Trở Thành Một Nhà Phê B́nh Văn Học

 

Nguyễn Tà Cúc

 

 

phỏng vấn bởi Lê Thị Huệ

 


(kỳ 1)

 

bấm vào đây đọc: kỳ 1, kỳ 2, kỳ 3, kỳ 4, kỳ 5, kỳ 6

 

 


Nguyễn Tà Cúc
qua nét họa của họa sĩ Duy Thanh

 

 

 

 

Nguyễn Tà Cúc là một cây viết nữ phiêu lưu vào phê b́nh văn học, gây khá nhiều đấu đá giữa chị và những tên tuổi lẫy lừng khác của văn chương Miền Nam và Văn Chương Hải Ngoại. Cuộc phỏng vấn là một cuộc đối thoại giữa hai người đàn bà tham gia sinh hoạt viết ở hải ngoại, như một cách ṃ mẫm t́m hiểu nhau, mà đôi khi độc giả có thể thấy ẩn bên dưới những câu chữ dao búa ấy, là một giao thông hào cố gắng đả thông hay tô màu những khác biệt bất khả kháng của một sinh hoạt viết vốn đầy cá tính. (lê thị huệ 18.02.2018)

 

 

 

Lê Thị Huệ: Chào chị Nguyễn Tà Cúc, nếu chỉ nói 5 điều về ḿnh, chị sẽ tự giới thiệu về ḿnh với độc giả Gió O như thế nào ?

 

Nguyễn Tà Cúc: Tôi đề nghị được đưa một số nhận xét đă phổ biến của vài bạn thân hoặc người quen để cân bằng với nhận xét của chính tôi: Đường đời thẳng thế cứ đi ngang (nhà thơ Hà Huyền Chi), quả giao (kư giả Lô-răng Phan Lạc Phúc), Nóng như Trương Phi/ Đa nghi như Tào Tháo (nhà văn/dịch giả Mặc Đỗ), ngại phải phát biểu trước đám đông, tối tối tối kỵ khi bị đàn ông không quen/quen sơ sài gọi bằng "em" hay bằng tên (mà không có "chị" hay "cô" đi cùng).

 

Trước khi quư ông "nam...phiệt" toan tính phản đối hay nghi ngại rằng sự "tối kỵ" ấy phát sinh từ xứ Bắc chỉ v́ quê tôi ở Nam Định, tôi xin được tự vệ trước mà bầy giải thêm rằng cái "phong tục" ấy c̣n áp dụng ở Miền Nam. Trong bài " 'Tôi' hay là 'em'" (mục "Câu chuyện mỗi tuần", Phụ Nữ Tân Văn, Số 67, 25 Tháng Chín 1930),  bà Chủ nhiệm sáng lập Nguyễn Đức Nhuận đề nghị chị em "viết văn" hay ngoài đời, hăy "bỏ chữ 'tớ' và chữ 'em' " mà xưng "tôi" như "mọi người".

 

Lê Thị Huệ:  Chị bắt đầu viết phê b́nh văn học tại hải ngoại từ bao giờ ?

Nguyễn Tà Cúc: Tôi bắt đầu chuyên về Văn học Miền Nam và Chiến tranh Việt Nam & Văn học Miền Nam  khoảng 1996.

 

Lê Thị Huệ:  Chị nhận ḿnh là nhà phê b́nh. Chị có học qua những bằng cấp nào về ngành phê b́nh văn học?

Nguyễn Tà Cúc:  Tôi tốt nghiệp ngành Hoa kỳ Học, không chuyên về ngành văn chương.  Tôi có lối phê b́nh riêng áp dụng những phương pháp căn bản của ngành phê b́nh cộng với sự thẩm cứu theo  tiêu chuẩn của báo chí. Lối phê b́nh ấy là kết quả của kiến thức thu thập được từ bốn năm đại học ở Việt Nam; mười lăm năm tự học bằng sách và báo chí (cũng cốt để sửa soạn trở lại Penn State University hoàn tất việc học dở dang từ năm 1980);  và trước sau tổng cộng hơn bốn năm, có lẽ là 5 năm hơn nếu kể cả học hè, tại một  đại học Hoa Kỳ.

 

Tôi đă theo học tại 3 đại học với 3 ngành không liên hệ với nhau. Thoạt tiên, tôi học Đại học Khoa học, rồi Báo chí tại Đại học Vạn Hạnh sau khi thi trượt vào Y khoa.  Tôi chọn không học Y khoa nữa sau khi chứng kiến nhiều cảnh ghê gớm của cuộc chiến, dù nếu cố th́ chắc cũng thoát được cuộc thi tuyển vào năm đầu. Năm đầu  Khoa học ngành tôi, sinh viên bị buộc phải mổ một số động vật như chim, cắc kè, cá... Hồi đó, Đại học Y khoa đ̣i hỏi phải có một năm của Khoa học mới cho phép dự thi nên môn mổ "của chuột và người" này là một môn căn bản. Nếu cắt phạm quá nhiều sẽ bị trừ điểm, có khi chỉ c̣n gần một số zero to tướng. Ớn nhất là phải mổ cắc kè. Tôi vốn kinh sợ thạch sùng, cắc kè (một thứ phobia v́ không hề sợ chuột, dán, possum...), nhưng  lúc ấy, viễn tượng bài thi cuối năm buộc tôi phải vượt qua dù toàn thân loạng choạng, run rẩy và lạnh giá không ngừng. Một anh phụ giảng, không ngại ông thầy có mặt hay  "nam nữ thụ thụ bất thân", đă chạy ào tới xoa dầu vào hai thái dương rồi dùng một chiếc khăn tay buộc bàn tay phải của tôi vào con dao mổ cho khỏi đánh rơi.  Sau khi mổ xong, tắc kè đầy mùi nồng nặc của chất ướp giữ không bị hỏng c̣n tôi đầy mùi dầu gió Nhị Thiên đường.

 

Tôi nhắc tới một kỷ niệm có thể vô thưởng vô phạt nhưng đă hằn một chấn động trong tâm linh để chị hiểu kỷ niệm ấy, sau này, trở thành bài học nhập môn hết sức bất ngờ và cực kỳ quan trọng cho một ngành tôi lại không chọn ngay từ đầu. Đó là một bài học không những cảnh cáo về sự chính xác tuyệt đối khi phải duy tŕ nỗ lực trong mọi điều kiện; mà lại c̣n dậy tôi phải biểu dương tinh thần phê b́nh và tranh luận với sự vị tha. Đó là sự đụng chạm với tử thần đúng nghĩa đen--hàng trăm con cắc kè ấy đă v́ chúng tôi mà bị bẫy rồi bị giết-- tới sự phi lư về kiếp sống hữu hạn của một sinh vật trước đó vẫn tràn sinh lực, chạy nhẩy trong vũ trụ lănh đạm, sẽ lănh đạm với cả tôi. Bởi thế, tôi vẫn hy vọng, sau những trầm tư về tác giả và tác phẩm, nghiên cứu nào cũng sẽ trở nên một con chim phượng hoàng. Phượng hoàng tôi sẽ hồi sinh được những thành quách cổ kính huy hoàng ch́m đắm dưới bao lớp địa tằng, chứ không biến thành một thứ ác điểu hau háu sống nhờ trên xác chết của những con chữ.

 

Năm thứ 2 tại Vạn Hạnh trở thành năm quyết định hướng đi của tương lai chỉ v́ một lư do xem ra không quan trọng: Giáo sư Hoàng Minh Tuynh coi tôi như một sinh viên đáng được nâng đỡ và cho phép tới nhà dự các cuộc họp bạn tại tư gia. Tại đây, tôi gặp Linh mục Thanh Lăng và được đọc một số sách giáo khoa  quay ronéo dành cho sinh viên Văn Khoa. Hồi đó, tôi hầu như không đọc thơ văn Miền Nam nhưng rất thích đọc loại sách lư luận. Đó là lần đầu tôi học hỏi, dù không chính thức, về cách viết một bài tiểu luận theo đúng nguyên tắc đại học ngoại quốc. Đó cũng là lần đầu tôi khám phá báo chí với các tiêu chuẩn chặt chẽ cũng là một khu vực cần tham khảo khi được Thanh Lăng lưu ư. Năm 1978, tôi được nhận vào năm thứ 3 ngành Civil Engineering thuộc Penn State University v́ họ căn cứ vào thẻ sinh viên của Đại học Khoa Học cùng cuộc khảo sát chớp nhoáng với vị Khoa trưởng. Nhưng tôi xin được đổi ngành v́, ngay từ hồi đó, tôi đă muốn t́m hiểu về Chiến tranh Việt Nam trong bối cảnh của lịch sử Hoa Kỳ, nhất là lư do họ đă đón nhận người Việt tỵ nạn dù xem ra họ chống lại sự tham dự vào cuộc chiến. Nếu  không đổi ư, tôi đă có cử nhân Khoa học và sẽ không có một Nguyễn Tà Cúc như ngày nay.

         

Hoa kỳ Học tự nó là một môn học đa-nhánh (interdisciplinary study) gồm rất nhiều lănh vực như lịch sử, văn hóa, văn học, tôn giáo, nghệ thuật, âm nhạc, nữ quyền, căn cước quốc gia và sự thành lập cũng như mức tiến triển của các cộng đồng di dân vv. Ở mức Cao học, mọi môn học tự nó đă đ̣i hỏi một kiến thức căn bản về Hoa kỳ, về lư luận văn học và phương pháp phê b́nh.  Bởi thế, một sinh viên Cao học không tránh khỏi phải có sức học liên quan đến rất nhiều thứ khác khi cần phân tích một tác phẩm theo các trào lưu văn triết học thế giới. Chẳng hạn như giáo sư/nhà phê b́nh Hoa Kỳ David Halliburton, vào năm 1973, trở thành người đầu tiên sử dụng Hiện tượng luận (vốn xuất phát từ Âu châu giữa thế kỷ XIX) nhắm phân tích và tiếp nhận các tác phẩm của Poe. Năm 1989, ông tŕnh bày mối liên t́nh giữa nhiều tác phẩm của nhà văn Stephen Crane, tác giả tiên phong của Chủ nghĩa Tự nhiên tại Hoa Kỳ--trong đó có truyện Maggie: A Girl in the Street mà Lê Huy Oanh dịch với nhan đề Nửa đêm ngoài phố--với hệ thống tư tưởng của các triết gia như Max Weber, William James và Jean-Paul Sartre vv. Hai tác phẩm của Halliburton trở thành sách giáo khoa mà chúng tôi phải đọc kỹ, dẫn đến hậu quả là muốn hiểu, chúng tôi cũng phải biết, dù sơ sài tới đâu, về Hiện tượng luận, Hiện tượng luận Hiện sinh; Chủ nghĩa Hiện thực, Chủ nghĩa Tự nhiên, vv.  Cũng như với các tác phẩm khác, một sự hiểu biết căn bản về triết thuyết và chủ trương  của các triết gia Edmund Husserl, Martin Heidegger, Maurice Merleau-Ponty vv. cũng sẽ cần thiết để có thể lập sơ đồ của một cây vươn những nhánh liên hệ sang những cây khác, tạo nên rừng văn chương Tây phương  trông sang khu rừng Hoa Kỳ. Khu rừng đó có thơ của Emily Dickinson, thi sĩ hàng đầu thế giới với những câu như "My Life has stood- a Loaded Gun...", mà mỗi lần nhắc đến với một số độc giả như tôi, sẽ không cách nào không h́nh dung tới Søren Kierkegaard, triết gia/thần học gia vẫn được coi như cha đẻ của thuyết hiện sinh, một thuyết đă có nhiều môn đồ danh giá.

 

Tương tự, khi học về Nữ quyền Hoa Kỳ, cũng không cách nào tránh khỏi phải biết về lịch sử Nữ Quyền Thế  giới. Ngoài ra, tuy không bị bắt buộc, tôi c̣n học thêm nhiều lớp chuyên về văn chương Anh, văn chương Thế giới, văn chương của Các Nhà Văn Nữ và 3 lớp Thần học/Triết học Hoa Kỳ-Thế giới v́ không ai mon men bàn tới văn chương và hội họa Tây phương, Đông phương hay Hoa Kỳ với đẩy dẫy ẩn dụ mà không t́m học về cuốn Kinh Thánh hay các cuốn Kinh, nguồn của chúng. Tôi c̣n may mắn hơn nữa khi ngay vào năm đầu Cao học cũng là năm đầu tiên mà Penn State Univerity mở ban Tiến Sĩ ngành Hoa kỳ Học tại campus nơi tôi theo học. Nhờ thế, có vài lớp các sinh viên Tiến sĩ này học chung với chúng tôi. Họ dậy tôi mấy bài học nhập môn về tiếng Latin, tiếng Đức và tiếng Hebrew-- khi biết tôi nghiên cứu về cuốn Kinh Thánh Tin Lành Việt ngữ --mà nay tôi đă quên tiệt hết. Những khi phải t́m hiểu một đoạn tiếng Pháp hay tiếng Đức, tôi đều phải nhờ họ hoặc dịch hộ hoặc chứng giám v́ phải trích dẫn từ nguyên bản của tác giả. Bây giờ th́ dễ rồi, có Google, có nhiều website phiên dịch, nhưng vẫn rất dễ...bỏ mạng. Hay thậm chí có lớp tôi được dự thính v́ các giáo sư thông cảm với hoàn cảnh và tâm nguyện của tôi khi trở lại trường. Tầm mắt tôi cũng được mở rộng bằng những cuộc thăm viếng các bảo tàng viện, hầu hết ở New York. Từ một sinh viên có thể nói rất nghèo, nghèo đến nỗi không mở máy sưởi trong mùa đông, tôi đă được ân sủng chiêm ngưỡng vô số bức tranh của các họa sĩ nổi tiếng, chứng kiến những mẩu lịch sử chứa đựng dưới lát màu nghệ thuật. Tôi trở lại Harlem, nơi được coi là thánh địa của Nhạc Jazz. Sống tại Pennsyvania 3 năm, tôi cũng may mắn được ngắm hàng ngàn tấm "quilt", nhất là của người Amish và tín đồ Quaker, một thứ nghệ thuật nay không c̣n giới hạn trong ṿng đai của đất nước này. Tôi cũng đă có dịp gặp nhiều tín đồ Mennonite, một giáo phái có nhân viên tín đồ tuy phục vụ nhưng không có cảm t́nh mấy với Miền Nam trong thời chiến. Cuối năm nay, tôi sẽ có dịp tới thăm New Orleans, một thánh địa khác của Nhạc Jazz. Mọi ngành nghệ thuật thượng dẫn đều có phương pháp để thực hiện, lưu truyền và làm mới qua nhiều thế hệ, chứ không "may rủi" chút nào.

 

Từ những cuộc marathon học hỏi từ bạn đồng môn cho tới những cuộc đi-để-học đă cho tôi thấy nhỡn tiền tại sao ngành phê b́nh là một ngành cực kỳ khó khăn. Ngoài phương pháp mà ai cũng có thể học một cách khá dễ dàng --v́, ngoài phương pháp cho riêng ngành đă chọn, trước sau cũng chỉ có một số phương pháp căn bản có thể áp dụng chung để tránh các lối "ngụy thuyết" [fallacy] khi lập luận--, c̣n cần tới kiến thức chuyên môn, nghĩa là ít nhất thêm một ngoại ngữ ngoài Anh ngữ cộng thêm ngôn ngữ sử dụng  trong lănh vực khảo cứu (trường hợp tôi là Việt ngữ và Anh ngữ) rồi phải cải tiến từng ngày với các nghiên cứu mới và khám phá mới. Người trong  ngành chỉ cần nh́n vào thư mục của một cuốn sách sẽ biết ngay giá trị tham khảo; rồi qua đó, đoán được tài năng áp dụng phương pháp nghiên cứu của tác giả. Dĩ nhiên tôi đang nói tới môi trường khảo cứu của giới chuyên môn, không phải tác phẩm của những người chỉ  thu nhặt các bài Giới thiệu (Introduction) làm sách của ḿnh.

 

Thêm vào đó, như đă nói, đại đa số nghiên cứu của tôi c̣n có ảnh hưởng trực tiếp từ ngành báo chí. Đó là một ngành sống động cho phép chúng ta sử dụng các phương pháp như nhân chứng, tài liệu, thống kê, phỏng vấn vv. để khám phá uẩn khúc một vấn đề hay giới thiệu một tác giả. Tôi luôn luôn cần mua những cuốn tuyển tập in lại các bài báo đă đăng trên một tạp chí nổi tiếng có khi đă hiện diện hàng trăm năm; hoặc những bài báo, không chỉ của một tác giả mà nhiều tác giả tranh luận hoặc góp ư về một vấn đề nay chỉ c̣n lưu giữ được trên một tờ báo. Các kư giả hành nghề lắm khi  phải chịu áp lực của chính phủ đương quyền hay có khi cả công chúng v́ đưa ra những kết luận trái ngược hoặc không hợp ư một giới nào đó.

 

Nói một cách đơn giản, tôi hoàn toàn không tin một người có thể phê b́nh về Văn học Miền Nam và Chiến tranh Việt Nam mà không có kiến thức về văn chương và lịch sử của Việt Nam Cộng ḥa và Hoa Kỳ cùng những phương pháp đă được người trong ngành sử dụng.

 

                   

Lê Thị Huệ:  Một trong những thất bại của các nhà phê b́nh văn học Việt Nam từ trong nước ra đến hải ngoại, theo tôi, là họ không được huấn luyện phê b́nh văn học một cách chuyên môn từ ban ngành văn chương, từ đại học (uy tín!) nào cả. Họ viết phê b́nh mà không được huấn luyện ǵ về các phương pháp phê b́nh văn học, không học tập chính thống tí ǵ về các lư thuyết phê b́nh văn học. Có quá nhiều người nhảy ngang đi tắt nên các sách phê b́nh văn học của họ nên được xét lại. Sáng tác th́ không cần huấn luyện chuyên môn, nhưng phê b́nh văn học, theo tôi, cực kỳ cần bằng cấp chuyên môn. Càng chuyên môn càng tốt, càng được huấn luyện từ các đại học uy tín càng tốt, càng bằng cấp cao càng tốt mà tiêu chuẩn đương đại phải cỡ Ph.D tiến sĩ. Tiêu chuẩn văn chương Mỹ c̣n đ̣i họ nên từng đă thiết lập uy tín từ các bài phê b́nh được duyệt qua trên các tạp chí Phê B́nh Văn Học (Literary Criticism Journal) do các đồng nghiệp trong ngành (Peer Review) lượng giá.  

 

Nguyễn Tà Cúc:  Tôi đoán là chị bắt buộc phải hỏi tôi câu này! Khó đấy: Tôi nên trả lời thế nào để khỏi "tuyên chiến" với rất nhiều-nhà này không? H́nh như đây lần đầu tiên trong sinh hoạt văn học nghệ thuật hải ngoại,  giới -thi -sĩ bị tước căn cước quư tộc khi chính thức bị giới- phê -b́nh đẩy lùi về cả sĩ số lẫn thế giá! Tôi biết có một trường hợp mà chưởng môn Thơ Lục bát bị phỏng vấn. Câu đầu tiên của nhà-phê-b́nh này là "Anh có làm thơ lục bát không?" Vị chưởng môn đó lặng lẽ chấm dứt ngay để c̣n can đảm tiếp tục làm thơ lục bát.

 

Tôi phải thành thực mà công nhận nhận xét đó đúng và không chỉ riêng chị mới có. Phương pháp và lư thuyết ít nhất cho người ta hành trang cần thiết trước khi tham dự công việc phê b́nh, cũng như trước khi được cấp bằng lái xe, chúng ta phải tập quẹo cho ôm lề, phải biết ngừng khi có đèn đỏ vv. Sau đó, có chạy nổi trên đường trường xa lộ California sẽ tính sau. Thế nên, tự căn bản, rất nhiều người không phải là nhà phê b́nh. Nhưng h́nh như đó là thế giới của chúng ta. Có người làm ca sĩ mà không biết hát. Có người làm thợ may mà không biết may. Có người không biết làm thơ mà cứ làm thơ. Có người không biết nghiên cứu mà tự nhận nhà phê b́nh th́ cũng thường thôi.

 

Nhưng những nhà phê b́nh xứng danh th́ họ đáng được chúng ta khâm phục. Tôi rất hân hạnh và may mắn được đọc cuốn Những cạnh khía của Lịch sử Văn học (thuộc Tủ sách Hiểu Việt Nam, Nhà Xuất bản Hội Nhà văn, 2016, Hà Nội), một tuyển tập phê b́nh tập trung các tiểu luận về lịch sử văn học Việt Nam Thế kỷ XX của các tác gia thuộc thế hệ trẻ hơn trong nước [Chủ biên Đỗ Lai Thúy, Phùng Kiên, Cao Việt Dũng, Nguyễn Mạnh Tiến, Trần Ngọc Hiếu, Mai Anh Tuấn và Đoàn Ánh Dương], trong số có người đă từng du học tại ngoại quốc. Họ áp dụng nhiều phương pháp và lư thuyết, kể cả phương pháp và lư thuyết Tây phương, vào sự nghiên cứu rồi phê b́nh các tác phẩm Việt Nam và Miền Nam, một cách rất hàm xúc, khúc chiết và thuyết phục. Tôi tin tưởng rằng ngành phê b́nh trong nước, nói chung, thực hiện được chức năng của họ bên cạnh những nhà phê b́nh can đảm của thế hệ trước. Phần khác, tôi càng tin tưởng rằng, những bất cập của một số nhà phê b́nh khác sẽ không thể che giấu được khi người đọc, nhất là người trong ngành, có dịp so sánh họ với các nhà khác, trong và ngoài nước. Từ trong ngành, tôi có thể bảo đảm với chị rằng chúng tôi dư biết họ là ai và không bao giờ chú ư tới họ. Nếu có, cũng chỉ để sát phạt, không để tranh luận.

 

Vấn đề ở đây, đối với lănh vực mà tôi chọn (Văn học Miền Nam) th́ Tài liệu/Văn bản Gốc và Nhân chứng trở nên yếu tố và điều kiện quan trọng nhất. Trong vài trường hợp, tôi cũng là nhân chứng. Cuộc gặp gỡ giáo sư Hoàng Minh Tuynh dẫn đến Linh mục Thanh Lăng sẽ giúp tôi rất nhiều vào một trong những nghiên cứu lớn nhất của đời tôi: Ủy ban Văn nghệ sĩ -Bị cầm tù 1979-1997 và Trung Tâm Văn bút Việt Nam 1957-1975. Ngoài tài liệu Việt và Anh ngữ, tôi c̣n có may mắn tiếp xúc với 4 nhân chứng thuộc giai đoạn trước 1975 như Mặc Đỗ, Thanh Lăng và Nguyên Sa, Viên Linh vv trong khi chính tôi cũng là một nhân chứng v́ đảm nhận phần vụ Trưởng Ủy ban Văn nghệ sĩ-Bị cầm tù.

 

Đằng khác, một điều thậm phần khó khăn mà tôi phải đối đầu khi sử dụng phương pháp này là vấn đề đánh giá một nhân chứng. Thứ nhất, một số nhân chứng rất đao to búa lớn về hoạt động của họ trong khi thực lực không hề phản ảnh sự đao to búa lớn đó. Người nghiên cứu cần quen biết người đồng thời để xác định, nhưng dĩ nhiên t́m được tới những người đồng thời đó không dễ; hay có t́m được, họ cũng không muốn chính thức bầy tỏ ư kiến. Nhưng như thế cũng đă đủ để tôi không bao giờ cho họ một cơ hội xuất hiện trong nghiên cứu của tôi.  Thứ hai, có thể là tôi sai, nhưng luôn luôn có một sự vận động ngầm ngay từ chính vài nhân chứng-nhà văn để nâng vị trí họ lên quá mức. Tôi không bao giờ phản bác những nhà phê b́nh khác khi đọc những lời tuyên dương nồng hậu này v́ tôn trọng quyền phát biểu của họ, nhưng tôi có quyền đưa ra nhận định về nhân chứng-nhà văn đó, cũng thường là một thái độ không-nhắc-đến hay chỉ nhắc đến vừa đủ trong lănh vực mà tôi cần.

 

Mấy thí dụ thượng dẫn cho thấy lư do vài nhà phê b́nh tại hải ngoại đă không vượt qua được ngay từ mấy thử thách sơ khởi đó cho dù có hay "không được huấn luyện phê b́nh văn học một cách chuyên môn". Tôi theo tôn chỉ: Đường đời lặng lẽ bước tiên/ Ngờ đâu chân đạp lên trên (vài) khối.. (phê) b́nh. Hiện nay c̣n lạm phát loại nhà-phê-b́nh tài tử giới thiệu một cuốn sách mới xuất bản. Nhưng h́nh như độc giả và chính họ cũng biết thế nên bèn có t́nh trạng "một phe ta viết, nhiều phe ta điểm sách, hiếm phe ta đọc". Nói cho ngay, chính ḿnh có học được  bài học nào để tránh cái vấp phạm ấy không mới đáng kể. Tôi đă đọc những bài tựa bạt của vài tác gia Miền Nam giới thiệu những ngôi sao mới lên. Tôi cũng được, sau đó, chứng kiến các ngôi sao mới lên ấy, sau khi phất, phát biểu về ḿnh và người khác ra sao. Thế nên, t́nh trạng lạm phát nhà phê b́nh thời nào cũng có.

 

Nhưng tựu chung, trả lời một câu hỏi như thế này không phải dễ. Tôi sẽ phân tích chi tiết hơn ở câu hỏi dưới.

 

(c̣n tiếp)

 

http://www.gio-o.com/NguyenTaCuc.html

 

 

© gio-o.com 2018