
nhà thơ Nguyễn Chí Thiện và Lâm Văn Sang
lâm văn sang
cho đến khi chiều xuống
phóng sự
Trưa thứ Bảy, 27 tháng Mười, thêm một quyển sách được tung ra thị trường chữ nghĩa Việt Nam ở hải ngoại tại San Jose. Lần này là cuốn “Cơ Sở Tư Tưởng Thời Quá Độ” của ông Đặng Phùng Quân. Một tác phẩm được mang ra mắt có tạo khác biệt hay không giữa các thể loại, giữa một quyển sách triết và những quyển sách thơ, văn, hồi ký...?
Mười một giờ trưa, hắn nhận cú điện thoại của tác giả cho biết đã tới San Jose. Một giờ, hắn có mặt ở trung tâm VIVO cho chương trình chỉ bắt đầu một tiếng đồng hồ sau đó. Những cái e-mail hắn đã gửi đi nhiều lần trong tuần cho đa số người nhận hắn không biết là ai, hai lần cho hai ngày thứ Sáu và Bảy để thông báo về buổi ra mắt sách. Dăm ba người lịch sự trả lời.
Hai giờ thiếu mười lăm, hắn bước vào cửa văn phòng VIVO, lo ngại, bước trở ra ngoài bốc điện thoại kêu gọi lung tung. Lúc đó, Đặng Phùng Quân và Đào Trung Đạo đến, khệ nệ bưng sách vào. Kể từ đó, hắn biết mọi chuyện coi như xong dù không biết rõ lắm xong như thế nào. Mây Lan hay Nguyễn Tường Tâm tới trước? Còn những người khác hắn biết, ai trước, ai sau? Hắn chỉ biết trong vòng đa số thân quen đó hắn không phải là duy nhất bất ngờ.
Bên cạnh cái bất ngờ của những người chưa bao giờ xuất hiện trong sinh hoạt cộng đồng, còn có cái bất ngờ của người không bao giờ chịu có mặt đồng thời với sự có mặt của một người khác...
Hắn nhìn thấy lại toàn bộ ban biên tập của tờ báo Tự Do trên đảo tỵ nạn Galant năm 1980: Hoàng Lý Văn, Lý Khánh Hồng, Tưởng Năng Tiến, Đặng Phùng Quân. Ban biên tập, hắn còn nhớ, đã từng thách thức yêu cầu phi chính trị của Cha Dominici, người chủ trương và trả lương cho anh em, để thà từ nhiệm hơn để mất tự do ngôn luận, một lần nữa.
Hắn cũng gặp lại người trong ban biên tập của tạp chí Nhân Văn của thập niên 1980 ở San Jose: Hoàng Lý Văn, Tưởng Năng Tiến, Tường Vũ Anh Thy, Phạm Việt Cường, Vũ Hữu Dũng. Còn ai nữa? Có bao giờ người ta gặp bốn chị em nhà họ Lê xuất hiện cùng lúc chưa? Vâng, Lê thị Quế Hương, Mây Lan, Lê Thị Huệ, Lê Thị Thấm Vân đã đến đó. Còn những người chưa bao giờ có mặt hoặc ít khi có mặt? Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Hữu Liêm, Vũ Quỳnh Hương, Lưu Hy Lạc, Hà Cẩm Tâm, Huệ Thu, Ấu Tím cũng đến đó.

Ông Ngô Đức Diễm vào giờ phút chót đã quyết định hoãn lại chuyến đi xa để ở lại mời mọi người đôi ba ly rượu vang do ông cung cấp và đọc lời chào mừng khá triết lý trong đó ông vẽ ra một thế giới khác có “triết nhân là kẻ đi tìm mà không bao giờ nghĩ mình sẽ tìm thấy,” có “những câu hỏi không bao giờ có câu trả lời chung quyết” và có “những khởi đầu không bao giờ có kết cuộc.” Ông nhìn ra một Đặng Phùng Quân như “người lữ hành cô đơn, rung lên tiếng chông để đánh thức con người trở về với chính mình.” Ông “cám ơn Đặng Phùng Quân đã cho chúng tôi một giây phút lẻ loi nhưng thật ý nghĩa trong cuộc đời.” Ông nói như một nhà văn muốn làm đẹp cuộc đời bằng chữ nghĩa. Ông cũng nói như một nhà thơ chịu khó trau chuốt ngôn từ. Ông từng học triết, dạy triết nhưng dường như đã không còn tin vào những gì đã học, đã dạy. Ông đặt triết lý vào thế giới “bên lề” và “nhức đầu” khi nghe những tên tuổi như Socrates, Plato, Aristotle, Descartes, Husserl, Derrida, Hồ Thích. Ông nói như một nhà hoài nghi chủ nghĩa đích thực.
Ông Nguyễn Tường Tâm lên diễn đàn xin lỗi mặt đỏ dù ông chỉ uống một ly. Ông trình bày tiểu sử tác giả ngắn gọn nhưng khá đầy đủ. Bên cạnh những chi tiết về con người và tác phẩm, ông đã chịu khó hỏi thăm, tìm tòi để đi đến những nhận xét từ bè bạn của tác giả mô tả Đặng Phùng Quân như “một con người đàng hoàng, lịch sự và đi trên mây.” Ông đọc bài viết, bài phỏng vấn của tác giả để đi đến chân dung người cầm bút có tên Đặng Phùng Quân là người “không thích lối văn tự sự, kể chuyện đơn thuần,” có chủ trương “không thể có tìm kiếm nếu không có tự do và nhà văn không thể sáng tác trong một nền văn chương bị chỉ đạo như ở trong nước, mà trong đó, theo ông, người viết chỉ là những cán bộ trong biên chế được lĩnh lương.” Cũng nhờ ông, người ta biết tác giả hiện đang xúc tiến nghiên cứu đề án “Phê Phán Lý Trí Văn Chương.” Ông nói tỉnh táo và say mê với những điều mới khám phá.
Ông Đào Trung Đạo lên diễn đàn với một chồng giấy lớn của bài nói chuyện ông đã in sẵn để phát cho từng người. Và ông đã nói một cách nào đó ở ngoài văn bản đã được soạn thảo. Ông muốn nói để “đẩy buổi chiều hạnh phúc đến những gì tươi vui hơn.” Ông bắt đầu bằng trả lời câu hỏi cho tựa bài ông đã soạn “Tái Khai Minh.” Tựa bài đó là một cách nói theo triết gia Kant, người mở đầu cho phong trào khai minh ở châu Âu. “Chúng ta cần tái khai minh bởi vì tư tưởng Việt Nam ở trong chỗ u tối quá lâu” và “sách vở triết lý, tư tưởng Việt Nam quá lạc hậu, tụt hậu.”
Ông muốn trình bày vấn đề “thật đơn giản” cho một vấn đề không đơn giản. Ông nói trước tiên “triết lý không phải là sự hiểu biết” giống như toán học, vật lý hay các khoa học tự nhiên. Ông đi đến một định nghĩa khác: “Triết lý chính là đời sống ở mức độ cao.” Ông tiếp tục những cái “là” khác: là tự do định hướng, là tinh thần khai minh, là định hướng cho mình. Trong tay cầm Kant, Hegel, Heidegger, hay Marx, tán tụng họ rồi bảo đây là con đường chúng ta phải theo, theo ông, là “thái độ nô lệ.” Một lúc sau, ông yêu cầu “Xin đừng ai thiết lập một định nghĩa nào cho triết học vì vô ích và ngộ nhận.”
Ngồi bên dưới, hắn vô cùng lo lắng cho số phận của những định nghĩa triết học đã viết ra nhiều nơi đâu đó và trong những quyển tự điển và bách khoa tự điển về triết học. Ở đâu đó, có phải đây là thí dụ điển hình của sự khác biệt giữa triết học lục địa và triết học phân tích?
Ông đi tới giải thích thế nào là thời quá độ. Đó là thời không còn triết lý nữa ở cuối thế kỷ 20. Cái gì đầy tràn quá, vung vải quá là thời quá độ. Ông đồng ý với triết gia Pháp Alain Badiou coi Martin Heidegger là triết gia sau cùng.
Ngồi bên dưới, hắn tự hỏi có phải khi xác quyết về cái chết của triết học buộc người ta phải đi đến chỗ xác định triết gia cuối cùng như một điều thuận lý? Ông Alain Badiou có phải là người duy ý chí khi quyết định điều này? Hay ông chỉ nói để trình bày một điều gì khác sau đó? Thật ra, tại sao điều ông nói mới đủ thẩm quyền, mới quan trọng cần phóng lớn?1
Người trình bày, ông Đào Trung Đạo, đi đến chuyện “cơ sở” theo “bạn tôi [Đặng Phùng Quân] đề nghị là hiện thực đời sống thông qua lao động” mà “trong tiếng chuyên môn chúng tôi gọi là ‘đi tìm một hữu thể học hiện thực.” Hành trình tư tưởng của Đặng Phùng Quân, theo ông Đạo, đã đi từ Hegel qua Husserl, rồi Heidegger và cuối cùng tới Nicolai Hartmann (trong sách còn có thêm tên của Habermas). Tất cả đều có chữ “H” đi đầu. Ông Đạo cho rằng “đây có lẽ là thời chúng ta ca hát.” Ông nói sơ lược về Hartmann, là người đi từ phân tích nan đề (phản lý, phạm trù) để cuối cùng đi tới đời sống và lao động.
Ngồi bên dưới, hắn thở ra nhẹ nhỏm. Mọi chuyện đều có lý do của nó. Chúng ta không phải chỉ có Đào Trung Đạo và Đặng Phùng Quân, phía sau họ còn có Badiou và Hartmann.
Cô Mây Lan giới thiệu xong, hắn bước lên với đề tài “Đọc Ngoài Tác Phẩm” và bằng câu hỏi: Người ta có thể đọc ngoài tác phẩm được hay không? Câu trả lời: Người ta vẫn thường xuyên đọc ngoài tác phẩm. Từ bao giờ người ta khám phá ra điều này? Từ khái niệm về cái chết của tác giả và từ sự khai sinh của khái niệm độc giả. Tác giả là người viết ra tác phẩm; độc giả là người viết tiếp tác phẩm trong khi đọc. Tương tự như viết là tạo ra xương cốt, đọc là tô bồi thêm da thịt. Đọc là một thao tác tinh thần bao gồm nhiều vận động. Đọc là nhớ lại (từ điều đã học, từ điều đã đọc). Đọc còn là tưởng tượng thêm vào (vốn không hiện hữu, ở ngoài kinh nghiệm – chưa có kinh nghiệm, kinh nghiệm đang hình thành – không bị giới hạn bởi văn bản đang đọc, ở ngoài tác phẩm đang đọc...)
Bùi Giáng đọc “Trăm năm trong cõi người ta” để viết tiếp câu bát “Ấy từ tính mệnh yêu là yêu nhau.” Câu đầu của Truyện Kiều đó của Nguyễn Du còn trở thành hai câu lục bát khác của Bùi Giáng: “Cõi người ta! Cõi người ta / Thâm thu quý tiết hoàng hoa đằm đìa.”
Philip Roth viết “The Breast” sau khi đọc qua “The Nose” của Gogol và “Metamorphosis” của Kafka.
“Như thế đọc một cách nào đó luôn luôn dẫn tới sự thành hình trong tưởng tượng một văn bản khác, một tác phẩm chưa viết ra, không hẳn sẽ được viết ra và cũng không cần phải viết ra. Ở đây, tôi chỉ muốn nói: đọc ngoài văn bản là chuyện bình thường có thật. Cảm hứng có thể là một tên gọi khác cho hành vi (đọc ngoài văn bản) này.”
Nhìn xuống bên dưới, nghe tiếng nói mình vọng ngược lại, hắn chợt nghĩ ra điều nghịch lý. Từ lâu hắn đã không tin vào chữ nghĩa. Bây giờ hắn đang tìm cách thuyết phục người khác tin vào điều hắn không còn tin tưởng. Ý tưởng đó xẹt ngang qua đầu khiến hắn choáng váng, run tay.
Hắn nói tiếp, hắn chỉ muốn nói một điều: chúng ta cần có một cuốn tự điển cho ngôn ngữ triết học. Khi người ta nói đọc sách triết bằng tiếng nước ngoài dễ hiểu hơn đọc sách triết tiếng Việt, rõ ràng chúng ta đang có vấn đề. Giải quyết vấn đề cách nào đây? Một quyển tự điển theo kiểu “Dự thảo từ điển triết học giản yếu” do ông Đặng Phùng Quân biên soạn là công trình dài hơn, một nỗ lực đường dài, một cần thiết về sau. Còn trước mắt? Liên mạng là một môi trường tốt có thể làm ngay lập tức một bảng đối chiếu từ ngữ ngắn gọn. Và tại sao những người viết sách triết không để dành ra một vài trang sách cuối cho bảng đối chiếu từ ngữ này?
Ông Đặng Phùng Quân giữ diễn đàn sau cùng. Ông xin nói 10 phút. Và ông đã nói như không nói gì cả. Ông kể chuyện một học giả, kiêm phê bình văn học, kiêm đại gia, kiêm cán bộ cao cấp có dịp đến thành phố nơi ông cư ngụ, bị ông phán “Viện Triết Học các anh có con số không to lớn.” Ông nói viện sĩ được chọn từ “những dũng sĩ diệt Mỹ” thì làm sao không là con số không. Ông nhắc câu nói của Kant: Chúng ta không học gì cả ngoài việc phải biết triết lý, biết tư tưởng. Xứ sở nào không cho phép điều này thì chỉ có một chủ nghĩa thôi.
Khi ông chấm dứt có người bên dưới phàn nàn ông nói chưa đủ 10 phút. Cô Mây Lan giữ ông lại cho phần hỏi đáp.
Đó là phần hỏi đáp sinh động nhất mà hắn được biết từ những năm tháng lang thang ở mấy chỗ ra mắt sách. Ông Đặng Phùng Quân có cách trả lời của một chính trị gia, nghĩa là có khi ông chẳng trả lời gì cả nhưng ông hơn các chính trị gia ở chỗ mọi người đều hài lòng với bất cứ những gì ông đáp trả. Người hỏi thay phiên nhau (Nguyễn Tường Tâm, Ấu Tím, Nguyễn Châu, Huệ Thu, Cao Ánh Nguyệt, Hoa Hoàng Lan) như chỉ để thêm tiếng cười cho đến giờ phút chót.
Có gì khác biệt trong buổi ra mắt sách đó?
Người tham dự đã ở lại cho đến giờ phút chót (cho một buổi nói chuyện khô khan về triết?) và số người chỉ tăng thêm chứ không giảm đi (từ những người ở chỗ ra mắt sách của ông Huy Phương đến như ông Thanh Thương Hoàng, bà Hoa Hoàng Lan...)
Không có những mô tả khuôn sáo, rỗng tuếch (theo kiểumùa thu, lá vàng, một ngày nắng ấm, đẹp trời) của MC. Phải cám ơn Mây Lan về điều này.
Không một âm thanh, tiếng động (nhạc, ca sĩ) nào khác để vực dậy chữ nghĩa ngoài sự xào xạc của ngôn ngữ.2
Nhiều người (có người chưa từng tham dự sinh hoạt này lần nào) nói đó là một buổi ra mắt sách thành công. Hắn không biết có đúng như vậy hay không. Tốt hơn cũng nên ghi lại ý kiến đó ở đây, hắn nghĩ. Để làm gì? Hắn chưa kịp tìm ra lý do.
Lâm Văn Sang
(1) Có hai phán quyết khiến người ta giật mình suy nghĩ lại: không có gì cả ngoạt trừ văn bản (there is nothing but text) của Derrida và không có gì cả ngoại trừ diễn giải (there is nothing but interpretation) của Foucault. Những điều ghi lại dưới đây có liên hệ đến hai phán quyết đó.
Bài nói chuyện của ông ĐàoTrung Đạo (bản in) có đoạn thế này:
“Alain Badiou (trong L’Être et l’événement) đưa ra một tóm lược về tình trạng triết học với ba lời ‘xướng’ (phát biểu) như sau:
1. Heidegger là triết gia cuối cùng theo sự nhìn nhận được nhiều người đồng ý.
2. Diện mạo của sự hữu lý khoa học được bảo lưu như kiểu mẫu, bằng cách thế chủ trì, bởi những công cụ (dispositifs) của tư tưởng, nhất là của người Mỹ, những công cụ này theo sau những hoán chuyển của toán học, luận lý học và những công trình của trường phái Vienne.
3. Một học thuyết hậu-Descartes về chủ thể đang trên đường khai mở, học thuyết này có nguồn gốc có thẻ tìm thấy nơi những thực hành phi triết học (trong chính trị, hay trong tương quan được thiết định cho “những bệnh tâm thần”). và chế độ diễn giải tương quan này được đánh dấu bằng những tên tuổi của Marx (và của Lénin), của Freud (và của Lacan), được du nhập chồng chéo nhau trong những hoạt động trị liệu lâm sàng hay quân sự, những hoạt động này vượt quá diễn ngôn có thể chuyển tải được.”
Đoạn văn này trích từ phần Dẫn Nhập vào tác phẩm nói trên của Badiou. Nói rõ hơn, chỉ có những phân đoạn khởi đầu bằng 1, 2, 3 mới đích thực của Badiou (ở đây bản dịch từ tiếng Pháp). Ý tưởng đó của ai, tác giả không nói. Trước ba lời xướng đó, trong bản tiếng Anh tôi có do Oliver Feltham dịch từ tiếng Pháp (New York: Continuum, 2007) là câu:
“Let’s premise the analysis of the current global state of philosophy on the following three assumptions:”
Đó là phát biểu không chắc chắn, chỉ giả định (assumption: [Logic] unproved starting point, theo tự điển Encarta).
Đoạn văn kế tiếp, cũng được viết tiếp theo ý của Badiou, nhưng không được ông Đạo dịch trực tiếp:
“Theo Badiou, những phát biểu này có một điểm chung là cùng nói lên sự khép lại (clôture) của toàn thể một thời đại tư tưởng. Ba định hướng: Heidegger chỉ ra sự chấm dứt của siêu-hình-học và kêu gọi trở về uyên nguyên tư tưởng Hy-Lạp; Marx tuyên bố chấm dứt triết lý và hướng về thực tiễn; Lacan nói về một “phản-triết-học”; hai định hướng đầu là từ Châu Âu (Lục địa) còn định hướng thứ ba là từ khối Anh-Mỹ với triết học hậu-phân tích.”
Tôi cho câu này là điển hình của sự diễn giải từ văn bản của Badiou. Diễn giải là một trục hai cực: cực tiểu là diễn giải tối thiểu (underinterpretation), cực đại là diễn giải tối đa (overinterpretation). Đi vào con đường diễn giải người ta dễ đi vào sự cùng cực cũng như dễ sa vào lỗi lầm lớn nhất là diễn giải sai (misinterpretation).
Badiou viết thế này: (số trong ngoặc vuông do tôi thêm vào)
“[4] Heidegger thinks the epoch is ruled by an inaugural forgetting and proposes a Greek return in his deconstruction of metaphysics. [5] The ‘analytic’ current of English-language philosophy discounts most of classical philosophy’s propositions as senseless, or as limited to the exercise of a language game. [6] Marx announces the end of philosophy and its realization in practice. Lacan speaks of ‘antiphilosophy’, and relegates speculative totalization to the imaginary.”
Đoạn này của Badiou đã bị ông Đạo diễn giải sai. Ông viết lại theo ý mình và đặt chữ vào miệng Badiou (ông dùng chữ “Theo Badiou” ở đây). Trước hết,
A. Heidegger không “chỉ ra sự chấm dứt của siêu-hình-học” như ông Đào Trung Đạo nói mà chỉ “đề nghị trở về với Hy Lạp trong giải cấu trúc về siêu hình học của ông.”
Kế tiếp,
B. Ông Đạo xếp “Hai định hướng đầu” (1 và 2) vào châu Âu lục địa và “định hướng thứ ba” (3) vào khối Anh-Mỹ rõ ràng không đúng. Xét lại cả hai phần trích dẫn (phần đầu của ông Đạo dịch và phần sau, bản tiếng Anh) cho thấy Badiou muốn dùng 4, 5 và 6 để làm rõ thêm điều ông muốn nói theo thứ tự ở 1, 2, 3. Nếu muốn nói theo kiểu “định hướng” ông Đạo lẽ ra phải sắp, theo đúng ý của Badiou, 1, 4 vào triết học Âu châu lục địa; 2, 5 vào triết học phân tích của Anh-Mỹ; và 3, 6 là “học thuyết hậu Descartes về chủ thể” theo bản dịch của ông.
Sau cùng,
C. Nếu ông Đào Trung Đạo chịu khó đọc tiếp thêm vài phân đoạn nữa, ông sẽ hiểu ra ý định của Badiou khi ông bắt đầu nói đến “My own intervention in this conjucture...” là thế này:
“– Along with Heidegger, it will be maintained that philosophy as such can only be re-assigned on the basis of the ontological question.
– Along with analytic philosophy, it will be held that the mathematico-logical revolution of Frege-Cantor sets new orientations for thought.
– Finally, it will be agreed that no conceptual apparatus is adequate unless it is homogeneous with the theotico-practical orientations of the modern doctrine of the subject, itself internal to practical processes (clinical or political).”
Badiou bắt đầu dùng chữ định hướng mới (new orientations) kể từ đây theo cách nhìn (diễn giải) của riêng ông về triết học.
(2) Mượn chữ từ tựa sách tiếng Anh của Roland Barthes, The rustle of language)
minh hoạ của Hà Cẩm Tâm
Lâm Văn Sang hiện chủ biên trang www.nhanvan.com