác giả, như Mặc Đỗ hay Bùi Giáng, đã dịch và bàn về Camus--một nhà văn cũng xuất thân từ thuộc địa Pháp-- nhưng không hề vì khía cạnh triết lý, mà vì hoạt động chống Đức Quốc Xã, điển hình là loạt bài trên nhật báo Combat  (1944-1947), Kháng chiến Pháp. Với Camus, thể hiện đạo đức là một thái độ triết lý và thực sự dấn thân là cách thể hiện đó. Mặc Đỗ, cũng như Bùi Giáng-- đã có thư từ qua lại với Camus, chứ không phải với Jean-Paul Sartre-- vẫn coi sự tranh đấu để đạt tự do, nhất là cho quyền tự do ngôn luận, bất kể với thực dân hay chủ nghĩa Cộng sản, là một điều không thể tránh khỏi. Hoạt động của Mặc Đỗ xuất thân cũng có dính dáng tới báo chí. Ông sáng lập nhật báo Tự Do và tham dự "Hội nghị Các Chủ bút", Anh quốc, 1955.

 

Tôi hiện còn chú ý đặc biệt tới Max Weber, triết gia/luật gia/kinh tế gia người Đức, có ảnh hưởng vô cùng lớn vào xã hội học cấp tiến hiện đại, vượt qua Karl Marx và Émile Durkheim. Ông là tác giả cuốn The Protestant Ethic and the Spirit of Capitalism [Nền đạo đức cùng luân lý của Đạo Tin Lành và Tinh thần của Chủ nghĩa Tư bản] vì có bàn đến chủ trương nhập thế qua hoạt động kinh tế của các giáo phái cải cách theo Đạo Tin Lành, mà nổi bật là giáo phái Tin lành Trưởng Lão/ Cải cách/Calvinistic Protestantism. Như chị đã biết, đạo Tin Lành giữ vị trí đặc biệt và có thể nói, lãnh đạo,  thời lập quốc Hoa kỳ với giáo phái này có thể được coi là  quan trọng nhất. Theo đó, Weber phân tích và chứng minh chính một nền đạo đức khổ hạnh cá nhân nhưng đã áp dụng thành công hoạt động kinh tế vào hành trình tâm linh tại thế của tín đồ theo thần học Calvin (John Calvin, người sáng lập)--những người đã được Chúa chọn sẵn mà không cần qua bất kỳ một thử thách nào -- có những điểm lý luận tương đồng với nền tư bản bắt đầu ló dạng.

 

Từ đó, tôi đang sử dụng cuốn này mong diễn giải được hoạt động của một giáo phái khác cũng khá quan trọng: Giáo phái Thân Hữu/Quaker. Đó là giáo phái duy nhất đã 2 lần thuê tàu hay tham dự vào việc chuyên chở thuốc men tới giúp Miền Bắc theo đường biển trong thời chiến tranh Việt Nam, công nhiên chống lại chính sách của chính phủ Hoa Kỳ. Sau 1975,  bà Lady Borton, một nhân viên tình nguyện cho một tổ chức Quaker tại Quảng Ngãi từ năm 1968 tới 1971, sẽ trở thành một công cụ tình nguyện còn đắc lực hơn trong việc tuyên truyền cho chế độ Cộng sản. Mấy cuốn sách nhân danh thi ca Phụ nữ Việt Nam và lịch sử mà bà ta làm đồng chủ biên đều xóa sạch dấu vết của người Việt không Cộng sản hay chống Cộng. Tôi muốn dùng sự tín niệm của Calvinism trong thời lập quốc Hoa Kỳ nhắm so sánh với một Việt Nam Cộng hòa thời lập quốc đang tiến tới một nền kinh tế (tư bản) phồn thịnh nhưng đã bị Phái Tả kết án là sa đọa. Tôi muốn tìm hiểu xem hành động của tín đồ Lady Borton sau 1975, với sự hỗ trợ của giáo phái Quaker, cũng có nên xem là đại diện của một thứ tư bản mới, lần này--không  nhân danh sự khổ hạnh của cá nhân được chọn lựa sẵn --mà của một tập thể vô sản chung chuyển theo hướng Chủ nghĩa Marx trong đó cá nhân phải chứng minh khổ hạnh đủ mới được gia nhập. 

 

Song cho tới nay, con đường tôi đã chọn là hành trình đi tìm sự thật, có khi của một nhân chứng, nhằm tái tạo một nền văn nghệ tự do và chống Cộng sản 1954-1975 tại Miền Nam, bằng cách xây đắp từng tầng Tài liệu /Văn bản Gốc v& Nhân chứng, để cuối cùng, trình bày quan điểm của riêng tôi; mặt khác, có thể san định sai lầm trong các công trình nghiên cứu khác liên quan đến Văn học Miền Nam và Chiến tranh & Văn học Miền Nam. Hành trình này được giới hạn trong vài chủ đề hay/và tác giả liên hệ.

 

Các nghiên cứu hay sự san định ấy chắc chắn đòi hỏi phải thực hành một số phương pháp căn bản về phê bình kèm theo sự khổ luyện về cách tập văn; nhưng ngay tại đây, mối hiểu biết cặn kẽ về lịch sử, xã hội, văn học, văn hóa, tôn giáo của Miền Nam và Hoa Kỳ lại cấp bách hơn, nhiều hơn là một kiến thức đặc biệt về một số trào lưu văn hay triết học Tây Phương cần phô diễn. Chị và quý độc giả cũng có thể thấy tôi thường dựng một hệ thống tương quan giữa tài liệu & (nhiều) tác gia & (nhiều) nhân chứng, nhất là từ báo chí. Nền báo chí miền Nam là nơi gây mầm rồi nuôi dưỡng cho cuộc chiến chống Pháp; hơn thế nữa,  nhiều nhà văn Miền Nam hay nhiều nhà văn di cư từ Bắc vào vốn xuất thân từ báo chí hay có vị trí độc lập trước khi những tạp chí gọi là văn học tại Miền Nam xuất hiện. Sau đó, mới tới phần thẩm trạch  hậu quả liên đới của các mối tương quan hầu tìm tới kết luận khả dĩ tin cậy được. Đó cũng là lý do các nghiên cứu đó đứng vững được qua nhiều thử thách từ nhiều phía hay từ những lúc xét lại của chính tôi.

         

So sánh văn bản

 

Một trong những yếu tố quan trọng nhất trong việc phê bình một tác phẩm là sự phân tích dựa trên chính nó qua các lần biên tập, nếu có. Tôi sẽ đưa một thí dụ hóc búa cho thấy các bản in khác nhau của một tác phẩm sẽ là cái bẫy khi sự khác biệt không có giải đáp dễ dàng. Chị đã biết tôi từng viết rất kỹ về vài vấn đề liên quan đến Tự Lực Văn đoàn và đặc biệt chú ý tới cuộc đời cách mạng của nhà văn Khái Hưng mà Thanh Đức (1943) là một tác phẩm quan trọng. Khi Nhà xuất bản Phượng Giang-Nhất Linh tái bản lần thứ 3 tại Sài gòn với nhan đề Băn Khoăn (1958), bản này đã khác với bản Thanh Đức-1943, được Nhà xuất bản Đời Nay của Nhóm Tự Lực Văn đoàn xuất bản tại Hà Nội.   Tôi đã viết về trường hợp này như sau:

 

Theo một bản liệt kê các tác phẩm đã và sẽ xuất bản của Đời Nay, Thanh Đức  cũng có tên Tội lỗi được Nhà xuất bản Đời Nay cho ra mắt độc giả lần đầu tiên dưới tên Thanh Đức [cũng là tên của một trong ba nhân vật chính trong truyện] vào năm 1943 ...[Nguyễn Tà Cúc, Khởi Hành Số 225-226, Tháng 10&11. 2015]

 

Và:

 

Trường hợp Khái Hưng đại diện cho số mệnh của một nhà văn làm cách mạng chống Cộng sản: ông bị sát hại và tác phẩm bị thất thoát hay tản lạc. Do đó, Thanh Đức đúng ra không phải là sáng tác cuối như chúng ta đã biết. Nếu phối hợp hai tài liệu, một là "Lời nói đầu" của Nguyễn Thạch Kiên cho cuốn Lời Nguyền và hai là "Danh sách gồm rất nhiều ấn phẩm của Đời Nay tiền chiến", năm 1945, in kèm trong cuốn tiểu thuyết Châu đảo do Vũ Ngọc Phan dịch từ Treasure Island, Robert Louis Stevenson, mà nhà phê bình Cao Việt Dũng sưu tập được [Nhị Linh, "Lên, lên nữa, lên mãi", ngày 26.6.2015, http://nhilinhblog.blogspot.com/], chúng ta có thể nhận ra hai chi tiết quan trọng liên   quan đến tiểu sử văn nghệ của Khái Hưng. Thứ nhất, ông đã dịch trọn bộ Liêu trai toàn tập và Đời Nay dự định sẽ xuất bản, nhưng theo Nguyễn Thạch Kiên, Khái Hưng cho một bạn văn mượn và cả bộ này đã thất lạc. Thứ hai, cũng theo danh sách năm 1945 do Cao Việt Dũng cung cấp thì Đời Nay sẽ cho xuất bản một tác phẩm của Hoàng Đạo có tên là "Băn khoăn". Như vậy, rõ ràng đã có sự quyết định để cái tên Băn Khoăn của Khái Hưng chỉ xuất hiện sau khi Hoàng Đạo đã qua đời....[Nguyễn Tà Cúc, sđd]

         

Như thế, Thanh Đức xuất bản vào năm 1943 và theo Nguyễn Tường Bách trong các cuốn hồi ký của ông, nhà in Đời Nay vẫn tiếp tục hoạt động cho tới 1945. Khái Hưng bị thủ tiêu khoảng cuối năm 1946-năm 1947 vì theo lời giới thiệu "Bóng giai nhân" (Văn hóa ngày nay số 4, Nhất Linh chủ trương), đó là "Truyện ngắn sau chót của Khái Hưng trước khi mất tích" vào tháng 8.1946. Hoàng Đạo qua đời  năm 1948. Nhất Linh vào Nam, lập Phượng Giang năm 1952. Băn Khoăn  tái bản lần thứ 3 năm 1958. Theo Nguyễn Thạch Kiên, Băn Khoăn đã được xuất bản từ năm 1953. Như thế, có phải Băn Khoăn đã được Phượng Giang-Nhất Linh tái bản 3 lần từ 1952 tới 1958? Điều đó tôi chưa biết được.  Nhưng có điều chắc chắn, Thanh Đức đã bị biên tập lại rất nhiều. Thứ nhất, một số câu bị  bỏ đi hay thêm vào cho rõ nghĩa (theo ý người biên tập). Thứ hai, một số từ ngữ xưa hơn như "An- nam",  hay quen thuộc với Miền Bắc hơn như "con sen", hoặc  thông thường với cách phát âm của người Bắc như "con giai" đều được thay bằng "Việt", "người ở" hay "con trai". Như đã nói, sự biên tập này quá nặng nề nên rất khó đổ cho thợ xếp chữ. Rõ ràng đã có toan tính Nam hóa và xoay chuyển đoạn kết hầu gây một phản ứng nào đó với độc giả:

 

 

Tôi đã phân tích về đoạn kết khác của Băn Khoăn:

 

Theo "Lời nhà xuất bản" Phượng Giang trước khi vào truyện thì chính Khái Hưng chọn      tên Băn Khoăn: "Tiểu thuyết này là cuốn sách viết sau chót của Khái Hưng ra đời dưới cái tên "Thanh Đức" nhưng tên này không phải do tác giả đặt ra. Vậy khi in lần thứ ba xin trở lại đúng tên "Băn Khoăn" là tên của chính tác giả đặt."  Hiềm một nỗi chỉ có tên cuốn truyện là do tác giả chọn, còn tác phẩm đã bị biên tập lại, thậm chí lời đề tặng        Nguyễn Gia Trí cũng biến mất, không thấy xuất hiện như ở Thanh Đức: "Tặng bạn thân, họa sĩ Nguyễn-Gia-Trí". Nguyễn Gia Trí cùng Khái Hưng đã bị người Pháp  giam lỏng    một thời gian ở Vụ Bản, Nam Định. Nhờ so sánh hai bản, tôi nhận ra bản Băn Khoăn đã      bị biên tập, sửa chữa từ một số từ ngữ như chuyển chữ "An-nam" thành chữ "Việt" cho đến thêm bớt hẳn một số câu; thậm chí xoay hẳn đoạn kết khiến làm mất ngay tính dữ dội của phản ứng của nhân vật chính (ông Thanh Đức), một phản ứng dẫn đến cảm tưởng "băn khoăn" của độc giả với một cốt truyện chưa hẳn khép lại...[Nguyễn Tà Cúc,        sđd]

 

Kết cuộc của Băn Khoăn 1958, tái bản lần thứ 3,

Kết cuộc của Thanh Đức 1943

 

         

Theo tôi, nếu người làm việc biên tập này không phải là Khái Hưng thì không thể tha thứ được:

 

Người thay đổi đoạn kết của Thanh Đức  đã làm mất mục đích của truyện. Đó là lời cảnh báo về một nhóm người Việt trí thức giầu có-- với phụ nữ tham dự rất tích cực và nhiều phần đóng vai trò quyết định-- nhưng thập phần ích kỷ khi chiến tranh Pháp-Việt vây khổn chung quanh...[Nguyễn Tà Cúc, sđd]

 

Nhưng ai là người biên tập lại Thanh Đức? Dĩ nhiên không ai dám cả quyết, nhưng trong trường hợp này, tôi  căn cứ vào mấy lý do sau đây để đặt giả thuyết rằng nhà văn Nhất Linh chính là người đó hay đã cho phép. Thứ nhất,  ông di cư vào Nam từ năm 1951 và tái bản sách của Khái Hưng và Trần Tiêu, em ruột Khái Hưng, cho đến năm 1963. Sau khi Nhất Linh qua đời, ông Trần Tự-- anh ruột Khái Hưng, đại diện gia đình Khái Hưng và Trần Tiêu tại Sài gòn-- giao lại quyền xuất bản cho ông Đào Mạnh Nghiêm, Nhà Xuất bản Văn Nghệ. Thứ hai, có thể nào chính Khái Hưng đã biên tập lại trong khoảng 1943 tới khoảng 1947 không? Cũng có thể lắm nhưng theo tôi thì rất khó tin chính vì sự Nam hóa các chữ được biên tập như "người ở" (thay vì  "sen") hay "con trai".

 

Tóm lại, Thanh Đức là một tác phẩm rất quan trọng của Khái Hưng vì  phản ảnh tình trạng sa đọa của giới tư sản thành thị ngay vào thời kỳ chống Pháp và là một mắt xích quan trọng trong tiến trình sáng tác và cách mạng của ông. Cho tới nay, đó vẫn là một tác phẩm chưa được nghiên cứu đầy đủ khi đặt vào sự nghiệp cách mạng chống Cộng sản của tác giả. Ngay từ đầu, tôi đã gọi là "một cái bẫy" vì, nếu không được nhìn thấy tận mắt nguyên bản của chúng, rất khó tưởng tượng kết cục Thanh Đức-1943 lại xoay hẳn đi gần 10 năm sau.

 

Nhưng dù có khó khăn thể nào, người nghiên cứu về Khái Hưng vẫn phải dùng phương pháp so sánh văn bản, phân tích nội dung và sau đó, cũng nên  tìm hiểu lý do Thanh Đức đã bị biên tập --chắc chắn không phải bằng người Cộng sản-- nhiều phần xẩy ra sau khi ông qua đời, đặng đặt nó vào thành tích văn chương và bối cảnh hoạt động chính trị của tác giả. Tác phẩm này, đồng thời, cũng đưa ra thí dụ của Nhất Linh-Khái Hưng, một đôi bạn vừa là nhà cách mạng trong cuộc chiến chống Cộng sản bằng cách tham dự một đảng phái võ trang, vừa là hai nhà văn thân thiết đến nỗi cùng nhau hoạt động văn học, vừa có thể viết chung một tác phẩm. Trong lịch sử văn chương Việt Nam cận đại, không bao giờ còn có một đôi như thế nữa. Và Khái Hưng-- cái nửa đôi lẫy lừng ấy, cái nửa đôi ở lại cùng Nhượng Tống gánh vác việc Đảng, cái nửa đôi chống chọi bằng báo chí với phái Cộng sản cho tới khi bị thủ tiêu--đã không được nghiên cứu đầy đủ và công bằng cho tới mãi gần đây, nhờ Cao Việt Dũng, một nhà phê bình trong nước.

 

Nhưng Nhất Linh-Khái Hưng cũng cho tôi liên tưởng đến tình trạng người ra đi -và- người ở lại sau 1975. Người ở lại Khái Hưng bị thủ tiêu. Người ra đi Nhất Linh đã làm hết sức trước khi tuẫn tiết. Tương tự, người ở lại như Văn Quang bị giam cầm gần 13 năm trong trại tù Cộng sản nhưng vẫn viết về những tệ hại sau 1975 rồi gửi ra hải ngoại cho đăng, lại tiếp tục đối mặt với tù đầy chết chóc. Người ra đi tiếp tục sáng tác và hoạt động, giữ Văn học Miền Nam cho đến cuối cùng. Cũng chính vì thế, Văn học Miền Nam cũng là một hiện tượng duy nhất với nhiều người ở lại và nhiều người ra đi cùng tham dự cuộc đối đầu với người Cộng sản một cách toàn diện và công khai. Tôi muốn nhấn mạnh hai chữ "công khai" ở đây. Nghĩa là không tương nhượng và không tự bào chữa.

 

Tình trạng chưa hoàn hảo của một số công trình nghiên cứu về Văn học Miền Nam tại Hoa Kỳ

 

Sở dĩ tôi chọn con đường Tài liệu /Văn bản Gốc & Nhân chứng vì, theo tôi, trong tình cảnh thất thoát tài liệu gốc và nhất là nhân chứng (các nhà văn Miền Nam) hiện nay, trước hết, nghiên cứu cũng là một cách phổ biến tài liệu để bù đắp một cách toàn hảo cho  sự thiếu thốn nêu trên. Quan trọng hơn, chúng ta không thể đặt hết niềm tin vào các nhà phê bình được huấn luyện bằng nguyên tắc trường ốc hay tin tưởng rằng họ sẽ chắc chắn cung cấp cho chúng ta một nghiên cứu xác thực. Tôi sẽ cho chị hai thí dụ về sự "tẩu hỏa nhập ma" của những người xuất thân từ giới đại học, thừa phương pháp và thừa phương tiện, được huấn luyện đầy đủ mà rất giỏi hai sinh ngữ Anh-Pháp nhưng ngôn ngữ tối cần--tiếng Việt-- và các yếu tố hệ trọng liên quan đến lãnh vực nghiên cứu Văn học Miền Nam lại không rành. Tôi không có ý nói chung, vì không ai có thể đọc được hết sách, nhưng mấy thí dụ sau đây tại đại học Hoa Kỳ sẽ là bằng chứng và lý do cho phần "san định" trong công việc nghiên cứu của tôi.

 

Vietnamese Literature: An Anthology, Nguyễn Đình Hòa

 

Thí dụ thứ nhất là cuốn Vietnamese Literature: An Anthology  do Đại học San Diego State University xuất bản vào năm 1998 của giáo sư Nguyễn Đình Hòa. Ông là một nhà ngữ học, một tên tuổi rất lớn của nền giáo dục Việt Nam Cộng hòa và sau này, của người Việt tỵ nạn. Đây là tiểu sử của ông mà tôi trích rất đầy đủ để chúng ta tiện phân tích:

 

Sau khi đậu tú tài Triết Học và Văn Chương tại Trường Bưởi năm 1944 và làm việc một    thời gian ngắn tại Hà Nội, ông được học bổng du học Hoa Kỳ. Ông lần lượt tốt nghiệp cử nhân năm 1950 (Union College), cao học năm 1952 và tiến sĩ năm 1956 (New York University). Trong khi theo học ban tiến sĩ về Giáo Dục Anh Ngữ (English Education) tại NYU, ông cũng dạy Ngôn Ngữ và Văn Hóa Việt Nam tại Columbia University. Tiến sĩ Nguyễn Đình-Hòa về nước năm 1957 và ngay sau đó, ở tuổi 33, được bổ nhiệm làm khoa trưởng Đại Học Văn Khoa Saigon (1957-1958). Tại đây, ông cũng là giáo sư Ngữ Học kiêm trưởng ban Văn Minh Anh-Mỹ cho đến năm 1965. Từ 1962 đến 1966 ông đảm    nhiệm chức vụ giám đốc Nha Văn Hóa thuộc Bộ Giáo Dục kiêm tổng thư ký Ủy Hội Quốc Gia UNESCO.  Giáo Sư Nguyễn Đình-Hòa sau đó sang Mỹ dạy học trở lại, lần lượt tại University of Washington, University of Hawaii, và sau cùng được bổ nhiệm làm phó giám đốc (1969-1972) rồi giám đốc Trung Tâm Việt Học tại Southern Illinois University          (Carbondale) từ 1972 cho tới ngày về hưu trí vào mùa hè 1990. Ông đã lựa miền bắc California để về hưu, và tại đây ông được San Jose State University mời giảng dạy ngôn ngữ và văn hóa Việt với tư cách giáo sư ưu vị (distinguished professor) từ 1990 đến           1992.[http://www.viethoc.com/Ti-Liu/bien-khao/but-ky/tiecthuonggiaosunguyendhinh-hoa]

 

Theo tiểu sử đăng trên bìa sau của cuốn sách giáo khoa nói trên, trách nhiệm của ông còn lớn hơn nữa khi tham dự vào việc dự tuyển vào giáo trình và chương trình nghiên cứu về Việt Nam Học tại SIU. Nhưng trong cuốn sách giáo khoa cho sinh viên đại học Hoa Kỳ về Văn chương Việt Nam này, ông đã chọn các tác gia nào trong "Phần Văn học Hiện đại- Thế kỷ XX" và "Phần Văn học Hải ngoại"?

 

Trong "Phần Văn học Hiện đại -Thế kỷ XX", ông chọn toàn các nhà văn nhà thơ Miền Bắc và vài nhà thơ hay nhà văn Miền Nam sau đây: Đông Hồ, Nhất Linh, Hàn Mặc Tử, Lê Văn Trương, Đỗ Thúc Vịnh, Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng. Không có Mặc Đỗ, Bình Nguyên Lộc, Mai Thảo, Sơn Nam, Võ Phiến, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Viên Linh, Cung Trầm Tưởng, Hà Huyền Chi, Du Tử Lê vv và vv (danh sách còn dài), cũng không có một nhà văn nữ nào.

 

Về phần Hải ngoại, tôi chỉ cần nói tới vài người ông không chọn: Mặc Đỗ, Bình Nguyên Lộc, Viên Linh, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên. Vậy ông chọn ai? Ông chỉ quy vào một nhóm rất nhỏ mà, theo tôi, những người trong nhóm này có quen biết ông và lẫn nhau. Ông còn bỏ qua luôn Đoàn Thị Điểm trong phần Văn học Cổ Điển, chỉ nhắc tới trong 1 dòng hầu đính chính rằng Đoàn Thị Điểm không phải là dịch giả của Chinh Phụ Ngâm nhưng không đưa ra được bằng chứng nào.

 

Sự thiếu sót nặng nề của Khoa trưởng Văn khoa Sài gòn/giáo sư (thuộc nhiều đại học Hoa Kỳ) Nguyễn Đình Hòa sẽ không được tha thứ nếu đánh giá theo đúng các phương pháp nghiên cứu tại đại học, bất cứ nơi  đâu, kể cả tại Miền Nam cách đây 23 năm (1975-1998), nơi giáo sư Thanh Lãng đã nỗ lực huấn luyện sinh viên hầu không phạm phải các lỗi lầm quá sơ đắng đó. Chúng ta làm sao giải thích được một sự khiếm khuyết cỡ đó khi phải công nhận rằng, trải qua ba hệ thống giáo dục khác nhau với quá trình được huấn luyện và thử thách trong môi trường khoa bảng, lẽ ra Nguyễn Đình Hòa phải tránh được?

 

Hoàng Văn Chí và Gareth Porter

 

Thí dụ thứ hai là cuộc đối đầu giữa Hoàng Văn Chí và Gareth Porter vào đầu thập niên 1970 tại Hoa Kỳ. Hoàng Văn Chí là ai thì chúng ta đã biết. Ông là tâm điểm của cuộc tấn công của  Gareth Porter, một tác gia/ký giả sau này chuyên về sự tham chiến của Hoa Kỳ vào nhiều quốc gia trên thế giới kể cả Việt Nam, nguyên lúc ấy là sinh viên Ban Tiến sĩ thuộc đại học Cornell. Ông cho rằng đã không hề có một cuộc Cải Cách Ruộng Đất dã man như Hoàng Văn Chí  công bố. Tôi viết về cuộc đối đầu đó, có đoạn như sau: "Cuốn The Myth of the Bloodbath: North Vietnam's Land Reform Reconsider [Huyền       thoại về một cuộc Tắm máu: Xét lại cuộc Cải cách Ruộng đất tại Bắc Việt]:

 

Dưới hình thức một "bản báo cáo nhất thời" ["Interim Report"] dài  59 trang, bản báo cáo này không những được đại học Cornell xuất bản trong một dự án nghiên cứu về Đông Á   mà còn được cổ võ trên tờ nội san sinh viên vào tháng 9, 1972. Một năm sau, vào tháng          9. 1973, một bản ngắn hơn được  phổ biến trên tờ Bulletin of Concerned Asian Scholar           (trang 2-15)..." [Nguyễn Tà Cúc,  Loạt "Bốn mươi năm Cuộc chiến & Văn học Miền      Nam trong ngành nghiên cứu tại Hoa Kỳ", Khởi Hành , số 229-230, Tháng 2&3. 2016, trang 70-87]

 

Trần Văn Dĩnh-- một trong những người mà Gareth Porter trích dẫn vì Porter, theo tôi,  không rành tiếng Việt-- đã bị Hoàng Văn Chí kết tội đạo văn. Trần Văn Dĩnh không những được nhận làm giáo sư tại vài đại học Hoa Kỳ mà còn có sách xuất bản. Theo Hoàng Văn Chí, Trần Văn Dĩnh đã lấy cắp tất cả những câu trích dẫn trong bài của ông ta từ bản dịch của Lê Xuân Thủy. Tác gia này vẫn được coi là dịch giả đầu tiên của Truyện Kiều sang Anh văn với nhan đề Kim Vân Kiều do Khai Trí xuất bản lần đầu năm 1963, Sài gòn. Theo Hoàng Văn Chí:

 

Trần Văn Dĩnh đã chứng tỏ, qua một bài báo có tên "Astounding Captured Document Reveals Mind of Enemy" /Tâm trí của kẻ thù được phát giác qua một một tài liệu (đầy) kinh ngạc (vừa) bị tịch thu", đăng trên tờ Washingtonian xuất bản vào tháng 4 năm 1968, thì không những Trần Văn Dĩnh không có kiến thức tối thiểu về từ ngữ Hán-Việt mà còn phạm tội đạo văn. Trong bài thượng dẫn, Trần Văn Dĩnh sử dụng Truyện Kiều để đặt giả thuyết rằng nếu chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ-- từ tổng thống Johnson cho tới Đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn cùng tất cả nhân viên dân sự và quân sự Mỹ đang phục vụ tại Việt Nam--mà chịu tìm đọc [và hiểu được]  Truyện Kiều thì họ sẽ tránh được nhiều lỗi       lầm nghiêm trọng kể cả những lỗi lầm chết người (trang 45, sđd)... [Nguyễn Tà Cúc, Khởi Hành , số 229-230, Tháng 2&3. 2016]

 

Linh tính của một người phê bình bằng cách đọc báo và làm báo (tôi là Thư ký Tòa soạn Khởi Hành, đảm nhận thêm phần viết "Tin tức", phụ trách mục "Người và Việc" và mục "Điểm sách" từ khoảng 2000 tới 2007 và từ 2010 tới đây) khiến tôi chú ý tới chi tiết xem ra rất nhỏ nhặt này. Thế nên, cũng theo bài thượng dẫn, tôi cần tìm bài báo đó của Trần Văn Dĩnh:

 

Ngày 3 tháng 2, 2016, nhân tình cờ đọc một đoạn thư trao đổi giữa ông chủ bút-43-năm Jack Limpert và ông chủ bút-đã -đăng-một bài -đạo- văn Mark Baldwin, tôi viết thư cho ông Limpert xin bản sao của bài Trần Văn Dĩnh. Ông không có nhưng nội ngày hôm sau      báo cho tôi biết đã nhờ được tòa soạn tạp chí Washingtonian sao cho tôi một bản đầy đủ có cả hình bìa minh họa và một trang "Lời Tòa soạn" giới thiệu bên trong. Chỉ một tuần sau tôi đã nhận được... " [Nguyễn Tà Cúc, sđd]

 

Bìa tờ báo Washintonian do cựu Chủ bút Jack Limbert dàn xếp

gửi cho Nguyễn Tà Cúc khi được yêu cầu

 

Có bài báo này để so sánh với cuốn Lê Xuân Thủy, tôi có thể khẳng định Trần Văn Dĩnh quả phạm tội đạo văn. Từ đó, tôi có thể đặt ngược vấn đề với Phái Tả như Gareth Porter, tới một thời kỳ mà một đại học (Cornell) đã đánh mất vị trí trung lập của mình để ngả hẳn theo một chủ trương chính trị, vô hình chung dùng cả sức nặng có sẵn của một trong những đại học danh tiếng nhất làm thiệt hại tới  một người (cô thế) như Hoàng Văn Chí, trong khi vẫn chưa chứng minh được một cách tuyệt đối Hoàng Văn Chí cố tình nhầm lẫn về con số địa chủ và nông dân bị giết, nhắm sỉ nhục thái độ chống Cộng của ông.

 

Rồi ra, tôi sẽ có dịp xét tới nhiều vấn đề liên quan trực tiếp tới cộng đồng tỵ nạn hải ngoại hay văn sử Miền Nam qua trường hợp của giáo sư John C. Schafer với Vo Phien and the Sadness of Exile và giáo sư/dịch giả Olga Dror với Mourning Headband for Hue: An Account of the Battle for Hue, Vietnam 1968. Hai tác phẩm này đều xuất bản tại Hoa Kỳ.

 

Cả mấy trường hợp thượng dẫn đều có thể được sử dụng để kiểm chứng rằng thiếu hụt hay không có kiến thức về Văn học Miền Nam và/hay về  Cộng đồng văn chương tỵ nạn Việt Nam là hai lý do chính khiến vô số tác gia vấp nhiều khuyết điểm dù phương pháp nghiên cứu của họ phải hoàn hảo vì họ vừa là giáo sư vừa là tác gia. Ngày nay, tại đại học, sinh viên được giáo dục không chỉ để trở thành một người thầy mà còn trở thành một tác gia có sách được xuất bản. "Publish! Publish! And Publish!" Chúng tôi có lần theo học một lớp phân tích lý do thành công của các tác phẩm bán chạy nhất (the best-sellers). Ông Thầy chọn ra mươi tác phẩm. Chúng tôi chia thành mười nhóm. Mỗi nhóm có bổn phận làm một bản tường trình về nội dung, tiểu sử tác giả và bối cảnh xuất hiện của tác phẩm rồi phân tích dựa trên các phương pháp đã được học. Nghĩa là, không phải chỉ viết sách mà còn phải học cách viết sao cho thành công, cho thuyết phục độc giả dù thuộc bất cứ lãnh vực nào. Chúng ta cũng thường thấy bài viết của các tác gia kiêm giáo sư/tác gia xuất hiện trên các nhật báo hay tuần báo danh tiếng. Điều đó tạo nên một sự lo ngại có chứng cớ: Sự sai lầm của các tác gia xuất thân từ môi trường đại học không còn hạn chế trong khuôn viên đại học; trong khi rất khó tưởng tượng-- với những phương pháp chặt chẽ từng được huấn luyện khi còn là sinh viên rồi nay lại đến phiên huấn luyện các thế hệ sinh viên kế tiếp-- họ lại có thể sai lầm có khi trầm trọng đến nỗi không có một sự giải thích nào có thể bào chữa được.

 

Bởi thế, tôi có thể kết luận rằng chúng ta nên lấy làm ngờ vì khoa bảng hay/và danh tiếng chưa chắc đã bảo được phẩm chất của một công trình nghiên cứu. Tuy xuất thân từ đại học Hoa Kỳ, nhưng vì đã có quá nhiều kinh nghiệm trước các trường hợp học-mà-không-hành nổi của một số quý khoa bảng, Ta có Tây cũng không ít, tôi muốn đưa những chứng cớ cụ thể --mà tôi tin rằng ngày nào đại học còn khảo cứu, ngày đó Văn học Miền Nam còn... truân chuyên (mượn lời Phạm Quỳnh: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn) --  khiến tôi cổ võ đặc biệt cho bất cứ  nhà phê bình hay nghiên cứu nào có kiến thức sâu đậm và chuyên môn về ngôn ngữ Việt, nhân chứng, xã hội và văn hóa, văn học Miền Nam 1954-1975 bên cạnh những năm khổ học về phương pháp và lý thuyết phê bình.  

 

Áp dụng bằng bằng phương pháp thâm cứu báo chí

 

Hãy lấy thí dụ Phan Khôi. Cho tới nay, chúng ta đọc được bao nhiêu bài của ông vì chúng chỉ xuất hiện trên báo? Thanh Lãng trước 1975 và Lại Nguyên Ân sau 1975 đã khổ công sưu tập và cho phổ biến nhưng vì trắc trở thời gian và địa lý, tôi tin vẫn có người tại hải ngoại chưa đọc đủ để đánh giá ông. Theo tôi, một nhà phê bình cần có kiến thức căn bản về lịch sử báo chí thế giới và Việt Nam để không tưởng nhầm rằng các bài báo chỉ là sản phẩm nhất thời nếu so với sách, một công trình có thể đã được biên tập nhiều lần trước khi xuất bản. Hơn thế nữa, cũng theo tôi, ở trường hợp Miền Nam, các tạp chí văn học rất khó có thể đóng vai trò quyết định vị trí của một nhà văn hay nhà thơ trong khi báo chí Miền Nam đã tồn tại từ lâu và có sự tham dự của giới cầm bút trước sự khai sinh của các tạp chí văn học đó.

 

Tôi sẽ đưa thêm thí dụ trường hợp nhà thơ Thanh Tâm Tuyền cho dễ hiểu. Ông đã xuất hiện trước khi có tạp chí văn học Sáng Tạo, tháng 10.1956. Vào năm 2011, Dương Nghiễm Mậu cho phổ biến bài "Thanh Tâm Tuyền và những người bạn trước khi có tạp chí Sáng Tạo" tại Hoa Kỳ, có đoạn về Thanh Tâm Tuyền mà chủ đích của bài báo như tên của nó đã biểu thị quá rõ: Đăng những truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Thanh Niên (Hà Nội).
Năm 1954 di cư vào Nam. Hoạt động trong Hội sinh viên, cùng Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Sỹ Tế, Quốc Sỹ chủ trương nguyệt san Lửa Việt (Sài gòn). Năm 1955 cùng các bạn làm tuần báo Dân Chủ của Vũ Ngọc Các và Tuần báo Người Việt


Tuần báo Người Việt giới thiệu dưới đây là Tuần báo Người Việt bộ mới chỉ ra được bốn    số vào cuối năm 1955 [...] Số 4 ra số đặc biệt với chủ đề SÁNG TẠO có 66 trang và có quảng cáo cho số 5 xuất bản vào thượng tuần tháng chạp dương lịch nhưng không thấy ra
Người Việt bộ mới in cỡ 20cm x 27 cm, bìa hai màu, Duy Liêm vẽ bìa và minh họa. Bìa một, trong một khung vuông có in tám chữ cỡ lớn đậm nét: DIỄN ĐÀN TIỀN PHONG ĐẤU TRANH VĂN HÓA, tám chữ này cho thấy phần nào nội dung mà tờ báo hướng tới. Người Việt bộ mới hiện diện ở nửa sau của năm 1955 là một tập hợp đầu tiên giữa    Thanh Tâm Tuyền với những người bạn: Mai Thảo, Quốc Sỹ, Trần Thanh Hiệp, Nguyễn      Sĩ Tế, Quách Thoại...

 

Tôi có được một bản do Dương Nghiễm Mậu nhờ chuyển --vì ông muốn cho tôi thêm tài liệu sau khi được đọc các bài tôi viết về sự thành lập của Sáng Tạo Bách Khoa trong một nội san nghiên cứu trong nước--, nhưng để cho công bằng với độc giả, chị và quý độc giả có thể đọc trên tạp chí Hợp Lưu [Họa sĩ Đặng Hiền Chủ biên, "Thanh Tâm Tuyền và những người bạn trước khi có tạp chí Sáng Tạo"  -    http://hopluu.net/a1661/thanh-tam-tuyen-va-nhung-nguoi-ban-truoc-khi-co-tap-chi-sang-tao]. Vũ Ngọc Các là dân làm báo chuyên nghiệp, tham gia chính trị và qua đời trong trại tù Cộng sản tại Phủ Lý sau 1975 (theo Nguyễn Thạch Kiên, đảng viên Việt Nam Quốc Dân đảng). Hơn thế nữa, bất cứ nhà phê bình nào có được tài liệu này sẽ chú ý đến một đoạn nữa tưởng chừng như không quan trọng nhưng xuất hiện ở một chỗ hoàn toàn khác. Đó là một đoạn trong tập thơ Tôi không còn cô độcNguồn: Tôi không còn cô độc, Thơ Thanh Tâm Tuyền, Người Việt xuất bản. Ngọc Dũng           và Jacques Halpern vẽ bìa. Duy Thanh minh hoạ và Mặc Đỗ trình bày [...]Ngoài những cuốn thường còn in thêm 13 bản quý không bán đề Đỗ Thạch Liên – Mai Thảo - Nguyễn Sỹ Tế - Doãn Quốc Sỹ - Trần Thanh Hiệp – Quách Thoại - Trọng Lang - Ngọc Dũng – Duy Thanh – Hà Việt Phương - Trần Lê Nguyễn - Mặc Đỗ - Đạm Minh [...] In tại   nhà in HỢP LỰC (Việt Nam) xong ngày 15-10-1956, giấy phép số 1160/TXB (3-9-1956). Bản điện tử do Nguyễn Tiến Văn, Đồng Chuông Tử và Phạm Kiều Tùng thực hiện. http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7834&rb=08,]

 

Tại sao lại "Mặc Đỗ trình bày" mà không phải Ngọc Dũng, họa sĩ đã trình bày cho tạp chí Văn Nghệ sau này? Đó là vì có liên quan đến nhà in Hợp Lực. Tại sao lại cần lưu ý đến nhà in Hợp Lực? Vì, theo tôi, có một lý do. Chưa hết, ngoài Thanh Tâm Tuyền, còn có trường hợp một nhà thơ khác: Viên Linh. Viên Linh từng viết về việc ông đập cửa tòa soạn Sáng Tạo, đòi tiền nhuận bút khi Mai Thảo đăng thơ ông. Trong một bài hồi ức về bài thơ "Mang Mang" của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, ông cũng từng viết về việc Nguyên Sa không hỏi ý trước mà dám lấy thơ đăng trên Hiện Đại khiến ông tới tòa soạn mắng mỏ nhưng chỉ gặp Thái Thủy:   [...]  Năm 1959, trong một lúc sa xảy với nghề báo, tôi theo bạn lên dạy học tư ở Ban Mê Thuột. Rời Sài Gòn tạm một thời gian, sách vở đồ đạc nặng gửi lại nhà một đồng nghiệp,       thình lình một hôm nhà giáo dạy cùng trường Bạch Đằng đưa cho tôi xem tờ tạp chí Hiện     Đại. Trên cùng một trang báo có bài thơ “Phượng Liên” của tôi đăng dưới bài “Mang Mang” của Hoang Vu. Tôi không gửi thơ cho Hiện Đại, mà do người bạn nơi tôi để lại đồ đạc sách vở, đã lấy bài thơ tôi viết cho em Phượng Liên ở Huế, cũng là bạn chung, và là bạn thư từ với tôi, đưa cho Nguyên Sa. Như Võ Phiến nhớ đúng khi anh viết đã đọc thơ phiếm của Thần Ðăng (Ðinh Hùng) và thơ tôi trên Ngôn Luận (giai đoạn 1954). Tới năm           1960 tôi đã có vài chục bài thơ đăng trên các tạp chí Văn Nghệ, Sáng Tạo, Thế Kỷ 20, Gió Mới, nhưng Nguyên Sa viết như đây là những cây bút lần đầu xuất hiện, mặc dù    anh có thòng một câu kiểu búa lớn: “Có phải nỗi buồn tập hợp trên mắt những người trẻ tuổi ấy phảng phất niềm đau       của thế kỷ bây giờ?” ...Tôi đã leo lên lầu cao ốc Mai Loan   nơi đặt tòa soạn Hiện Đại để chất vấn, vì không ai chọn thơ của người đã có thơ in từ sáu      năm trước, với một anh in thơ lần đầu, nhưng chỉ gặp Thái Thủy..." [Viên Linh, "Thơ Nguyễn Xuân Hoàng", https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/Tho-Nguyen-Xuan-Hoang-3855/. Ngày 14. Tháng 8. 2013]

 

Về Hiện Đại, tôi có hỏi riêng Thái Thủy về việc Viên Linh, vào ngày 29.7.2006, khi tạp chí Khởi Hành và nhật báo Người Việt tổ chức một buổi mừng nhà thơ Thái Thủy và chương trình Tao Đàn mà ông là một thành viên Ông cười: "May mà Nguyên Sa không có mặt hôm ấy..."

 

 

Nhân chứng thứ hai là nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, Thư ký Tòa soạn tạp chí Văn trước 1975. Trước ông là Trần Phong Giao, sau ông là Mai Thảo. Ông xác nhận vụ Viên Linh rất phân minh về chuyện "nhuận bút" (vì tự coi là một người chuyên nghiệp) và nổi tiếng "khó khăn" khi giao thơ văn cho ai đăng, kể cả tạp chí Văn. Sự kiện một nhà thơ đòi tiền nhuận bút từ Mai Thảo-Sáng Tạo và không cho phép Nguyên Sa-Hiện Đại đăng thơ của mình cho thấy, không những vị trí của họ, mà còn vị trí các tạp chí văn học đó nữa với một số nhà văn hay nhà thơ không cùng nhóm, những người độc lập và tự tạo tên tuổi của mình.

 

Tôi còn có thể kể thêm nhiều thí dụ khác. Bùi Giáng và Cung Trầm Tưởng đã xuất hiện trên tạp chí Phổ Thông của các sinh viên Luật tại Hà Nội. Các sáng tác của Mặc Đỗ lần đầu cũng trên Phổ Thông. Rồi vị trí của Nguiễn Ngu Í? Nguiễn Ngu Í tạo thêm uy tín cho tạp chí Bách Khoa hay ngược lại? Nói chung, một nhà phê bình có quyền nhưng sẽ phải chuẩn bị để giải thích lý do khi  ấn định tiêu chuẩn hầu gộp một số tác gia rồi phân định vị trí của họ thuộc một thời kỳ nào đó trong một nền văn học; nhưng lý do không am hiểu giai đoạn đầu đời của một tác gia với sáng tác có thứ hạng nào sẽ không bao giờ được chấp nhận.

 

Khó khăn đối diện ngành Phê bình Văn học Miền Nam, Hải ngoại

 

Đọc tới đây, hẳn chị có thể tượng tượng ngành phê bình Văn học Việt Nam hay Miền Nam tại hải ngoại gặp nhiều trở ngại như thế nào. Riêng Văn học Miền Nam quá đa dạng để quy sức mạnh hay trọng tâm của nó vào bất cứ nhà văn/nhóm văn nghệ nào. Nghĩa là không bao giờ có thủ lãnh văn chương trước và sau 1975 trong Văn học Miền Nam. Khi đi qua một cánh đồng có những "cối xay gió", tôi vẫn liên tưởng tới Văn học Miền Nam. Mỗi nhà văn danh tiếng hay mỗi nhóm nhà văn là một "cối xây gió" tạo nên nhiều cơn gió gây nên cơn lốc trong văn sử Việt Nam. Đó là lý do tôi quan niệm chỉ có trang bị phương pháp và lý thuyết  không thôi cũng chưa đủ.  

 

Nếu nói về tương lai của ngành nghiên cứu cơn lốc đó, tôi đã bớt tin tưởng vào giới đại học Hoa Kỳ; nhưng đằng khác, rất lạc quan về một thế hệ mới tài năng hơn tại hải ngoại hay trong nước. Điều tôi nhận ra, sau khi trở lại Penn State,  là chính chúng ta phải cung cấp tài liệu và nhân chứng cho họ --các thế hệ trẻ hơn đang nghiên cứu trong và ngoài nước--dù bằng tiếng Việt hay CỨ bằng tiếng Việt. Chúng ta là nhân chứng mà không cung cấp tài liệu cho họ thì ai sẽ cung cấp? Cũng đừng lo lắng về sản phẩm của loại "trăm hoa đua nở, nhà nhà ...mang tiếng phê bình" dù được sản xuất tại đâu vì chúng sẽ không tồn tại. Thời gian là một thử thách công bằng. Huống chi viết phê bình mà thiếu tài liệu/văn bản gốc và nhân chứng, không am hiểu vấn đề tới kỳ cùng hay có khi cố tình ngụy chứng? Ngành nào cũng vậy, ở đâu cũng vậy, cũng có những khám phá có khi đến rất chậm, nhưng sẽ đến.

 

Lẽ ra chúng ta kết thúc tại đây, nhưng hình như chị nên hỏi tôi một câu nữa:

 

Có khi nào tôi "phân vân" khi e rằng tình cảm đối với đối tượng nghiên cứu (đồng thời cũng là bạn rất thân hay quen biết) ảnh hưởng vào kết quả các cuộc nghiên cứu không?

 

Tôi sẽ trả lời: Không, không khi nào. Mặc Đỗ gọi đùa tôi là Tào Tháo chỉ vì tôi không tin ai khi nghiên cứu, kể cả bạn hữu, vì tôi không viết phê bình để bênh vực bạn tôi. Mọi tin tức họ cung cấp đều được kiểm chứng và so sánh với nhiều tài liệu liên hệ của các nguồn khác. Tôi  thường sử dụng tác phẩm và tài liệu, hiếm khi phải dùng đến thư riêng như những lá thư mà Mặc Đỗ cho phép giữ lại hầu làm sáng tỏ mấy vấn đề liên quan đến ông, nhóm Quan Điểm.

         

Nhưng nếu chọn để phổ biến, như trong một bài sắp tới đây, tôi sẽ theo phương pháp sử dụng thư riêng nhắm kiểm chứng một lần nữa những vấn đề đã từng được xác nhận bằng tài liệu trong các bài trước. Ngoài ra, những lá thư riêng này chỉ được phổ biến khi có thêm vấn đề mới cần chứng minh, thí dụ về bút hiệu của Mặc Đỗ hay quyết định cho phổ biến "Mộng một đời" ngay khi còn sống, sau khi đã phó thác tâm sự ấy cho tổng cộng 3 người. Nghĩa là, bằng thư riêng, chúng ta sẽ có cơ hội xét đến hoạt động văn nghệ của một tác giả khi so sánh với các tài liệu bằng văn bản và tác phẩm đã được phổ biến trước đây để công bằng hơn cho tác giả đó.

 

Tôi cũng có thể giữ được một khoảng cách giữa tôi và đối tượng nghiên cứu chỉ vì một lý do tầm thường: Tôi không quan tâm đến đời riêng của họ. Tôi chỉ hỏi những gì tuyệt đối phải hỏi, vào lúc cần hỏi, với nhu cầu chính đáng. Thí dụ như hoạt động chung với nhà thơ Viên Linh từ 1996, nhưng tôi chỉ hỏi ông về hoàn cảnh loạt thơ "Bài Kim Xuyên" hay bài thơ "Bài Phượng Liên" khi  muốn tìm hiểu về Thủy mộ quan. Tôi muốn kiểm chứng giả thuyết Viên Linh không hề làm thơ tình mà, ngược lại, thơ ông làm tôi liên tưởng tới Quỷ Thi của nhà thơ Trung Hoa Lý Hạ hay các tập thơ về Địa phủ của các nhà thơ Tây phương.

 

Tôi không hỏi những câu ngớ ngẩn chỉ vì hiếu kỳ. Họ cũng không biết rõ lắm về đời riêng tôi đâu vì cũng không dám hỏi những câu ngớ ngẩn vì hiếu kỳ! Mặc Đỗ gọi đùa tôi là Trương Phi vì đã chứng kiến thái độ đối với những kẻ đụng chạm vào đời riêng tôi.

 

Những đối tượng nghiên cứu đó, một đằng có thể yên tâm tôi đủ bản lãnh và công tâm phân tích tác phẩm của họ một cách chính xác; đằng khác, không phải e ngại rằng, một ngày xấu trời nào đó, tâm sự của họ sẽ bị phơi trên giấy báo chỉ để phô phang một cách rất tầm thường tôi là bạn (thân) của họ. Thế nên, đó là phương pháp nghiên cứu phải tuân theo tuyệt đối: sống để dạ, chết mang đi nếu lỡ tin tức hay tài liệu nào lọt vào tay tôi mà không dính dáng gì đến chủ đề nghiên cứu. Tôi có thể cam đoan điều này với chị và độc giả, nhất là với rất nhiều độc giả đã viết thư cho tôi: Mọi thư từ đều đã bị tiêu hủy. Còn một số thứ cần thiết cho việc nghiên cứu hay viết các loại sách khác thì hiện lưu trữ tại một văn phòng luật sư vì tôi đã đánh máy lại những đoạn muốn sử dụng nên không có nhu cầu giữ lại bên tôi. Ngày nào tôi qua đời, chúng sẽ được văn phòng Luật đó tiêu hủy theo.

 

Lê Thị Huệ: Chị là con gái trong một gia đình Bắc Kỳ di cư 1954 vào Sài Gòn ? Thời trung học chị học ở đâu?

Nguyễn Tà Cúc: Gia đình tôi di cư vào Nam khoảng cuối năm 1953. Tôi sinh ở Nam Định nửa năm trước khi gia đình ra đi. Tuy là Bắc- kỳ-di-cư nhưng, theo quyết định của ông thân sinh, tôi lại tòng học tại trường Nữ Trung học Gia Long, một ngôi trường có lịch sử lâu đời với biệt danh Trường Áo tím với đại đa số học sinh là người Nam. Hồi đó, sĩ số một lớp vào khoảng 60 học sinh mà chỉ có vẻn vẹn 3 cô Bắc kỳ di cư. Nhờ đó, tôi nói được tiếng Nam tuy vẫn phải tuyệt đối nói tiếng Bắc trong gia đình. Tôi có một giọng Bắc kỳ rất cổ, rất trầm, dễ gây cảm tưởng già nua tuồi tác lại thập phần kỳ quái khi thốt ra từ miệng một cô bé 5, 6 tuổi. Thuở mới lớn, tôi càng ít nói hơn vì có mặc cảm với giọng nói "như ma nhập". Bởi thế, tôi nói toàn tiếng Nam cho chắc ăn. Bùi Giáng phải gặp tôi lần thứ ba mới biết tôi là người Bắc. Tôi không ngờ, ngày nay, cái giọng Bắc kỳ (9 nút) cổ điển ấy lại được chuộng khi so sánh với giọng Bắc kỳ lên xuống bất thường có biệt danh "Bắc kỳ 2 nút." Nhưng đó chỉ là tiểu tiết. Kinh nghiệm giữa 2 cuộc di cư mới thuộc vào "đại sự". Cuộc di cư lần thứ nhất cho tôi một cơ hội hòa trộn hoàn toàn vào miền đất mới. Dù vẫn giữ văn hóa Bắc kỳ, giữ được giọng nói "như ma nhập", tôi đã trở thành một người Nam kỳ chính hiệu. Cuộc di cư (di tản) lần thứ hai cũng cho tôi một kinh nghiệm tương tự. Lần này, trở thành một  người phê bình có căn cước Việt Nam nhưng đồng thời, đã trở thành một người Hoa Kỳ chính hiệu có gốc tỵ nạn, tôi có dịp nhìn vào những tranh luận hay giả thuyết nhân danh người Việt Nam và/hay nhân danh người Hoa Kỳ với một khuynh hướng đa diện hơn. Sự đa diện ấy cung cấp cho tôi một chiếc kính chiếu yêu (cứ cho là như thế) vả cho phép tôi đề cập đến một số tác giả hay dịch giả, người Việt hay người Hoa Kỳ, sinh sống trong và ngoài Việt Nam. Số tác giả/dịch giả này --danh tiếng và/hay xuất thân từ môi trường đại học-- có lẽ không ngờ họ không đủ kiến thức chuyên môn và/hay chính xác về điều họ đang cố gắng chuyển tải và/hay thuyết phục người khác liên quan đến tình cảnh Văn học Miền Nam, Chiến tranh Việt Nam hay tâm cảnh người Việt Nam, nhất là về tâm cảnh của người Việt tỵ nạn chúng ta.

           

(còn tiếp)

 

http://www.gio-o.com/NguyenTaCuc.html

 

 

© gio-o.com 2018